NHỮNG PHÁT MINH KHOA HỌC VÀ TIẾN BỘ KĨ THUẬT
1.
NHỮNG PHÁT MINH KHOA HỌC
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khoa học và kĩ thuật thế
kí XIX đã có nhiều bước tiến vượt bậc.
1.1.
Sinh học
Công trình khoa học nổi bật của thế kỉ XIX là học thuyết về sinh học của
Charles Darwin. Charles Darwin ( 1809 – 1882)
là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự
nhiên học người Anh. Ông là người đã phát hiện và chứng
minh rằng “Mọi loài đều tiến hoá theo thời gian từ
những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên”. Nội
dung cơ bản của học thuyết Darwin là quy luật tự nhiên
cạnh tranh để sinh tồn và khả năng sinh tồn của
mỗi giống loài,kể cả con người. Tất cả các giống
loài đều trải qua quá trình tiến hoá để thích nghi
với điều kiện tồn tại, nếu không sẽ chịu sự đào
thải của tự nhiên.
Charles Darwin
Lý thuyết chọn lọc của ông trong những năm
1930 được xem như lời giải thích chính yếu cho quá trình tiến hoá và ngày nay
đã trở thành nền tảng cho lý thuyết tiến hoá hiện đại. Khám phá của Darwin là
lý thuyết đồng nhất cho các ngành khoa học sinh vật vì có thể đưa ra lời giải
thích duy lý cho sự đa dạng loài.
nghĩa và tầm quan trọng trong các công trình nghiên cứu của ông không được
Mendel
công nhận, người ta cũng không quan tâm đến các nghiênGregor
cứu củaJohann
ông. Đến
tận thế kỉ XX, các kết luận của ông mới được công nhận. Khi đó, ông được tôn
vinh như là một khoa học thiên tài, một danh hiệu mà ông xứng đáng được
nhận từ lúc sinh thời. Ngày nay người ta vẫn xem năm 1866 là mốc đánh dấu
cho sự ra đời của Di truyền học và Mendel là cha đẻ của ngành này.
Ngành Y học có nhiều phát hiện quan trọng, tiêu biểu là vắc xin chống
bệnh dại của Louis Pasteur. Louis Pasteur (1822 – 1895), nhà hoá học, nhà vi
sinh học người Pháp, được gọi là “cha đẻ của ví sinh vật học”.
Trong trường hợp bệnh dại, tác nhân gây bệnh
là virus,
những vi sinh vật này quá nhỏ nên không thể thấy
được
dưới kính hiển vi quang học thời bấy giờ. Pasteur đã
dành 5
năm từ 1880 đến 1885 để nghiên cứu căn bệnh này.
Xuất
phát từ thực tế là bệnh dại tác động đến hệ thần kinh,
Pasteur
dự đoán rằng tác nhân gây bệnh phải nằm trong não
hoặc
tuỷ sống của những người mắc bệnh. Khi lấy bệnh
phẩm
thần kinh của những động vật mắc bệnh dại như chó, thỏ,… tiêm vào các cá
thể khoẻ mạnh, ông đã gây được biểu hiện bệnh dại ở các cá thể này. Pasteur
dùng tuỷ sống của thỏ mắc bệnh dại để lấy virus dại và nuôi virus này qua
Ông đã trình bày Quy luật Tuần hoàn, tạo ra phiên
bản bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học cho
riêng mình và sử dụng nó để sửa các thuộc tính
của một số nguyên tố đã được phát hiện và cũng
để dự đoán các tính chất của 8 nguyên tố chưa
được phát hiện.
Bảng tuần hoàn là một phương pháp liệt kê các
nguyên tố hoaá học thành bảng, dựa trên số hiệu
nguyên tử ( số proton trong hạt nhân), cấu hình electron và các tính chất hoá
học tuần hoàn của chúng. Các nguyên tố được biểu diễn theo trật tự số hiệu
nguyên tử tăng dần, thường liệt kê cùng với kí hiệu hoá học trong mỗi ô. Dạng
tiêu chuẩn của bảng gồm 18 cột và 7 dòng, với 2 dòng kép nằm riêng bên dưới
cùng.
Các hàng trong bảng được gọi là các chu kì, trong khi các cột gọi là các
nhóm, một số có tên riêng như halogen hoặc khí hiếm. Bởi vì theo định nghĩa
một bảng tuần hoàn thể hiện những hướng tuần hoàn, bất kì bảng dưới dạng
nào cũng có thể dùng để suy ra mối quan hệ giữa các tính chất của nguyên tố
và tiên đoán tính chất của các nguyên tố mới, chưa được khám phá hoặc chưa
3
tổng hợp được. Do đó, một bảng tuần hoàn, dù ở dạng tiêu chuẩn hay các biến
thể, cung cấp khuôn khổ hữu ích cho việc phân tích thuộc tính hoá học. Cac
bảng như vậy được sử dụng rộng rãi trong hoá học và các môn khoa học khác.
Thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực Vật lý thuộc về ông bà Pierre
và Marie Curie, với việc tìm ra chất phóng xạ thiên nhiên, đặt cơ sở đầu tiên
cho lí thuyết về hạt nhân.
Pierre Curie & Marie Curie
Pierre Curie (1859 – 1906) là một nhà vật lý người Pháp, còn Marie
NHỮNG TIẾN BỘ KĨ THUẬT
Khi nhắc đến thế kỉ XIX, những tiến bộ kĩ thuật đáng chú ý nhất chính là
các phát minh về điện của các nhà phát minh lỗi lạc.
5
2.1. Mã Morse của Samuel Morse
Mã Morse hay mã Moóc-xơ là một loại mã hóa ký tự dùng để truyền các
thông tin điện báo được phát minh bởi
Samuel Morse. Samuel Morse (1791 –
1872), tên đầy đủ là Samuel Finley
Breese Morse, người Mỹ, là một hoạ sĩ
và nhà phát minh tín hiệu vô tuyến.
Mã Morse dùng một chuỗi đã
được chuẩn hóa gồm các phần tử dài và
ngắn để biểu diễn các chữ cái, chữ số,
dấu chấm, và các kí tự đặc biệt của một
thông điệp. Các phần từ ngắn và dài có
thể được thể hiện bằng âm thanh, các
dấu hay gạch, hoặc các xung, hoặc các kí
hiệu tường được gọi là "chấm" và "gạch"
hay "dot" và "dash" trong tiếng Anh.
Trong máy điện tín, cái chìa khóa được
đánh lên- đánh xuống, tạo nên những tín
hiệu bằng điện, những tín hiệu điện này được gửi đi qua đường dây thép, và từ đó
người nhân có thể chuyển ra “Thư tín”.
Vào ngày 6 tháng 1 năm 1838, hệ thống điện tín sử dụng mã hoá Morse
qua dây dẫn. Thiết bị nhận ở đầu dây bên kia là một đĩa kim loại được nối với
một đường ống và một nam châm điện khác. Các xung điện từ được truyền tới sẽ
làm đĩa rung và tạo sóng âm tương ứng với những gì người gọi đã nói. Alexander
đã gọi thiết bị của mình là “Máy điện báo âm thanh”.
Ông đã phát minh ra điện thoại vì một sơ hở khi ông ta làm đổ axit... lên
đường dây điện thoại. Ông đã gọi phụ tá của mình và hô to trên điện thoại là
“Ngài Watson, đến đây tôi cần ông”. Ông Watson nghe được trên diện thoại và
Watson hối hả chạy tới nói:"Có chuyện gì vậy, thưa ngài?". Alexander Graham
Bell nhận ra là thí nghiệm của ông đã thành công.
2.3.
Thomas Edison và bóng đèn điện
Thomas Alva Edison (1847 – 1931) là một nhà phát minh và thương
nhân đã phát triển rất nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống trong thế kỷ
20. Ông được một nhà báo đặt danh hiệu "Thầy phù thủy ở Menlo Park", ông là
một trong những nhà phát minh đầu tiên ứng dụng các nguyên tắc sản xuất hàng
loạt vào quy trình sáng tạo, vì thế có thể coi là đã sáng tạo ra phòng nghiên cứu
7
công nghiệp đầu tiên. Một số phát minh được gán cho ông tuy ông không hoàn
toàn là người đầu tiên có ý tưởng đó, nhưng sau khi bằng sáng chế đầu tiên được
thay đổi nó trở thành của ông (nổi tiếng nhất là bóng đèn), trên thực tế là công
việc của rất nhiều người bên trong công ty của ông.
Tuy nhiên, Edison được coi là một trong những nhà phát minh giàu ý
tưởng nhất trong lịch sử, ông giữ 1.093 bằng sáng chế tại Hoa Kỳ dưới tên ông,
cũng như các bằng sáng chế ở Anh Quốc,Pháp,và Đức (tổng cộng 1.500 bằng
phát minh trên toàn thế giới)
dùng làm tóc trong bóng đèn. Edison đã dùng sợi Platine nhưng thứ này quá đắt
lại làm tốn điện nhiều hơn là cho ánh sáng hữu ích. Edison đã thử với nhiều thứ
kim loại hiếm, chẳng hạn như Rhodium, Ruthenium, Titan, Zirconium và
Baryum nhưng tất cả những chất đó chưa cho kết quả khả quan.
Ngày 19/10/1879, nhà phát minh chợt nghĩ tại sao không dùng một sợi
than rất mảnh. Khi nối dòng điện, đèn cháy sáng, phát ra một thứ ánh sáng
không đổi. Chiếc đèn điện đầu tiên của Thomas Edison đã cháy liền trong hơn
40 giờ đồng hồ. Lúc đó, Edison mới tăng điện thế lên khiến cho sợi dây cháy
sáng gấp bội rồi đứt hẳn.
Tóm lại, Thomas Edison đã "thất bại" đến hơn 10.000 lần thử nghiệm để
phát minh ra bóng đèn. Bóng đèn sợi đốt ngày nay rất giống với bản gốc của
Edison. Sự khác biệt chính là việc sử dụng các sợi vonfram, khí khác nhau nên
cho hiệu quả cao hơn và tăng độ sáng nhiều hơn.
2.4.
Luyện kim và máy móc
Nhờ ứng dụng những thành tựu mới, sản lượng công nghiệp tăng lên
nhanh chóng.Kĩ thuật luyện kim được cải tiến với việc sử dụng lò Bét-xme và lò
Mác-tanh đã đẩy nhanh quá trình sản xuất thép. Nhờ đó, thép được sử dụng phổ
biến trong sản xuất như chế tạo máy, làm đường ray, đóng tàu và xây dựng.
Ngành luyện kim phát triển đã thúc đẩy việc khai thác than.
9
Lò Bessemer
Lò Martin
Tiếp đó, những phát hiện về mỏ dầu lửa ở Mỹ và Nga đem lại cho loài
người một nguồn nhiên liệu mới cho nghành giao thông
vận tải mà trước đó con người phải dùng than. Song
hành với đó, khí đốt và gas đã được người Anh và Pháp
đưa vào phục vụ cuộc sống. Năm 1897 một kĩ sư người
Đức là Rudolf Diesel đã chế ra một loại động cơ đốt
trong không cần bugi, sử dụng dầu cặn nhẹ. Động cơ
Diesel chính là mang tên ông. Rudolf Christian Karl
Diesel (1858 – 1913) là một nhà phát minh, một kĩ sư chế tạo máy người Đức.
Nhờ phát hiện đó mà xe ô tô đã được phát minh.
11
Bức ảnh kỷ niệm Bertha Benz (vợ của Karl Benz) bên cạnh chiếc xe Benz Patent Motorwagen
1888. Bà cũng chính là người phụ nữ đầu tiên lái ô tô đương đại chạy 106km mà không có sự giam
sát và hướng dẫn trực tiếp của Karl Benz
Tất cả sau những tiến bộ kỹ thuật trên, sản lượng các ngành công nghiệp tăng
lên nhanh chóng. So sánh trong những khoảng thời gian 1870-1900, có thể
12
thấy mức sản xuất thép từ 250 ngàn tấn lên 28.6 triệu tấn, dầu lửa khai thác từ
0.8 triệu tấn lên 20 triệu tấn, chiều dài đường sắt tăng lên gấp 4 lần.
chuyên chế với quyền lực thuộc về giới quý tộc và nhà vua.
♦ Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1787):
Hiến pháp Hoa Kỳ là bộ luật tối cao của nước Hoa Kỳ. Nó là bản hiến pháp
được soạn thảo ngày 17/9/1787 dựa trên tư tưởng tam quyền phân lập giữa ba
nhánh lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Tổng thống), tư pháp(Toà án)
do Montesquieu, một triết gia người Pháp đề xướng. Nó được phê chuẩn sau các
cuộc hội nghị tại 13 tiểu bang đầu tiên. Từ khi có hiệu lực năm 1789, bản Hiến
pháp đã được nhiều quốc gia khác tham khảo, lấy làm mô hình cho hiến pháp
nước mình.
♦ Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”
13
+ Bản tuyên ngôn nhanh chóng trở thành nền tảng của cuộc Cách mạng
Pháp, là di sản lớn nhất mà cuộc cách mạng này để lại, kết tinh những lý
tưởng tiến bộ nhất của thời đại Khai sáng
+ Đặt ra mục đích và tiêu chí cơ bản cho các chính phủ kế nhiệm
+ Khiến các quyền tự nhiên và quyền dân sự được tán thành và đi vào luật
pháp
2. John Stuart Mill (Anh): trong cuốn “Luận về tự
do” đã nêu lên nguyên tắc “Cá nhân có thể làm
bất cứ điều gì không hại đến người khác,
không bi phạm quyền tự do của người khác”.
Trong thực tế, điều này còn phụ thuộc rất nhiều
trình độ dân trí và sự nghiêm ngặt của pháp luât
nơi đó.
vào
Phái đối lập đề cao dân tộc mình là siêu đẳng, là có sứ mệnh khai hoá văn
minh cho các dân tộc khác, đưa ra những lập luận biện minh cho những cuộc
chiến tranh xâm lược. Những người này có phần dựa vào học thuyết tiến hoá
luận về sinh học của Darwin “cạnh tranh để sinh tồn”, cho đó là quy luật xã
hội nên phải tiêu diệt hoặc thống trị các dân tộc khác để dân tộc mình tồn tại và
phát triển.
Quan điểm hẹp hòi, vị kỉ, lợi dụng để tuyên truyền những cuộc chiến
tranh xâm lược thuộc địa và chiến tranh thế giới
2.
HỌC THUYẾT VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG
2.1. Hoàn cảnh ra đời
- Năm 1848, cách mạng tư sản Pháp thành công. Cuộc cách mạng công
nghiệp phát triển mạnh mẽ ở các nước Tây Âu vào thế kỷ XVIII đã thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển.
- Tình trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc phản ánh mặt trái của
kinh tế tư bản chủ nghĩa, của chế độ bóc lột tư sản
15
- Máy móc công nghiệp được cải tiến và chế tạo ngày một tăng lên và hoàn
thiện hơn, làm cho năng suất lao động tăng nhanh chưa từng có. Lao động thủ
công được thay thế dần bằng máy móc.
2.2.
Đặc điểm chung của kinh tế chính trị chủ nghĩa xã hội không tưởng
16
lừa bịp nhau, tự do cạnh tranh, chèn ép lẫn nhau; về phía Nhà nước thì không
chăm lo, cải thiện đời sống của người lao động.
Khi phân tích kết cấu của xã hội tư bản, ông đã gọi chung giai cấp công
nhân, các nhà tư bản và thương nhân là những “nhà công nghiệp”, còn tầng lớp
khác như quý tộc, thầy tu, cha cố được ông gọi là giai cấp không sinh lợi.
Dự án về xã hội tương lai:
Chế độ tương lai được ông gọi là hệ thống
công nghiệp mới trong đó sẽ thực hiện nguyên tắc
“mỗi người làm theo năng lực, mỗi năng lực sẽ được
trả công theo lao động”.
Trong xã hội tương lai, theo ông sẽ không có
bóc lột lẫn nhau nữa, thay thế cho sự bóc lột đó là sự
“bóc lột” thế giới tự nhiên, “bóc lột” vật phẩm, tình
trạng người thống trị sẽ được thay thế bằng sự thống
trị của người đối với tự nhiên.
Theo ông, trong xã hội tương lai sẽ không còn Nhà nước, chính quyền sẽ
- 1825cải
được chuyển vào tay các nhà công nghiệp và các nhà bác học.1760
Con đường
tạo xã hội cũ là mong chờ vào những biện pháp tinh thần, bằng việc kêu gọi lòng
tốt của tất cả các giai cấp trong xã hội chứ không nhằm vào việc cải tạo các cơ
sở kinh tế của xã hội cũ.
2.3.2.Quan
điểm kinh tế của Charles Fourier
tương lai - xã hội chủ nghĩa. Ở đó đời sống của nhân dân sẽ được cải thiện
hoàn toàn, những tệ nạn của xã hội tư sản không còn nữa, chế độ dựa trên nền
sản xuất tập thể - hiệp hội sản xuất.
Xây dựng xã hội mới phải trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 là “chủ
nghĩa bảo đảm, nửa hiệp hội”; giai đoạn 2 là “chủ nghĩa xã hội, hiệp hội giản
đơn”; giai đoạn 3 là “sự hòa hợp, hiệp hội phức tạp”. Trong đó, giai đoạn 1
và 2 là những giai đoạn chuẩn bị những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cần
thiết, là giai đoạn xây dựng một nền sản xuất lớn, phá vỡ sản xuất nhỏ. Giai
đoạn 3 là giai đoạn phát triển cao nhất, ở đó mọi thành viên xã hội đều được
phát huy đầy đủ mọi năng lực của mình.
Cơ sở để xây dựng xã hội mới là nền đại sản xuất. Nhưng ông lại coi
nông nghiệp là cơ sở của nền sản xuất xã hội, còn công nghiệp dù quan trọng
đến đâu cũng là thứ 2, giữ vai trò bổ sung cho nông nghiệp.
Theo ông, nâng cao năng suất lao động là sự hăng say lao động của con
người mới trong xã hội mới, từ đó mới có khả năng xóa bỏ nhà nước, quân
đội, cảnh sát và các cơ quan quyền lực khác.
Ông vạch ra dự án xây dựng các Phalăng (Falange: công xã), ở đó mọi
người đều coi lao động là nghĩa vụ và nguồn vui, kinh tế dựa trên sự kết hợp
giữa công nghiệp và nông nghiệp, kết hợp giữa lao động chân tay và lao động
trí óc. Sản phẩm được chia theo lao động và tài năng: 5/12 cho lao động, 4/12
cho tài năng, 3/12 cho những người góp vốn xây dựng Phalăng. Ông kêu gọi
nhà già bỏ tiền ra thưc hiện dự án nhưng chẳng ai trả lời.
2.3.3.Quan
điểm kinh tế của Robert Owen
Phê phán chủ nghĩa tư bản:
18
của “tiền lao động” cũng là một thứ phiếu chứng nhận lao động chi phí vào
việc sản xuất hàng hóa, từ đó mà người lao động nhận được những thứ hàng
hóa mà họ cần cho tiêu dùng.
Chế độ “trao đổi công bằng” không đem lại kết quả, không thể thủ tiêu
được tiền tệ trong khi còn sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Ông coi nông nghiệp là cơ sở của các cộng đồng, nhưng sự tiến bộ của
công nghiệp, khoa học kỹ thuật sẽ là nét chủ yếu của xã hội tương lai. Trong
19
xã hội tương lai, không có sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao
động chân tay và lao động trí óc.
Theo ông, việc chuyển lên “một tương lai sán lạn, hấp dẫn , có tổ chức
và hạnh phúc”, không phải bằng những biện pháp bạo lực mà bằng “phương
pháp hòa bình và hợp lý”.
Ông xây dựng một xưởng thí nghiệm theo kiểu công xã, tài sản được coi
là của chung, mọi người đều lao động, ngày làm việc 10 giờ, bãi bỏ chế độ cúp
phạt, đặt ra chế độ khen thưởng, lập nahf trẻ cho con công nhân. Kết quả là
ông bị phá sản vì sản phẩm của xưởng không cạnh tranh được trên thị trường.
Thí nghiệm lần 2 ở Mỹ cũng thất bại.
Từ những quan điểm trên, ta có thể suy ra được các mặt tiến bộ và hạn chế
của học thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng
Tiến bộ
Hạn chế
- Các nhà kinh tế theo chủ nghĩa xã
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mặt khác, họ không thấy được vai trò
của giai cấp công nhân và quần chúng
nhân dân lao động.
- Họ chủ trương xây dựng xã hội mới
bằng con đường không tưởng như việc
tuyên truyền, chờ mong vào lòng từ
thiện của những nhà tư bản và sự giúp
đỡ của nhà nước tư sản, coi tư tưởng
về chủ nghĩa xã hội là tôn giáo mới.
20
21
3.
HỌC THUYẾT VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Karl Marx và Engels là hai người đã xây dựng nên học thuyết về chủ
nghĩa xã hội khoa học.
Karl Heinrich Marx (1818 –1883) là
nhà tư tưởng người Đức gốc Do thái, và cũng
là nhà kinh tế chính trị, nhà lãnh đạo cách
mạng của Hiệp hội Người lao động Quốc tế.
Ông là một học giả có ảnh hưởng lớn trong
nhiều lĩnh vực học thuật như triết học, kinh tế
chính trị học, xã hội học, sử học...
Những hoạt động cách mạng và triết
những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng đã mơ ước nhưng không thực
hiện được.
Nội dung quan trọng của lý thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học là sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân theo Karl Marx và Engels là những người công nhân sẽ xoá bỏ chế độ tư
bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột,
nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
Luận thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã được Karl
Marx và Engels trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Trong tác
phẩm này các ông đã chỉ rõ các điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân.
Do địa vị kinh tế - xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với
lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản. Và, với tính cách như
vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau
khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử,
là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản
xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Giai cấp công nhân, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, được rèn
luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành
một lực lượng xã hội hùng mạnh. Bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột nặng nề, họ
là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai
cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa.
Địa vị kinh tế - xã hội khách quan tạo cho họ khả năng làm việc đó, tức là khả
năng đoàn kết thống nhất giai cấp và khả năng đi đầu trong cuộc đấu tranh.
Giai cấp công nhân có sứ mệnh tiến hành cuộc chiến tranh lật đổ chế độ TBCN
, xây dựng chế độ xã hội mới dựa trên nguyên tắc sở hữu chung , lao động
NHỮNG THÀNH TỰU NGHỆ THUẬT
1. VĂN HỌC
Văn học thế kỷ XIX phát triển mạnh với hai trào lưu văn học lớn: văn
học lãng mạn và văn học hiện thực. Các tác giả của thế kỷ XIX đã để lại cho
nhân loại những bộ tiểu thuyết đồ sộ và tồn tại mãi với thời gian. Những biến
động của châu Âu thế kỉ XVIII – XIX được phản ánh khá rõ nét vào văn học
nhiều nước, đặc biệt là văn học Pháp sau 1815. Cuộc đấu tranh giằng co giữa
thế lực tư sản đang lên nhưng bị thất bại trong chiến tranh Napoleon và triều
đình phong kiến suy tàn nhưng được phục hồi làm nảy sinh trào lưu văn
chương lãng mạn.
1.1.
Văn học lãng mạn
Hoàn cảnh ra đời
Chủ nghĩa lãng mạn ở các nước phương Tây ra đời dưới ảnh hưởng của
cách mạng Pháp. Cách mạng Pháp 1789 lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập chế
độ tư sản là một bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự mở đầu của một chế độ
chính trị mới, phù hợp với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người. Đây là
cuộc cách mạng duy nhất đã chiến thắng triệt để chủ nghĩa phong kiến nhằm
giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là giai cấp phong kiến đang trên đà tan rã
và một bên là giai cấp tư sản đang đi lên. Cách mạng Pháp, vì vậy được sự ủng
hộ nhiệt tình của những người có tư tưởng tiến bộ và quần chúng nhân dân lao
động. Tuy nhiên, sau khi lật đổ giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản đã giành
lấy những thành quả của cách mạng về phần mình, thay thế những quan hệ bóc
lột của xã hội cũ bằng những quan hệ bóc lột của xã hội mới, tạo nên những
tâm thế khác nhau trong đời sống xã hội.
Sự sụp đổ của quan hệ xã hội cũ và sự xác lập những quan hệ xã hội
mới, đặc biệt là trong thời gian sau những cuộc chiến tranh của Napoleon, sự
xác lập của Vương triều Phục hồi (1815 – 1830),… có tác động manh mẽ đến
Cơ sở cho khuynh hướng lãng mạn tiêu cực là sự chống đối của tầng lớp quý
tộc bị cách mạng Pháp lật đổ. Ngoài ra, cơ sở giai cấp của nó còn là tầng lớp
tiểu tư sản bảo thủ chịu ảnh hưởng sâu xa của ý thức phong kiến lỗi thời. Vì
vậy, nội dung của văn học lãng mạn tiêu cực là tiếng kêi thất vọng, lời than
vãn, thương tiếc về một quá khứ cũ. Nó thất vọng với hiện tại và tìm đến
những nơi ẩn náu của tinh thần như tôn giáo, tình yêu, vũ trụ…
Cơ sở giai cấp của khuynh hướng lãng mạn tích cực là đông đảo quần chúng
nhân dân phân hoá từ Đẳng cấp thứ ba sau cách mạng tư sản và những tầng lớp
trí thức tiểu tư sản tiến bộ có điều kiện thuận lợi để nói lên những tâm tư, tình
cảm của quần chúng nhân dân lao động. Văn học lãng mạn tích cực hướng về
tương lai, gửi gắm hy vọng vào việc cải tạo xã hội với một khát vọng chân lý
và tự do. Các nhà văn lãng mạn tích cực luôn luôn muốn khám phá và sáng
tạo, xông pha tìm cái mới. Ngoài ra nó còn mang nhiệt tình yêu nước và ít
nhiều vươn đến tính chất lãng mạn cách mạng.
Về nghệ thuật, chủ nghĩa lãng mạn đã thay thế sự tìm tòi 1 chân lý
phổ biến và trừu tượng bằng sự miêu tả những kinh nghiệm riêng và cụ thể.
Các nhà văn lãng mạn đã đối lập với những quy tắc của nghệ thuật cổ điển
bằng tự do trong nghệ thuật sáng tạo. Họ đã không mô phỏng tự nhiên, không
tái hiện mà phát huy đến cao độ kiểu sáng tác tái tạo nghệ thuật, không phải là
sự mô tả thực tại có thực mà là sự tìm tòi chân lý lý tưởng. Chủ nghĩa lãng mạn
tích cực là văn học của cái tôi cho nên rất giàu tính trữ tình. Thơ trữ tình rất
được ưa chuộng, đề tài tình yêu rất phổ biến, thể loại tự truyện khá phát triển.
25