VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HÀ
THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HÀ
THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành
chính Mã số: 9380102
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG VĂN TÚ
Hà Nội - 2019
2.3. Các yếu tố tác động đến thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành
chính... 51
Chương 3: THỰC TRẠNG THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................57
3.1.
Pháp luật thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính ở Việt Nam
hiện nay
3.2.
57
Hoạt động thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính ở Việt Nam
hiện nay
81
3.3. Thực trạng các yếu tố tác động đến thi hành bản án, quyết định của Toà án về
vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay ......................................................................103
3.4.
Đánh giá chung thực trạng thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành
chính ở Việt Nam hiện nay .....................................................................................................114
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ THI HÀNH BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM ......120
4.1.
TGGQKN
Trung gian giải quyết khiếu nại
THADS
Thi hành án dân sự
THAHC
Thi hành án hành chính
THAHS
Thi hành án hình sự
TTGQ
Thủ tục giải quyết
TTHC
Tố tụng hành chính
TTPBGDPL
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
UBND
1
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực luôn được xem là biểu hiện của
nền công lý ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Bởi qua bản án, quyết định đó
người dân nhận được lẽ phải, sự công bằng mà họ tìm kiếm và chờ đợi trong
suốt quá trình giải quyết vụ án. Tại Việt Nam, bảo đảm thi hành bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (còn gọi là thi hành án) là một nguyên
tắc hiến định và một yêu cầu quan trọng trong chủ trương cải cách nền tư pháp.
Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hình sự (gọi là thi hành án hình
sự (THAHS); thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án dân sự (gọi là thi
hành án dân sự (THADS) và thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành
chính (gọi là thi hành án hành chính (THAHC) hiện là ba lĩnh vực thi hành án cơ
bản. Đối tượng của THADS là các quyết định dân sự mang tính chất tài sản và
nhân thân. Trong THAHS, đối tượng thi hành án là hình phạt và các biện pháp tư
pháp khác. Riêng đối tượng của THAHC là các quyết định liên quan đến các cơ
quan nhà nước mà chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước. Như vậy, vị trí,
mối quan hệ giữa cơ quan THAHC với người phải THAHC; tính chủ động, tính hiện
thực trong việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án là một vấn đề không dễ
dàng giải quyết.
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết (TTGQ) các vụ án hành chính (VAHC) năm
1996 là văn bản pháp lý đầu tiên đặt ra vấn đề THAHC. Sau đó, nội dung về
THAHC được quy định cụ thể, đầy đủ hơn và bổ sung quyền hạn đôn đốc THAHC
của Cơ quan THADS tại Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2010. Thực tiễn thi
hành mặc dù đạt được những kết quả nhất định song cũng phát sinh khá nhiều
khó khăn, vướng mắc từ chính cơ chế đôn đốc thi hành án. Hơn 5 năm sau, Luật
TTHC năm 2015 được Quốc hội thông qua, cơ chế thi hành án được thay đổi,
nâng tầm của cơ quan tư pháp bằng Quyết định buộc thi hành án của Tòa án
đã xét xử sơ thẩm VAHC đó. Tuy nhiên, theo báo cáo của cơ quan quản lý thi hành
án cho thấy, tỷ lệ các bản án, quyết định của Tòa án về VAHC đã được thi hành vẫn
Ngoài ra, trong khả năng tiếp cận của tác giả, số lượng các công trình khoa
học về THAHC, đặc biệt được nghiên cứu trong giai đoạn Luật TTHC năm 2015 có
hiệu lực thi hành là không nhiều. Đồng thời, tại các cơ sở đào tạo Luật uy tín trong
nước hiện nay, việc giảng dạy môn học Luật về THAHC còn khá hạn chế. Đa số tại
các trường nội dung về THAHC được lồng ghép trong môn học Luật TTHC mà
chưa trở thành môn học riêng biệt như Luật THAHS hay Luật THADS.
Những điều trình bày trên đây là lý do, lập luận cho lựa chọn nghiên cứu:
“Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính ở Việt Nam hiện
nay” làm đề tài cho Luận án Tiến sĩ Luật học.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài có mục đích xây dựng luận cứ khoa học nhằm bảo đảm hiệu quả
thi hành bản án, quyết định của Tòa án về VAHC ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, Luận án có các nhiệm vụ sau đây: (1) Làm
sáng tỏ những vấn đề lý luận về THAHC gồm bản chất, khái niệm, đặc điểm, vai trò
và các yếu tố tác động đến THAHC; (2) Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn
hoạt động THAHC ở Việt Nam hiện nay; (3) Xác định quan điểm và đề xuất những
giải pháp đảm bảo hiệu quả THAHC tại Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và hành lang pháp lý về thi hành án nói chung và
THAHC nói riêng ở Việt Nam; có sự so sánh, đối chiếu với lĩnh vực THADS và
THAHS.
- Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn kinh nghiệm về THAHC của một số
quốc gia trên thế giới.
- Số liệu và hiện trạng về THAHC ở Việt Nam nói chung, đặc biệt ở những địa
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa (XHCN) được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện Luận án,
trong đó tập trung vào những vấn đề như: (1) nguyên tắc độc lập của các cơ quan
tư pháp, đặc biệt là Toà án; (2) vai trò quan trọng của thi hành án nói chung
và THAHC nói riêng đối với việc thực thi công lý; (3) tinh thần thượng tôn pháp
luật trong mọi trường hợp, đối với mọi chủ thể dù đó là cơ quan công quyền hay
bất kỳ cá nhân nào.
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được tác giả sử dụng
để luận giải hầu hết những nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án, sâu sắc nhất phải kể
đến những nghiên cứu về thực trạng pháp luật THAHC và thực tiễn hoạt động
THAHC qua các giai đoạn phát triển của pháp luật TTHC. Để có được những đánh
giá khách quan tác giả luôn đặt thực trạng những quy định và thực tiễn áp dụng
những quy định của pháp luật THAHC vào đúng bối cảnh đã ban hành và áp
dụng thực hiện chúng trên thực tế.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng trong tất cả các chương của Luận
án. Phân tích để làm rõ những vấn đề về lý luận, về thực trạng pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật THAHC thời gian qua; chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế để từ đó
6
tổng hợp, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp bảo đảm hiệu quả
công tác THAHC ở Việt Nam hiện nay.
7
túc, toàn diện về thi hành bản án, quyết định của Toà án về VAHC trong điều kiện
cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
với những đóng góp mới sau:
8
Thứ nhất, phân tích khá toàn diện những vấn đề lý luận như khái niệm,
bản chất, đặc điểm của THAHC, khẳng định THAHC là dạng hoạt động hành chính –
tư pháp với tính hành chính nổi bật hơn so với tính tư pháp. Xác lập vai trò
của THAHC đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó đặc biệt
nhấn mạnh vai trò của THAHC trong kiểm soát quyền lực nhà nước, đặc biệt
giữa cơ quan tư pháp đối với cơ quan hành pháp. Làm rõ hơn về cơ chế THAHC và
các yếu tố tác động đến hiệu quả THAHC dưới góc độ lý luận.
Thứ hai, trình bày cụ thể những quy định của pháp luật THAHC hiện hành
quy định tại Luật TTHC năm 2015 về chủ thể, đối tượng, thủ tục và các biện pháp
bảo đảm THAHC. Từ đó, nêu ra những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật
THAHC giai đoạn hiện nay đặt trong sự so sánh với những quy định của Luật
TTHC năm 2010 và pháp luật THAHC của một số quốc gia trên thế giới.
Thứ ba, đánh giá thực tiễn hoạt động THAHC ở nước ta thời gian qua, đặc
biệt nhấn mạnh cho giai đoạn khi Luật TTHC năm 2015 có hiệu lực thi hành. Việc
đánh giá này được thực hiện từ những nội dung sau: kết quả giải quyết VAHC tại
TAND các cấp so sánh với kết quả THAHC; so sánh giữa tình trạng người dân lựa
chọn giải pháp khiếu nại tại các cơ quan hành chính với việc khởi kiện tại TAND; kết
quả thực hiện trách nhiệm theo dõi THAHC so sánh với kết quả đôn đốc THAHC tại
Cơ quan THADS; kết quả thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với công tác THAHC; kết
quả giám sát THAHC trong đó nhấn mạnh vai trò kiểm sát THAHC của VKSND các
cấp. Từ việc đánh giá kết quả thực hiện những nội dung trên, Luận án xác định
những tồn tại, những khó khăn của công tác THAHC tại Việt Nam hiện nay đồng
thời cũng chỉ ra và phân tích nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan
ảnh hưởng đến hiệu quả THAHC.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Những vấn đề lý luận về thi hành bản án, quyết định của Toà án về
vụ án hành chính
Chương 3. Thực trạng thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án
hành chính ở Việt Nam hiện nay
Chương 4. Quan điểm và giải pháp bảo đảm hiệu quả thi hành bản án,
quyết định của Toà án về vụ án hành chính ở Việt Nam
10
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài luận án
Thi hành án nói chung xét cho cùng là một đề tài không mới tại Việt Nam
cũng như ở các quốc gia khác trên Thế giới, bởi tầm quan trọng của nó trong việc
góp phần bảo vệ hiệu quả các quyền của công dân, đảm bảo các nguyên tắc
pháp quyền trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, xét về cụ thể, nếu
THADS và THAHS là hai lĩnh vực thi hành án có nhiều công trình không chỉ tập
trung về mặt thực tiễn áp dụng mà còn cả trên phương diện lý luận thì những
công trình về THAHC lại có phần hạn chế hơn. Tại Việt Nam, các tác giả chủ yếu
nghiên cứu vào thời điểm khi Pháp lệnh TTGQ các VAHC năm 1996 và Luật TTHC
năm 2010 có hiệu lực thi hành (trước ngày 01/7/2016), giai đoạn sau khi Luật
TTHC năm 2015 có hiệu lực hiện còn khá khiêm tốn. Về pháp luật THAHC tại các
quốc gia trên Thế giới, các tác giả trong và ngoài nước chủ yếu nghiên cứu về
thực trạng pháp luật, nhấn mạnh các biện pháp bảo đảm hiệu quả THAHC từ
đó đưa ra một số kinh nghiệm cần thiết và có thể áp dụng cho Việt Nam. Khía
cạnh lý luận về THAHC vì vậy cũng khá hạn chế.
Song, với tác giả, tất cả những nghiên cứu tại các giai đoạn phát triển của
pháp luật Việt Nam về thi hành án nói chung và THAHC nói riêng hay các nghiên
pháp luật Thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính
trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Chu Thị Hoa (2016), Pháp luật Thi hành
án dân sự trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học
xã hội đồng quan điểm khi luận giải tố tụng là xác định các chứng cứ để khôi phục
lại trạng thái ban đầu của sự việc, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ
việc đã diễn ra theo đúng các quy định của pháp luật và khi có phán quyết của toà
án thì quá trình tố tụng kết thúc. Còn, thi hành án là quá trình tiến hành các
hoạt động nhằm hiện thực các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật. Như vậy, mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thi hành án
là mối quan hệ tổ chức thi hành, có tính hành chính và như vậy thi hành án vừa
mang tính hành chính vừa mang tính tư pháp.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về THAHC,
đặc biệt là về bản chất của hoạt động THAHC
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu về bản chất của hoạt động thi hành
án nói chung của những công trình đi trước, tác giả Trương Hồng Quang (2015),
Khái niệm, bản chất, đặc điểm và những điều kiện ảnh hưởng đến thi hành án
hành chính, Tài liệu Hội thảo khoa học Kinh nghiệm THAHC của một số nước trên
thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Bộ Tư pháp thực hiện, tr. 23-40 và
12
Phạm
13
Xuân Nam (2012), Thi hành án hành chính ở Việt Nam – Thực trạng và phương
hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đều
cho rằng THAHC là giai đoạn xuất hiện sau khi bản án, quyết định giải quyết
VAHC của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, đây không phải là một giai đoạn tố tụng
đặc điểm, ý nghĩa của THAHC, trình tự, thủ tục của hoạt động này; phân biệt giữa
các đối tượng thi hành và làm rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả THAHC.
15
1.1.2. Tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn của đề tài luận án
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực
tiễn áp dụng pháp luật THAHC tại Việt Nam giai đoạn khi Pháp lệnh TTGQ các VAHC
năm 1996 và Luật TTHC năm 2010 có hiệu lực thi hành
Tác giả Nguyễn Văn Tân với bài viết Thi hành án hành chính và những hạn
chế trên Báo Đại biểu nhân dân, ngày 15/9/2009 và Vũ Thị Hằng (2012), Thực
trạng thi hành bản án hành chính, quá trình xây dựng và một số nội dung cơ
bản của Luật Tố tụng hành chính về thi hành án hành chính, Tài liệu tập huấn
nghiệp vụ THAHC, thi hành phần dân sự trong Bản án hình sự và công tác quản lý
dự án xây dựng công trình của Bộ Tư pháp, tr. 1-28 cùng luận bàn những bất
cập của pháp luật THAHC quy định tại Điều 74 Pháp lệnh TTGQ các VAHC năm
1996. Đồng thời, các tác giả cũng nhấn mạnh những hạn chế trong nhận thức của
nhiều cơ quan nhà nước và người dân về thẩm quyền THAHC. Đây là nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong THAHC, việc thi
hành án kém hiệu quả, các khiếu kiện hành chính bị kéo dài, tình trạng án tồn
đọng nhiều bên cạnh những bất cập của pháp luật THAHC giai đoạn này.
Luật TTHC năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 thực sự mang lại
nhiều chuyển biến mới, tích cực hơn trong xét xử các khiếu kiện hành chính và
trong hoạt động THAHC tại nước ta sau những bất cập từ Pháp lệnh TTGQ các
VAHC năm 1996. Cùng với những quy định về giải quyết VAHC tại Toà án, những
nội dung về THAHC được nêu ra trong Luật TTHC được đánh giá là khá hoàn
thiện, có phần rõ ràng hơn. Tuy nhiên, khi đưa vào triển khai thực hiện vẫn
phát sinh nhiều hạn chế. Các tác giả Hà Minh Tuấn tại Một số ý kiến về thi hành án
tr. 22- 27 đã khẳng định những khó khăn, vướng mắc trên của công tác THAHC tại
Thành phố Hồ Chí Minh – địa phương vốn có số lượng án hành chính cao nhất
cả nước. Tác giả Thu Hằng trong Hỗ trợ tài chính để thi hành án: Người sốt sắng,
kẻ thờ ơ, Báo Pháp luật Việt Nam, ngày 19/5/2008 thì cho rằng hiệu quả THAHC
giai đoạn này không cao một phần lỗi thuộc về các cơ quan đã ban hành
QĐHC hoặc có HVHC trường hợp là người phải thi hành án đã tỏ ra khá “thờ ơ”
trong quá trình thực hiện cơ chế hỗ trợ tài chính.
Tóm lại, với giai đoạn khi Pháp lệnh TTGQ các VAHC năm 1996 và Luật
TTHC năm 2010 có hiệu lực thi hành, các công trình nghiên cứu mà tác giả có cơ
hội tiếp cận ở trên đã có những phân tích khá cụ thể về hạn chế của pháp
luật THAHC, những yếu kém trong công tác THAHC trên thực tế, trong đó nhiều
công trình khi nghiên cứu chỉ đi sâu luận bàn về một hạn chế nhất định như
việc thực hiện cơ chế đôn đốc THAHC tại các Cơ quan THADS. Những kết quả
nghiên cứu này thực sự là cơ sở quan trọng để tác giả có cái nhìn tổng quát nhất
về sự chuyển biến trong những quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp
luật THAHC qua các giai đoạn.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực
tiễn áp dụng pháp luật THAHC tại Việt Nam sau khi Luật TTHC năm 2015 và
Nghị định 71/2016/NĐ-CP có hiệu lực thi hành
Luật TTHC năm 2015 có nhiều sửa đổi quan trọng nhằm khắc phục những
hạn chế của Luật TTHC năm 2010, trong đó có nội dung về THAHC. Các tác giả
18
Phan
19