ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ LÂM
PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ THỤ LÝ VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ LÂM
PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ THỤ LÝ VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lí luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. PHẠM HỒNG THÁI
HÀ NỘI - 2015
1.2.1. Cơ sở lí luận............................... Error! Bookmark not defined.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn ........................... Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG II. CĂN CỨ THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Error! Bookmark not defined.
2.1. Trƣờng hợp ngƣời khởi kiện không có quyền khởi kiện ..... Error!
Bookmark not defined.
2.2. Trƣờng hợp ngƣời khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố
tụng hành chính ..................................... Error! Bookmark not defined.
2.3. Trƣờng hợp thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lí do chính đáng
.................................................................. Error! Bookmark not defined.
2.4. Trƣờng hợp chƣa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính
.................................................................. Error! Bookmark not defined.
2.5. Trƣờng hợp sự việc đã đƣợc giải quyết bằng bản án hoặc quyết
định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật .......... Error! Bookmark not
defined.
2.6. Trƣờng hợp sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
.................................................................. Error! Bookmark not defined.
2.7. Trƣờng hợp ngƣời khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ
tục giải quyết khiếu nại trong trƣờng hợp quy định tại Điều 31 của
Luật Tố tụng hành chính năm 2010 ..... Error! Bookmark not defined.
2.8. Trƣờng hợp đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại
khoản 1 Điều 105 của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 mà không
đƣợc ngƣời khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 108 của
Luật này .................................................. Error! Bookmark not defined.
2.9. Trƣờng hợp hết thời hạn đƣợc thông báo quy định tại khoản 1
Điều 111 của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 mà ngƣời khởi kiện
không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ
trƣờng hợp có lí do chính đáng ............ Error! Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
So với các tài phán khác như tài phán hình sự, tài phán dân sự thì tài
phán hành chính của nước ta còn khá non trẻ. Năm 1996 mô hình toà hành
chính nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân (sau đây viết tắt TAND) ra đời là
bước ngoặt quan trọng đối với nền tài phán hành chính và Luật tố tụng hành
chính được xem là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh đó, ở các quốc gia phát triển trên thế giới thì tài phán hành chính lại
chiếm vị trí rất quan trọng và đã có lịch sử lâu đời. Đặc biệt, với xu thế dân chủ
hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền của thế giới
nói chung và Việt Nam nói riêng thì vai trò của tài phán hành chính phải được
xem là rất quan trọng. Tuy nhiên, vì còn khá mới mẻ và chưa được quan tâm
đúng mức nên nền tài phán hành chính của Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều
khó khăn đòi hỏi phải có những đổi mới trong cả nhận thức và thực tiễn.
Luật Tố tụng hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2010, có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/7/2011 là một dấu mốc quan trọng trong quá trình
không ngừng mở rộng dân chủ, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Đây là
văn bản Luật đầu tiên điều chỉnh hoạt động tố tụng hành chính, có hiệu lực
pháp lý cao, tạo cơ sở thuận lợi cho việc giải quyết các vụ án hành chính tại
tòa án cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Một
trong những thay đổi quan trọng của Luật là quy định về thụ lý vụ án hành
chính, đặc biệt về căn cứ thụ lý vụ án hành chính. Trong đó, điều kiện khởi
kiện của người dân đã được mở rộng hơn trước rất nhiều, tạo điều kiện tốt
hơn trong việc bảo vệ quyền công dân, quyền con người tuy nhiên cũng mở ra
những khó khăn, thách thức lớn đối với các cơ quan nhà nước nhất là Tòa án
trong việc đảm bảo các quyền đó được thực hiện trên thực tế.
1
2
như: Luật Tố tụng Hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tổ
chức tòa án nhân dân năm 2014 thì các công trình nghiên cứu trước đây đã có
nhiều nội dung đã lạc hậu so với những thay đổi gần đây về quan điểm lập
pháp , thực tiễn quy định của pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về thụ
lý vụ án hành chính và các căn cứ thụ lý vụ án hành chính.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn Đề tài: “Pháp luật về
căn cứ thụ lý vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay” làm Luận văn Thạc
sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Vấn đề tài phán hành chính đã được quan tâm, chú trọng từ đầu những
năm 1990, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với quy mô khác nhau về
vấn đề này. Năm 1996 mô hình toà hành chính nằm trong hệ thống TAND ra
đời và từ đó cho đến nay các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung giải
quyết các vấn đề về tổ chức, hoạt động của Tòa Hành chính, thẩm quyền giải
quyết các khiếu kiện hành chính. Có thể kể đến một số luận án tiến sĩ như:
Luận án tiến sĩ của Hoàng Quốc Hồng: Đổi mới tổ chức và hoạt động
của Tòa hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam hiện nay, bảo vệ năm 2007; Luận án tiến sĩ của Trần Kim Liễu: Tòa
hành chính trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,
do dân, vì dân, bảo vệ năm 2011. Các luận án này nghiên cứu những vấn đề
lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Tòa Hành chính trong yêu
cầu về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì
dân đồng thời đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và
hoạt động của Tòa hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Bình: Thẩm quyền của Tòa án nhân
dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, bảo vệ năm 2003: Luận
xử hành chính, thẩm quyền xét xử hành chính; đánh giá những quy định của
4
pháp luật hiện hành ở thời điểm nghiên cứu về đối tượng của xét xử hành
chính, thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam đồng thời đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện các quy định này và nâng cao hiệu quả của công tác xét
xử hành chính.
Ngoài ra cũng phải kể đến một số bài báo khoa học có liên quan như:
“Bảo đảm quyền khiếu kiện hành chính và vấn đề tiền tố tụng hành chính”,
của Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Tạp chí Nghề luật năm 2007, “Thời hiệu
khởi kiện vụ án hành chính- Nhìn từ yêu cầu an toàn pháp lý”, của Nguyễn
Hoàng Anh, Nghiên cứu lập pháp số 13(150) năm 2009; “Bàn về một số đổi
mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính tại Việt Nam hiện nay”, của Thạc
sĩ Nguyễn Thắng Lợi, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề về Luật
tố tụng hành chính năm 2011),…
Như vậy, chưa có công trình nghiên cứu nào đặc biệt với quy mô luận
văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề về các căn cứ thụ lý vụ án hành chính ở Việt
Nam hiện nay.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các quy định của pháp luật và thực
tiễn áp dụng pháp luật về căn cứ thụ lý vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm.
Trong khuôn khổ hạn chế của Luận văn, Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khái
quát về căn cứ thụ lý vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm, tìm hiểu những
hạn chế trong các quy định của pháp luật cũng như những khó khăn, vướng
mắc trong việc áp dụng những quy định pháp luật vào thực tiễn để đưa ra
những giải pháp hoàn thiện pháp luật về các căn cứ thụ lý vụ án hành chính
theo thủ tục sơ thẩm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
(Số: 200/BC-CP), ngày 12/10/2011.
11. Chính phủ, “Báo cáo Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2012”,
(Số: 223/BC-CP), ngày 14/09/2012.
6
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, “Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 09/01/2011.
13. Trương Thanh Đức, “Luật tốt, dân không ngại đến Tòa” (2010), Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 21, tháng 11/2010, tr. 30-36.
14. TS. Hoàng Ngọc Giao - Chủ biên, Viện nghiên cứu chính sách pháp luật
và phát triển (2009), “Cơ chế giải quyết khiếu nại - Thực trạng và giải
pháp”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
15. Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao, “Nghị quyết Hướng dẫn
thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010”, số
02/2011/NQ-HĐTP Ngày 29 tháng 7 năm 2011.
16. Hoàng Quốc Hồng (2007), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà hành
chính đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện
nay”, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
17. Nguyễn Mạnh Hùng (2002), “Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án
nhân dân”, luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
18. Nguyễn Mạnh Hùng, “Phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành
chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam”, luận án tiến sỹ luật
học bảo vệ năm 2014
19. ThS. Nguyễn Mạnh Hùng (2007), “Bảo đảm quyền khiếu kiện hành chính
và vấn đề tiền tố tụng hành chính”, Tạp chí Nghề luật, (3), tr. 29-33.
20. ThS. Nguyễn Mạnh Hùng (2011), “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành
chính theo Luật Tố tụng hành chính - Sự kế thừa, phát triển và những nội
dung cần tiếp tục được hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, (9), tr. 33-39.
21, tháng 11/2010, tr. 26-29.
33. ThS. Hoàng Văn Sao và GV. Nguyễn Phúc Thành - Chủ biên, Trường
Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt
Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
8
34. Phạm Hồng Thái (2011) “Quyết định hành chính, hành vi hành chính –
Đối tượng xét xử hành chính của Toà án”, Nxb Tổng hợp Đồng Nai.
35. TS. Nguyễn Thị Thuỷ (2011), “Những điểm mới về khởi kiện vụ án hành
chính trong lĩnh vực đất đai theo Luật Tố tụng hành chính”, Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề về Luật tố tụng hành chính), tr. 88-99.
36. ThS. Nguyễn Thị Thủy, “Quyền khởi kiện và vấn đề xác định người khởi
kiện trong vụ án hành chính”, Tạp chí Luật học số 4/2005, tr. 44-50.
37. ThS. Nguyễn Thị Thủy, “Tiền tố tụng hành chính – Thủ tục bắt buộc
trước khi khởi kiện hành chính”, Tạp chí Luật học số 10/2007, tr. 40-46.
38. Tòa án nhân dân tối cao, “Báo cáo Tổng kết thực tiễn 12 năm hoạt động
giải quyết các vụ án hành chính của Ngành Toà án nhân dân, số
210/TANDTC ngày 18/11/2009 của Toà án nhân dân tối cao.
39. Tòa án nhân dân tối cao, “Báo cáo Tổng kết công tác năm 2008 và triển
khai nhiệm vụ công tác năm 2009 của Ngành Toà án nhân dân”, Số
22/BC-TA, ngày 04/12/2008.
40. Tòa án nhân dân tối cao, “Báo cáo Tổng kết công tác năm 2009 và triển
khai nhiệm vụ công tác năm 2010 của Ngành Toà án nhân dân”, Số
01/BC-TA, ngày 22/01/2010.
41. Tòa án nhân dân tối cao, “Báo cáo Tổng kết công tác năm 2010 và triển
khai nhiệm vụ công tác năm 2011 của Ngành Toà án nhân dân”, Số
01/BC-TA, ngày 04/01/2011.
42. Tòa án nhân dân tối cao, “Báo cáo Tổng kết công tác năm 2011 và triển