Vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học phần i môn GDCD lớp 10 trường THPT hương sơn, huyện hương sơn, tỉnh hà tĩnh - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
-------***------

NGUYỄN THÙY AN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN
TRONG DẠY HỌC PHẦN I MÔN GDCD LỚP 10
TRƯỜNG THPT HƯƠNG SƠN, HUYỆN HƯƠNG SƠN,
TỈNH HÀ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
-------***------

NGUYỄN THÙY AN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN
TRONG DẠY HỌC PHẦN I MÔN GDCD LỚP 10
TRƯỜNG THPT HƯƠNG SƠN, HUYỆN HƯƠNG SƠN,
TỈNH HÀ TĨNH

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: Dương Văn Mạnh

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết là

Dịch là

GDCD

Giáo dục công dân

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

KHTN

Khoa học tự nhiên

KHXH

Khoa học xã hội

NXB

Nhà xuất bản

PP

DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC PHẦN I MÔN
GDCD LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT HƯƠNG SƠN, HUYỆN HƯƠNG SƠN,
TỈNH HÀ TĨNH .................................................................................................. 6
1.1. Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học môn
GDCD lớp 10 ........................................................................................................ 6
1.1.1. Khái niệm phương pháp trực quan .............................................................. 6
1.1.2. Cơ sở lý luận của phương pháp trực quan .................................................. 8
1.1.3. Các hình thức trực quan .............................................................................. 9
1.1.4. Những ưu, nhược điểm của phương pháp trực quan ................................ 10
1.1.5. Tầm quan trọng và những yêu cầu cơ bản của việc vận dụng phương pháp
trực quan trong dạy học môn GDCD lớp 10 ....................................................... 11
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học
môn GDCD lớp 10, phần I ở trường THPT Hương Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh
Hà Tĩnh ................................................................................................................ 13
1.2.1. Đặc điểm của môn GDCD nói chung và phần I môn GDCD lớp 10 nói
riêng..................................................................................................................... 13


1.2.2. Thực trạng việc vận dụng phương pháp trực quan của giáo viên trong dạy
học môn GDCD lớp 10, phần I ở trường THPT Hương Sơn, huyện Hương Sơn,
tỉnh Hà Tĩnh......................................................................................................... 15
1.2.3. Thực trạng việc tiếp cận với phương pháp trực quan của học sinh trong
giờ học môn GDCD lớp 10, phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan,
phương pháp luận khoa học”............................................................................... 18
1.2.4. Tính tất yếu của việc vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học môn
GDCD lớp 10, phần I ở trường THPT Hương Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh ..................................................................................................................... 20
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC PHẦN I MÔN GDCD LỚP 10
TRƯỜNG THPT HƯƠNG SƠN, HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

3.1.1.2. Xác định phương tiện trực quan ............................................................. 43
3.1.1.3. Xác định hình thức trực quan ................................................................. 45
3.1.1.4. Thiết kế bài dạy học ............................................................................... 45
3.1.2. Giai đoạn thực hiện ................................................................................... 50
3.1.3. Giai đoạn kết thúc ..................................................................................... 51
3.2. Các giải pháp vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học phần I môn
GDCD lớp 10 ở trường THPT Hương Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh ........ 52
3.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng phương pháp trực quan trong
dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Hương Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh
Hà Tĩnh ................................................................................................................ 52
3.2.1.1. Nhân tố chủ quan ................................................................................... 52
3.2.1.2. Nhân tố khách quan ................................................................................ 53
3.2.2. Một số giải pháp vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học phần I
môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Hương Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh ..................................................................................................................... 54
3.2.2.1. Đối với lãnh đạo nhà trường .................................................................. 54
3.2.2.2. Đối với giáo viên .................................................................................... 55
3.2.2.3. Đối với học sinh ..................................................................................... 56
3.2.2.4. Về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ..................................................... 56
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 60


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đã đặt ra những
yêu cầu mới đối với người lao động cũng như những yêu cầu mới cho sự nghiệp
giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực, những yêu cầu mới đó chính là
đội ngũ nguồn nhân lực phải có tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách
nhiệm, năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp. Để đáp ứng vấn đề này thì

Góp phần dạy tốt, học tốt môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001. Thái Duy Tuyên, PPDH truyền thống và đổi mới,
Nxb Giáo dục. Lê Quang Long, Thử đi tìm những phương pháp dạy học, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1999.
Hầu hết các tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ bản về PPDH, PPDH tích
cực, cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc đổi mới PPDH, phân loại các
PPDH một cách có logic và có hệ thống; đồng thời đề xuất một số biện pháp đổi
2


mới PPDH, cũng như một số quan điểm, phương pháp, kỹ thuật dạy học mới để
vận dụng vào việc dạy học các môn học. Tuy nhiên, các tác giả chưa nghiên cứu
chi tiết về PP trực quan và việc vận dụng vào dạy học môn GDCD lớp 10 ở
trường trung học phổ thông.
Cùng với nhóm nghiên cứu về PPDH, đổi mới PPDH theo hướng tích cực
còn có nhóm nghiên cứu về phương pháp trực quan, phương tiện trực quan có
các tác giả sau:
Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), Phương pháp, phương tiện, kỹ thuật và hình
thức tổ chức dạy học trong nhà trường, Nxb Giáo dục Đại học sư phạm, Hà Nội,
2005. Lê Tràng Định (2003), Phân loại và sử dụng phương tiện trực quan trong
dạy học, Giáo dục, số 54. Tô Xuân Giáp, Phương tiện dạy học, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1998.
Trong nhóm này, các tác giả cũng thể hiện khá chi tiết về khái niệm, phân
loại phương tiện trực quan; tầm quan trọng của việc vận dụng phương tiện trực
quan cũng như các giải pháp sử dụng phương tiện trực quan một cách khoa học
theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ học. Thế
nhưng việc vận dụng phương pháp trực quan, phương tiện trực quan trong dạy
học một môn học cụ thể chẳng hạn như môn GDCD lớp 10 trung học phổ thông,
phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học”
như thế nào thì chưa được đề cập đến.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong việc nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, đề xuất
một số giải pháp để vận dụng PP trực quan vào dạy học phần “Công dân với
việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học” môn GDCD lớp 10
ở trường THPT Hương Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đọc, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái
quát hóa, nhằm thu thập thông tin về lý luận.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: dự giờ, thăm lớp, thiết kế bài thực
nghiệm, trực tiếp lên lớp, phân tích các số liệu thống kê.
- Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn: xây dựng câu hỏi, bảng biểu,
xử lý số liệu nhằm tìm hiểu thực trạng của quá trình dạy học môn GDCD ở
trường THPT Hương Sơn, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
- Phương pháp thống kê toán học: xử lý kết quả thu được qua thực nghiệm
sư phạm trên cơ sở tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, lệch điểm trung bình
nhằm đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trình thực nghiệm.
6. Những đóng góp mới của khóa luận
Qua việc nghiên cứu và vận dụng khóa luận này ở trường THPT Hương
Sơn, khóa luận sẽ góp phần bổ sung, làm phong phú thêm lý luận về vận dụng
PP trực quan trong dạy học môn GDCD ở trường trung học phổ thông nói chung
4


và trường trung học phổ thông Hương Sơn nói riêng; đặc biệt là qua những giải
pháp vận dụng PP trực quan nêu trên sẽ góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương
pháp dạy học ở trường trung học phổ thông cũng như việc nâng cao hiệu quả
dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”, phát huy được tính tích cực, chủ động,
hứng thú đối với môn học nhất là môn GDCD ở trường trung học phổ thông mà
lâu nay nhiều người cho rằng đơn điệu, khô khan, khó tiếp thu.
7. Kết cấu của khóa luận

đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo mong muốn; nếu ngược lại sẽ không
đạt được mục đích đề ra. Đó chính là sức mạnh của phương pháp.
* Phương pháp dạy học (PPDH)
Có thể nói PPDH là một khái niệm cơ bản trong lý luận dạy học, là công cụ
quan trọng hàng đầu của nghề dạy học. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có nhiều
cách định nghĩa khác nhau về PPDH chẳng hạn như:
Trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nhà xuất bản Giáo
dục, tác giả Thái Duy Tuyên đã trích dẫn từ một số tài liệu nước ngoài về khái
niệm PPDH:
- PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ
giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (Iu.K.Babanxki, 1983).
- PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên
nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh
lĩnh hội nội dung học vấn (I.Ia.Lecne.1981) [22; 38].
- Còn theo Nguyễn Ngọc Quang trong Phương pháp dạy đại học, năm
1978, cho rằng: Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò dưới
sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một
cách tự giác, tích cực, tự lực đạt được mục đích dạy học. Nó gắn liền với quá
6


trình giáo dục và có sự tác động qua lại giữa hoạt động của thầy và hoạt động
của trò trong quá trình dạy học.
- Cùng khái niệm này, tác giả Bùi Thị Mùi, trường Đại học Cần Thơ đã
khái quát trong Giáo trình Lý luận dạy học, năm 2007, về PPDH: “PPDH là
tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh được thực
hiện trong quá trình dạy học; trong đó, cách thức hoạt động của giáo viên đóng
vai trò chủ đạo, cách thức hoạt động của học sinh đóng vai trò chủ động nhằm
thực hiện mục đích dạy học” [16; 59].
Ngoài ra, còn nhiều cách định nghĩa khác về PPDH nhưng về cơ bản thì

Phương pháp trực quan được xây dựng trên cơ sở con đường nhận thức của
triết học Mác – LêNin. Lênin viết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là quá trình của sự nhận thức chân
lý khách quan” [22; 189].
Theo Lênin, quá trình nhận thức chia thành hai giai đoạn: Trực quan sinh
động (giai đoạn nhận thức cảm tính) và tư duy trừu tượng (giai đoạn nhận thức
lý tính).
Giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu của nhận thức. Thông qua
các giác quan, con người nhận thức hình ảnh của các sự vật, hiện tượng một
cách trực tiếp từ thực tiễn. Chính vì vậy mà giai đoạn nhận thức cảm tính rất
sinh động và mang lại những tài liệu đáng tin cậy trong quá trình nhận thức.
Giai đoạn nhận thức cảm tính gồm 3 hình thức: cảm giác, tri giác và
biểu tượng.
Cảm giác: trong quá trình nhận thức, hình ảnh của sự vật, hiện tượng được
ghi lại một cách trực tiếp thông qua các giác quan và nó chỉ phản ánh những
thuộc tính riêng lẽ của sự vật, hiện tượng. Cảm giác có vai trò là “nguồn gốc của
mọi sự hiểu biết”. Lênin đã viết: “Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan” [24;138].
Tri giác: là một hình thức của nhận thức được nâng cao hơn so với cảm
giác, nó phản ánh nhiều mặt, nhiều thuộc tính của sự vật, hiện tượng, mang lại
cho nhận thức con người về sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ, phong phú hơn.
Biểu tượng: là hình thức phản ánh cao nhất, phức tạp nhất của giai đoạn
trực quan sinh động. Nó là hình ảnh được tái hiện lại mặc dù không trực tiếp
nhưng lại toàn diện và khái quát sự vật hơn.
Như vậy, các hình thức của trực quan (giai đoạn nhận thức cảm tính) rất
sinh động, phong phú, trực tiếp với sự vật, rất đáng tin cậy. Đây là ưu điểm mà
người dạy học vận dụng trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực của
học sinh.
Giai đoạn nhận thức lý tính là giai đoạn sau của quá trình nhận thức. Nó
không nhận thức trực tiếp sự vật, hiện tượng mà là nhận thức gián tiếp. Tuy

+ Máy ảnh kỹ thuật số, máy quay phim kỹ thuật số.
+ Máy vi tính, đầu máy chiếu projector, phần mềm Violet, Internet…
* Hình thức quan sát
Quan sát là sự tri giác có chủ đích, có kế hoạch tạo khả năng theo dõi tiến
trình và sự biến đổi diễn ra trong sự vật, hiện tượng. Đây là một hình thức nhận
thức cảm tính tích cực nhằm thu thập những tài liệu, sự kiện, hình thành những
biểu tượng ban đầu về sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh để trên cơ sở
đó làm tư liệu cho quá trình tư duy.

9


Quan sát của học sinh được diễn ra khi giáo viên trình bày những phương
tiện trực quan, các phương tiện dạy học trong các khâu của quá trình dạy học
hoặc khi bản thân học sinh tiến hành thực nghiệm nghiên cứu hay tiến hành thí
nghiệm. Kết quả của quan sát nhằm rút ra kết luận, hình thành tri thức mới.
Tùy theo đặc điểm, nội dung bài học, trình độ tay nghề, điều kiện cụ thể
của nhà trường và địa phương mà giáo viên có thể lựa chọn hình thức trực quan
cho phù hợp. Có như thế, mới phát huy được hiệu quả của phương pháp trực
quan một cách tối ưu.
1.1.4. Những ưu, nhược điểm của phương pháp trực quan
* Ưu điểm
- Trong dạy học, nếu sử dụng tốt phương pháp trực quan thông qua phương
tiện trực quan và phương tiện kỹ thuật dạy học sẽ có tác dụng phát huy được vai
trò nhận thức tích cực của học sinh.
- Nếu phối hợp tốt với các PPDH khác, phương pháp trực quan sẽ kết hợp
được tín hiệu thứ nhất và tín hiệu thứ hai trong dạy học làm học sinh dễ hiểu,
nhớ lâu, giảm mệt nhọc do tư duy nhiều, bởi vì hệ thống tín hiệu thứ nhất là
những gì nghe được, thấy được, cảm xúc được từ thế giới bên ngoài, đây là
những thông tin về thế giới khách quan mà con người nhận được trực tiếp từ

nghiên cứu, kích thích quá trình nhận thức học sinh, giúp các em có tư duy sâu
sắc hơn về sự vật, hiện tượng.
Thông qua những hình ảnh, tranh ảnh, mô hình, đoạn phim sinh động sẽ
kích thích hứng thú học sinh, tăng cường tính độc lập, sáng tạo của các em trong
quá trình học.
- Đối với giáo viên
Khi vận dụng phương pháp trực quan một cách khoa học sẽ giúp cho giáo
viên hạn chế được nhiều công việc có tính chất thuần túy trong tiết học, chẳng
hạn như thông báo thông tin, thuyết trình nhiều về sự vật, hiện tượng để dành
nhiều thời gian cho việc phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh. Đồng
thời, tạo được sự thoải mái, nhẹ nhàng trong giờ học của học sinh.
* Những yêu cầu cơ bản của việc vận dụng phương pháp trực quan trong
dạy học môn GDCD
Để sử dụng có hiệu quả phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD
ở THPT, giáo viên cần tuân thủ những yêu cầu cơ bản sau:
Yêu cầu chung đối với phương tiện trực quan:
- Lựa chọn tài liệu trực quan phải vừa phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và
nội dung dạy học của bài học, vừa có tác dụng giáo dục lồng ghép, tích hợp
những vần đề mang tính thời sự, xã hội.
- Đảm bảo cho tất cả học sinh được quan sát rõ ràng, đầy đủ các phương
tiện dạy học được sử dụng trong tiết dạy.
- Phải sử dụng số lượng phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy
học phù hợp với nội dung của tiết học, phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà
11


trường. Tránh trường hợp lạm dụng quá nhiều phương tiện trực quan sẽ làm mất
thời gian trình bày, ảnh hưởng đến hiệu quả của tiết học hoặc chỉ sử dụng một
phương tiện dạy học vì trong cùng một tình huống, những phương tiện dạy học
thường được sử dụng phối hợp với nhau để thực hiện nhiều chức năng đồng


12


Phương pháp vận dụng tri thức liên môn là vận dụng tri thức liên môn là
phương pháp giáo viên sử dụng các tri thức của khoa học cơ bản (KHTN,
KHXH) vào bài giảng để minh chứng làm sáng tỏ vấn đề nào đó trong nội
dung bài học.
Cơ sở của việc vận dụng này là dựa vào mối quan hệ giữa kiến thức môn
GDCD với KHTN và KHXH, bởi vì các khái niệm, các quy luật, nguyên lý của
triết học duy vật biện chứng đều được khái quát từ KHTN và chính các hệ thống
tri thức của KHTN đã chứng minh cho các nguyên lý triết học là đúng đắn.
Cũng như thế, đối với kiến thức triết học duy vật lịch sử cũng được khái quát từ
những tư liệu của KHXH.
- Các hình thức phối hợp giữa phương pháp trực quan với phương pháp
dạy học khác.
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh quan sát trực tiếp qua hình ảnh
trực quan, mô hình, đoạn phim về sự vật, hiện tượng, sau đó giáo viên đưa ra
yêu cầu, câu hỏi và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận.
Hoặc bằng phương tiện trực quan (hình ảnh, phim ảnh…) giáo viên kết hợp
vận dụng phương pháp đàm thoại thông qua một hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị
sẵn và phương pháp vận dụng tri thức liên môn nhằm giải thích, minh họa cho
những nội dung trực quan giúp các em dễ nhớ, dễ hiểu, trên cơ sở đó mà hướng
dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp trực quan trong dạy
học môn GDCD lớp 10, phần I ở trường THPT Hương Sơn, huyện Hương
Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
1.2.1. Đặc điểm của môn GDCD nói chung và phần I môn GDCD lớp 10
nói riêng
* Đặc điểm của môn GDCD ở trường THPT

GDCD ta thấy môn học này chứa đựng nhiều loại kiến thức của các môn học
khác nhau và ở mức độ nhất định nó còn chứa đựng cả kiến thức của các môn
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội.
Bốn là, tri thức môn GDCD gắn bó mật thiết với hiện thực, phản ánh một
cách sinh động đời sống hiện thực. Nếu việc dạy học những tri thức của môn
GDCD tách khỏi thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam thì sẽ mất hết ý nghĩa và tác dụng. Bởi lẽ, dạy học GDCD là dạy để HS trở
thành người công dân có tinh thần trách nhiệm của một thành viên hữu ích cho
Đất nước, có những kiến thức và kĩ năng cần thiết để tham gia vào một thế giới
đang thay đổi nhanh chóng. Do đó, quá trình dạy học bộ môn phải gắn trực tiếp,
cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện, tu dưỡng của mỗi HS.
* Đặc điểm của phần I môn GDCD lớp 10
Ở phần I cung cấp cho chúng ta một số nội dung chủ yếu của triết học
nhằm trang bị cho học sinh những cơ sở ban đầu về thế giới quan, phương pháp
luận trong cuộc sống và là căn cứ luận cho các phần sau. Thông qua kiến thức
được trang bị HS hiểu được bản chất của thế giới là vật chất. Vận động và phát
triển theo những quy luật khách quan là thuộc tính vốn có của thế giới vật chất.
Con người có thể nhận thức và vận dụng được những quy luật ấy. Và thấy được
14


mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động của chủ thể với khách thể qua các mối
quan hệ: thực tiễn với nhận thức, tồn tại xã hội với ý thức xã hội, con người là
chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội.
Trên cơ sở đó tôn trọng quy luật khách quan của tự nhiên và đời sống xã
hội. Khắc phục những biểu hiện duy tâm trong cuộc sống hằng ngày, phê phán
các hiện tượng mê tín, dị đoan và tư tưởng không lành mạnh trong xã hội. Có
quan điểm phát triển, ủng hộ và làm theo cái mới, cái tiến bộ, tham gia tích cực
và có trách nhiệm đối với các hoạt động cộng đồng.
Nội dung chương trình phần I môn GDCD lớp 10

 Khối lớp 10: 12 lớp
 Khối lớp 11: 10 lớp
 Khối lớp 12: 08 lớp
- Tổng số phòng học: 30
- Thiết bị phục vụ giảng dạy:
Được sự quan tâm của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh, Ban lãnh đạo nhà
trường, Hội Cha mẹ học sinh; nhà trường đã trang bị được một hệ thống thiết bị
tương đối đầy đủ như: tranh ảnh, bản đồ, các thiết bị thí nghiệm thực hành sinh –
hóa, máy vi tính, tivi, cát xét, máy chiếu projector; nhưng riêng bộ môn GDCD
thì còn thiếu nhiều cụ thể là tranh ảnh, phim phục vụ bộ môn; đặc biệt là toàn
trường chỉ có 01 phòng trang bị cho hệ thống máy chiếu phục vụ việc giảng dạy
giáo án điện tử.
Nhận thức chung của giáo viên về vai trò của môn học GDCD và việc
vận dụng phương pháp trực quan trong quá trình dạy học
Nhằm đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên về vị trí, vai trò của
môn GDCD và việc vận dụng phương pháp trực quan trong quá trình dạy học,
chúng tôi đã tiến hành điều tra 03 giáo viên bộ môn GDCD ở trường với kết quả
như sau: (Phụ lục 1).
Qua bảng trên, ta thấy các giáo viên giảng dạy ở trường THPT Hương
Sơn đều có nhận thức đúng vai trò của môn GDCD trong việc hình thành thế
giới quan, phương pháp luận khoa học và ý nghĩa của việc vận dụng phương
pháp trực quan, cụ thể là:
- Có 100% số ý kiến cho rằng môn GDCD có vai trò rất quan trọng trong
việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học;
- Về ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp trực quan: có 66,67% ý kiến
cho rằng phương pháp trực quan “Kích thích được hứng thú học tập của học
sinh, làm cho giờ học hấp dẫn, sinh động hơn” và 33,33% ý kiến “Phát huy được
tính tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh”. Ngoài ra, các ý kiến “ Làm giờ
cho giờ học nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu quả” và “các ý kiến khác” không có.
16

33.33

2

66,67

0

0

Kết quả từ bảng 1 cho ta thấy mức độ vận dụng phương pháp dạy học trực
quan của giáo viên bộ môn trường THPT Hương Sơn chưa được thường xuyên,
cụ thể là mức độ vận dụng phương pháp dạy học trực quan “thường xuyên”
chiếm tỉ lệ: 33,33%; mức độ “đôi khi”: 66,67%; mức độ “chưa bao giờ”: 0%.
Như vậy, tất cả giáo viên dạy môn GDCD của trường đều có ý thức trong
việc vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học nhằm góp phần vào việc
tích cực hóa hoạt động dạy và học ở trường THPT Hương Sơn. Tuy nhiên, trong
thực tiễn dạy học thì mức độ vận dụng phương pháp này còn hạn chế, theo
chúng tôi nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này xuất phát từ yếu tố khách
quan: điều kiện phương tiện dạy học của nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu
vận dụng phương pháp trực quan của giáo viên, nhất là tranh ảnh, máy chiếu
projector. . .
Cách thức vận dụng phương pháp trực quan của giáo viên trường
THPT Hương Sơn hiện nay
Qua khảo sát, dự giờ thao giảng trong tổ chuyên môn, đặc biệt là môn
GDCD lớp 10, chúng tôi nhận thấy cách vận dụng phương pháp trực quan vào
dạy học của giáo viên bộ môn có những ưu điểm và những hạn chế như sau:
* Ưu điểm trong cách vận dụng phương pháp trực quan
Hầu hết trong tiết dạy vận dụng phương pháp trực quan của giáo viên đều
chuẩn bị tốt các phương tiện trực quan.

phụ, nếu không phải là môn phụ thì cũng là môn không thi tốt nghiệp nên không
cần đầu tư nhiều, nhận thức này không chỉ của các giáo viên bộ môn khác mà
còn cả chính những giáo viên dạy môn học này.
1.2.3. Thực trạng việc tiếp cận với phương pháp trực quan của học sinh
trong giờ học môn GDCD lớp 10, phần “Công dân với việc hình thành thế
giới quan, phương pháp luận khoa học”
Để tìm hiểu nhận thức về vai trò và thái độ học tập môn GDCD lớp 10
của học sinh trường THPT Hương Sơn và làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên
cứu về thực trạng tiếp cận với phương pháp trực quan của học sinh trong giờ học
môn GDCD lớp 10, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát 156 học sinh của
khối 10 (lớp 10C1, 10C2, 10A3, 10A4) về nhận thức và thái độ học tập môn
GDCD lớp 10 với kết quả như sau: (Phụ lục 2).

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status