tiểu luận cao học Tư tưởng hồ chí minh về xây dựng đảng cộng sản và nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Là người sáng lập Nhà nước dân chủ mới Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp.
Ở cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn
thảo Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Người để lại một hệ thống tư
tưởng quý báu về Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân, vì dân.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với
chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920) và trở
thành người Việt Nam Cộng sản đầu tiên. Từ đó, Người xác định mục tiêu
của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Muốn hoàn thành nhiệm vụ đó, Người khẳng định: "Trước hết phải có
đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên
lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách
mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy".(1)
Vấn đề được Người quan tâm hàng đầu về mặt tổ chức là sớm lập ra Đảng
Cộng sản, một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã xây dựng thành công
Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, giai cấp công nhân
nhỏ bé, nông dân chiếm đại bộ phận dân cư.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân đã được ghi trang trọng trong Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ðó là tư tưởng về "tất cả quyền bính
trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái
trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo"; tư tưởng về "nhân dân có quyền phúc
quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia"; tư tưởng
về "Chính phủ là công bộc của dân". Nhà nước của nhân dân thì "bao nhiêu
1





Thực hiện mục tiêu trên, tiểu luận phải giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đảng và Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân như khái niệm, bản chất, chức năng,
vai trò.
- Và những biến dạng của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân và giải pháp khắc phục
- Bước đầu đề cập một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh
đạo xây dựng Đảng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong công cuộc đổi mới
đất nước.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung trình bày về tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
công tác xây dựng Đảng Cộng sản và Nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân qua các tác phẩm kinh điển và quá trình lãnh đạo của Đảng ta về
xây dựng Đảng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt nam
trong thời kỳ đổi mới (1986-đến nay). Từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm có ý nghĩa thiết thực đối với Nhà nước ta hiện nay.
4. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo tiểu luận
gồm có 2 chương.

3


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM

lợi thì quần chúng phải tổ chức chặt chẽ, chí khí phải kiên quyết.Vì vậy phải
có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh,
đánh kẻ địch giành chính quyền. Cách mạng thắng lợi rồi, giai cấp vẫn cần
có Đảng.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa
Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
Đây chính là quy luật hình thành và phát triển Đảng Cộng sản Việt
Nam, đồng thời là sự bổ xung, sáng tạo vào kho tàng lý luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin. Vì sao Hồ Chí Minh lại thêm yếu tôi phong trào yêu nước.
- Phong trào yêu nước có vị trí, vai trò cực kỳ to lớn trong quát trình
phát triển của dân tộc Việt Nam.
- Phong trào công nhân kết hợp với phong trào yêu nước vì nó đều có
mục tiêu chung. Phong trào yêu nước Việt Nam là phong trào rộng lớn nhất
có trước phong trào công nhân từ nghìn năm lịch sử. Nó cuốn hút mọi tầng
lớp nhân dân, toàn dân tộc đứng lên chống kẻ thù. Phong trào công nhân ngay
từ khi mới ra đời đã kết hợp với phong trào yêunước. Khác với những người
Cộng sản phương Tây, Hồ Chí Minh và những người Cộng sản Việt Nam đã
đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin từ giác ngộ dân tộc
đến giác ngộ giai cấp.
- Phong trào nông dân kết hợp với phong trào công nhân ngay từ đầu.
Hơn 90% dân số là nông dân. Họ là bạn đồng minh tự nhiên của giai cấp
công nhân.
- Phong trào yêu nước của trí thức Việt Nam là nhân tố quan trọng thúc
đẩy sự kết hợp các yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam trên Cộng sản kết hợp
vấn đề dân tộc với gia cấp, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành
5


Đảng ở một nước thuộc địa. Đảng định hướng đúng đắn và thúc đẩy phong


phần khác mà họ được rèn luyện, thử thách, giác ngộ về Đảng, tự nguyện
chiến đấu trong hàng ngũ của Đảng. Đảng đặc biệt chú ý giáo dục, rèn luyện
Đảng viên giác ngộ giai cấp và dân tộc, nâng cao hiểu biết Chủ nghĩa Mác Lênin. Đảng ta là sự thống nhất giữa thống nhất giai cấp và thống nhất dân
tộc, lợi ích của giai cấp gắn với lợi ích dân tộc "nhân dân và cả dân tộc thừa
nhận Đảng là người lãnh đạo duy nhất, đại diện cho quyền lợi cơ bản và thiết
thân của mình"
B/c giai cấp của Đảng còn thể hiện ở định lý xây dựng Đảng thành
Đảng gắn bó máu thịt với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể
dân tộc trong mọi giai đoạn, mọi @ của cách mạng Việt Nam.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt.
Theo Bác : "Chỉ có Đảng nào theo lý luận cách mạng tiền phong, Đảng
cách mạng mới làm nổi trách nhiệm cách mạng tiền phong", "Đảng muốn
vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải
theo chủ nghĩa ấy".
"Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nghiều, nhưng chủ nghĩa chân
chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là Chủ nghĩa Mác - Lênin"... Chủ
nghĩa Mác - Lênin là học thuyết về giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân
lao động, các dân tộc bị áp bức và giải phóng con người nói chung, đồng thời
là học thuyết về sự phát triển xã hội lên hình thái cao hơn, xóa bỏe hoàn toàn
bất công, nguồn gốc đẻ ra sự bóc lột, áp bức. "Chủ nghĩa Mác - Lênin là lực
lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng chúng tôi, làm cho Đảng đôi có thể
trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của
trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc chúng tôi".
Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt có nghĩa là Đảng ta nắm vững
tinh thần của Chủ nghĩa Mác - Lênin, lập trường, quan điểm và phương pháp
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời nắm vững tinh hoa văn hóa dân tộc va
trí tuệ thời đại vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Không
máy móc, kinh viện, giáo điều.
7

- Cán bộ Đảng viên phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, phục vụ tổ
quốc, có đức, có tài.
- Chú ý khắc phục tiêu cực, luôn giữ gìn Đảng trong sạch, vững mạnh.
- Đảng phải vươn lên đáp ứng yêu cầu tình hình và nhiệm vụ mới.

10


CHƯƠNG II: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN
1. Khái niệm, bản chất của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1. Khái niệm
Ở Hồ Chí Minh đã sớm hình thành một hệ thống quan điểm về pháp
quyền, về quyền con người, về hiến pháp, về vai trò của pháp luật…Trên con
đường đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa
Mác-Lênin, tìm thấy ở đó chủ nghĩa nhân đạo cao cả. Suốt đời Người luôn
luôn nghĩ về dân, lo cho dân, vì hạnh phúc của nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền là một Nhà nước của dân, do
dân và vì dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ là cốt
lõi của tư tưởng Nhà nước pháp quyền. Nhà nước đó phải quản lý xã hội theo
pháp luật, bằng hiến pháp với tính cách là luật cơ bản.
Ngay từ năm 1919, Nguyễn Ái Quốc cùng các bạn hữu chiến đấu viết
bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi các đồng minh thắng trận trong chiến
tranh thế giới thứ nhất và gửi chính phủ Pháp. Trong điều kiện của chế độ
thuộc địa thực dân, khi chưa đòi được quyền tự quyết thiêng liêng, tác giả bản
yêu sách nêu ra các yêu sách và tự đánh giá đấy cũng chỉ là những yêu sách
khiêm tốn. Trong số các yêu sách đó, đáng chú ý nhất là yêu sách thứ 7:
“Thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật” và sau này yêu sách này
đã thành hai câu thơ lục bát: "Bảy xin hiến pháp ban hành, trăm điều phải có

2. Chức năng, vai trò của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân
2.1 Chức năng của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân thực hiện chức năng
quản lý xã hội, quản lý Nhà nước theo pháp luật.
Mục tiêu của Nhà nước pháp quyền trên thực tế là yêu cầu các cơ quan
Nhà nước, kể cả cấp cao nhất đều phải đặt mình dưới hiến pháp. Ở Hồ Chí
Minh độc lập gắn liền với hiến pháp và các lý tưởng dân quyền. Đó là một
12


công thức chứa đựng đầy đủ các yêu cầu về một Nhà nước pháp quyền. Hiến
pháp là nền tảng pháp lý của quyền lực nhân dân, trên cơ sở đó mà triển khai
các quyền tự do, dân chủ của công nhân.
Vì vậy, ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, một trong sáu
nhiệm vụ cơ bản của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra là tổ chức tổng tuyển cử và xây dựng hiến pháp
dân chủ. Đó là môt quyết định hợp lòng dân, và kết quả của tổng tuyển cử là
từ một chính quyền lâm thời đã có một chính quyền do dân lần đầu tiên trực
tiếp bầu ra.
Ngày 9.11.1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên
của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I đã
quyết định thành lập ban sửa đổi Hiến pháp do chủ tịch Hồ Chí Minh làm
trưởng ban. Sau khi tiếp thu ý kiến đóng góp của hàng triệu người, ngày
31.12.1959, hiến pháp đã được thông qua. Hiến pháp năm 1959 quy định rõ
“Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân
chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật”.
Với tính chất tối thượng của hiến pháp như vậy, không một văn bản
pháp luật nào, kể cả các đạo luật không được trái với Hiến pháp. Không một
cán bộ, công chức nào được đặt mình trên pháp luật, mọi người đều bình

bộ và nhân dân là một việc làm kiên trì, lâu dài. Người cũng thường nhắc nhở
cán bộ phải lo “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng
quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Công dân hiểu được pháp luật,
hiểu được tinh thần và nội dung của pháp luật để tuân thủ pháp luật, chấp
hành pháp luật, để rồi tự bảo vệ được quyền của mình, đó là một yêu cầu quan
trọng của Nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân theo tư tưởng của Hồ
Chí Minh.
3. Những biến dạng của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân và giải pháp khắc phục
Một trong những dấu hiệu không thể thiếu của một Nhà nước pháp
quyền là việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Phải thừa nhận rằng đây là vấn đề được đặt ra trong tất cả các kiểu Nhà nước,
14


nhưng do việc giải quyết không phải bao giờ cũng đúng đắn nên có thể dẫn
đến các căng thẳng xã hội.
Thực tế chứng minh rằng, nếu các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà
nước mà mắc bệnh quan liêu, xa dân, cửa quyền, tắc trách trong quan hệ với
dân thì từ phía người dân sẽ diễn ra tình trạng có nơi, có lúc vô tổ chức, thiểu
kỷ cương, thậm chí là vô pháp luật, vô chính phủ.
Để giải quyết vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích vai trò
hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Các cơ quan Nhà
nước phải đóng vai trò của người cầm lái, người dẫn đường.
Một trong những nguyên nhân làm biến dạng Nhà nước mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu ra là quan liêu, lãng phí, tham ô. Chúng đối lập với dân chủ
và chỉ có thực hành dân chủ thật nghiêm túc, triệt để thì mới chống được quan
liêu, tham nhũng.
Người đã vạch ra được thực chất, bản chất của vấn đề, đó là vì sao lại
có nạn quan liêu. Người nêu rõ: quan liêu là do xa nhân dân, khinh nhân dân,

16


KẾT LUẬN
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và Nhà nước pháp
quyền của dân, do dân, vì dân là sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học, tính
cách mạng và tính nhân văn. Tính khoa học trong tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh thể hiện ở sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-lênin vào thực tế Việt
Nam, luận giải đúng đắn con đường và phương pháp của cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc và sự phát triển của xã hội Việt Nam phù hợp với xu thế phát
triển khách quan của thời đại. Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh thể hiện tính
độc lập và chủ động trong đường lối cách mạng của Đảng và phương pháp
đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước;
trong vận động và tập hợp quần chúng; trong phương pháp và phong cách
lãnh đạo và quản lý xã hội; trong sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Dưới ánh sáng của những tư tưởng đó, Đảng ta đã có những nhận thức
mới và biến những nhận thức đó trong chỉ đạo thực tiễn xây dựng Đảng Cộng
sản và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đã đạt được những thành
tựu quan trọng bước đầu. Đó là tiền đề để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tiếp
tục xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thông qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và Nhà
nước pháp quyền qua các tác phẩm kinh điển được trích giới thiệu góp phần
nhận thức sâu sắc, đúng đắn nhằm vận dụng sắng tạo, có hiệu quả về tư tưởng
Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác vừa mang ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực
tiễn to lớn, đồng thời mang tính cấp bách trong công cuộc đổi mới của chúng
ta hiện nay nhằm phát huy sức mạnh và hiệu lực của Nhà nước trong việc tổ
chức triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, vì lợi ích của
nhân dân, vì sự phồn vinh của đất nước.

17

MỤC LỤC




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status