mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA

MÔ HÌNH “COFFEE LANGUAGES” GIẢI PHÁP
NÂNG CAO KỸ NĂNG NGOẠI NGỮ VÀ TẠO
VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
S

K

C

0

0

3

9

5

9

MÃ SỐ: SV84 - 2008

S KC 0 0 2 5 9 0


THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 6 /2009


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU
Hình 1: Kỹ năng sử dụng tiếng Anh của sinh viên trong công việc sau khi tốt
nghiệp.
Hình 2: Năng lực ngoại ngữ của sinh viên ĐH. SPKT do sinh viên tự nhận xét.
Hình 3: Thực trạng việc giải trí của sinh viên trường ĐH.SPKT.
Hình 4: Ý tưởng uống cà phê kết hợp học tập ngoại ngữ.
Hình 5. Cơ cấu tổ chức của quán “Coffee languages”.
Hình 6: Doanh mục chi phí và doanh thu.
Hình 7: Bảng ước tính chi phí và doanh thu 6 tháng đầu của năm thứ nhất.
Hình 8: Bảng ước tính chi phí và doanh thu hằng quý của 4 năm đầu.
Hình 9: Sinh viên tham gia trao đổi và nói chuyện với người nước ngoài
Hình 10: Mô hình một buổi nói chuyện theo chuyên đề.
Hình 11: Mô hình minh họa về việc chia nhóm theo trình độ, độ tuổi....

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 1/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐỐI VỚI SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1. Yêu cầu tất yếu của đa số các nhà tuyển dụng: ............................................................. 9
2. Mở rộng hợp tác quốc tế: ............................................................................................... 9
3. Tiếp cận tri thức thế giới dễ dàng hơn: ........................................................................ 10
4. Có nhiều cơ hội và sự thăng tiến: ................................................................................ 11
5. Phần thưởng xã hội: ..................................................................................................... 11
6. Tạo được thương hiệu cá nhân: ................................................................................... 11
7. Giúp tăng cường trí óc: ................................................................................................ 11

CHƢƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG VIỆC HỌC NGOẠI NGỮ CỦA
SINH VIÊN HIỆN NAY
1. Những vấn đề chung trong việc học ngoại ngữ của sinh viên: .................................... 13
2. Thực trạng việc học ngoại ngữ của sinh viên ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM: ....... 17
2.1. Về năng lực ngoại ngữ: ........................................................................................ 17
2.2. Nhiều sinh viên vẫn chưa xây dựng được động cơ và thái độ đúng
đắn cho việc học ngoại ngữ: ................................................................................. 18
2.3. Trong cùng một lớp học nhưng trình độ khá chênh lệch giữa các sinh viên: ....... 18
2.4. Thiếu giảng viên giảng dạy: ................................................................................. 19
2.5. Giáo trình chưa phù hợp: ...................................................................................... 19
2.6. Sinh viên thiếu môi trường và cơ hội để rèn luyện: ............................................ 19

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 3/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM
3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên: ......................................................................... 20
3.1. Về phía sinh viên: ................................................................................................. 20


Trang 4/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ngoại ngữ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn hội nhập quốc tế của
nước ta. Sau sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới WTO (7/11/2006), ngày càng có nhiều tập đoàn, công ty đa quốc gia đầu tư vào Việt
Nam. Đó là điều kiện thuận lợi để chúng ta phát triển kinh tế đất nước và tạo ra công ăn
việc làm cho người lao động. Với truyền thống từ lâu, con người Việt Nam cần cù, sáng
tạo và có khả năng nắm bắt nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật và được các nhà tuyển
dụng của các công ty đánh giá cao. Tuy nhiên, một hạn chế của nguồn nhân lực nước ta là
khả năng ngoại ngữ. Kỹ năng nghe nói tiếng ngoại quốc kém và khả năng giao tiếp với
người nước ngoài còn nhiều hạn chế. Đây là rào cản lớn trong vấn đề tìm kiếm việc làm
hoặc làm việc hiệu quả tại các công ty quốc tế. Mặc dù tiếng Anh là ngôn ngữ được sử
dụng phổ biến trên thế giới và được Bộ GD-ĐT đưa vào chương trình học chính thức ở tất
cả các cấp học, ngành học. Nhưng trình độ chuẩn chung về tiếng Anh của nước ta hiện nay
theo các chuyên gia nhận định vẫn còn ở mức thấp và chưa đạt được chuẩn trung bình của
thế giới. Có một thực trạng đáng buồn hiện nay là có tới 51.7% SV tốt nghiệp ra trường
không đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng tiếng Anh. Đó là kết quả khảo sát được Vụ Giáo
dục ĐH (Bộ GD-ĐT) thống kê từ báo cáo về tình hình giảng dạy tiếng Anh của 59 trường
ĐH không chuyên ngữ trong cả nước vào cuối năm 2008. Nguyên nhân của tình trạng này
có sự tác động từ nhiều phía trong đó chủ yếu là do thực trạng dạy và học ngoại ngữ tại các
trường học trong cả nước hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập. Dó đó các đề xuất về các
phương pháp dạy và học mới nhằm nâng cao chất lượng học ngoại ngữ trong các trường
đại học trong giai đoạn hiện nay là thực sự cần thiết.

 Sinh viên đang theo học tại trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM.
 Cán bộ giảng viên đang giảng dạy tại ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM.
 Ngôn ngữ nghiên cứu chủ yếu là tiếng Anh. Ngoài ra có thể nghiên cứu thêm
một số ngoại ngữ phổ biến như: Pháp, Nhật, Hoa.
 Các loại hình dịch vụ giải trí gần gũi đối với đối tượng sinh viên.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
 Phƣơng pháp điều tra phỏng vấ n:
Lập và phát hơn 650 phiếu khỏa sát cho sinh viên trường ĐH.SPKT và hơn 100 phiếu
đánh giá cho các thầy cô, giáo, giảng viên trong trường.
 Phƣơng pháp quan sát:
Quan sát hiện trạng các dịch vụ giải trí tại khu vực địa bàn quận Thủ Đức và quận 9.
 Phƣơng pháp tham khảo tài liêu:
̣
Tham khảo các nguồn tài liệu từ sách, báo, tạp chí, internet, ngân hàng đề tài nghiên
cứu khoa học tập tại Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh.
 Phƣơng pháp thố ng kê, phân tích định tính định lƣợng:
Thống kê số liệu từ các phiếu điều tra khảo sát, các nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp
và phân tích xử lý số liệu.
 Phƣơng pháp mô hình hóa:
Xây dựng mô hình quán cà phê ngoại ngữ.

5. Phƣơng pháp thu thập thông tin:
 Nguồn thông tin sơ cấp: Khảo sát thực tế, phát phiếu điều tra để thu thập thông
tin, xử lý và chọn thông tin hữu ích.
GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 6/45



giả Nguyễn Minh Nhật – Đại học Hồng Bàng.
Nhìn chung, các đề tài này đã có đề cập nhiều về thực trạng cũng như những vấn đề
cần giải quyết trong việc học ngoại ngữ của sinh viên hiện nay. Các đề tài này cũng đã đề
xuất một số giải phát nhằm phát triển kỹ năng nghe và khả năng tự học Anh văn có hiệu
quả. Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu kỹ về kỹ năng nghe – nói trong vệc học
ngoại ngữ của sinh viên và xây dựng một mô hình giải pháp để phát triển kỹ năng này. Các

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 7/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM
đề tài nghiên cứu về dịch vụ quán cà phê đã đề cập ở trên cũng chỉ nghiên cứu phát triển
một số loại hình dịch vụ quán cà phê mới như cà phê di động, cà phê Internet. Chưa có một
đề tài nào nghiên cứu về mô hình quán cà phê kết hợp với việc học tập ngoại ngữ.

7. Những vấn đề còn tồn tại trên thực tế của đề tài:
Như đã đề cập ở phần trên dịch vụ quán cà phê sử dụng ngôn ngữ giao tiếp là tiếng
Anh đã xuất hiện ở một số nơi tại TP.HCM. Tuy nhiên những quán này hầu hết là hình
thành một cách tự phát do ý tưởng của một số cá nhân yêu thích Anh văn và chỉ giải quyết
nhu cầu luyện nói tiếng Anh của một số người. Do đó mô hình còn ở tính nhỏ lẻ và chưa
phát huy được hết hiệu quả thực sự của nó và chưa có sự hỗ trợ tích cực cho đông đảo sinh
viên. Và cũng chưa có một đề tài, một công trình nghiên cứu thật sự nghiêm túc về mô
hình “Coffee langues”, một mô hình mới mẽ nhưng có khả năng mang lại hiệu quả cao
trong việc kết hợp giữa học tập và giải trí này.

8. Kết cấu của đề tài nghiên cứu:
 Phần mở đầu

việc của sinh viên như: An ninh mạng, thiết kế website, giao dịch chứng khoán, tài chính,
kiểm toán, PR hay ngân hàng… thì trình độ ngoại ngữ là một trong những tiêu chí hàng
đầu để sàn lọc ứng viên. Ngoài ra muốn tìm được một công việc tốt với mức lương cao thì
ngoài kiến thức chuyên môn và các kỹ năng trong công việc, các bạn sinh viên cũng cần
phải giỏi ngoại ngữ. Ngay cả đối với những nhân viên lâu năm trong các công ty, nếu bản
thân họ không có trình độ ngoại ngữ và khong có hướng cải thiện thì sớm muộn gì cũng bị
đào thải. Sống trong thời buổi công nghệ thì không những phải biết ngoại ngữ mà còn phải
thông thạo ngoại ngữ Do đó, ngoại ngữ sẽ là phương tiện giúp ta thành công trong công
việc.

2. Mở rộng hợp tác quốc tế:
Tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới và trong lĩnh
vực tự nhiên và xã hội, tiếng Anh là ngôn ngữ đã và đang trở thành ngôn ngữ quốc tế. Tất
cả các hội thảo quốc tế và các tạp chí khoa học chuyên ngành hàng đầu thế giới đều sử
dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức.
Hơn nữa, kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ trở nên phổ biến và cần thiết hơn bao giờ
hết, nhất là khi Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế theo quỹ đạo
của thế giới. Vì thế, nếu muốn tham gia vào tiến trình này, mọi người phải biết tiếng Anh,

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 9/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM
để liên lạc với các doanh nhân, để tham dự hội thảo, để đọc báo và tạp chí thương mại
quốc tế v.v...Những lĩnh vực kinh doanh ngày nay hầu hết đều mang tầm vóc quốc tế, và
những giao dịch đó đều tiếng hành bằng tiếng Anh, vì thế không thể giao tiếp trược tiếp
với đối tác người nước ngoài bằng ngoại ngữ là một điều thiệt thòi lớn.


GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 10/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM

4. Có nhiều cơ hội và sự thăng tiến:
Theo một điều tra của Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước ĐNA (SEAMEO)
năm 2006 thì nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong công việc hằng ngày ở các công ty VN, các
tổ chức hành chính sự nghiệp khá cao, từ trung bình tới nhiều chiếm 69%.
Khi ngoại ngữ tốt thì cơ hội việc làm của người đi xin việc là cao hơn những ứng
viên khác trong cùng điều kiện.cơ cao hơn. Trong các công ty, biết ngoại ngữ xem là điều
kiện thuân lợi để được chọn đi công tác nước ngoài hoặc làm việc với các đối tác nước
ngoài. Đó cũng là cơ sở để nhân viên công ty có mức lương cao hơn hoặc được đề bạt lên
những vị trí cao hơn trong công ty.
Muốn trở thành một doanh nhân đẳng cấp quốc tế, hay một nhà khoa học tài giỏi,
chúng ta phải liên lạc với những doanh nhân, nhà khoa học ở những nước khác, tham gia
hội nghị quốc tế, thăm các trung tâm học thuật nước ngoài. Tìm hiểu những phát triển mới
thông qua sách báo, tạp chí, sử dụng máy tính thật hiệu quả hơn. Hầu hết các máy tính đều
dùng tiếng Anh, do đó chúng ta sẽ hiểu chúng rõ hơn và trở thành nhân viên giỏi giang
hơn. Có ngoại ngữ tốt thì việc điều hành công việc khá dễ dàng, giao tiếp với đối tác nước
ngoài không gặp khó khăn cũng làm chúng ta tự tin hơn rất nhiều.

5. Phần thƣởng xã hội:
Biết thêm một ngoại ngữ là chúng ta đã sống thêm một cuộc đời khác, biết càng
nhiều ngôn ngữ khác nhau càng làm giàu thêm cuộc sống tinh thần và hành trang văn hóa
của mỗi người, không biến mình thành kẻ ngoài cuộc khi bạn bè hay những người xung

cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện hóa đất nước.

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 12/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM

CHƢƠNG II
NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG VIỆC HỌC NGOẠI NGỮ CỦA
SINH VIÊN HIỆN NAY
1. Những vấn đề chung trong việc học ngoại ngữ của sinh viên:
Mặc dù đã ý thức được về vai trò của ngoại ngữ, tuy nhiên thực trạng học ngoại
ngữ của sinh viên Việt Nam vẫn chưa đạt hiệu quả cao, và chua ứng dụng được nhiều
trong công việc và cuộc sống. Rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề này.
Trên tờ Dân trí, ngày 29-3-2007, có bài “Kém ngoại ngữ, sinh viên Việt Nam mãi tụt hậu”,
trong đó viết: “Không ít các tân cử nhân sớm bị loại khỏi các cuộc tuyển dụng chỉ vì vốn
tiếng Anh quá nghèo nàn…”; trênVnexpress có bài “Mười năm học tiếng Anh, sinh viên
Việt Nam vẫn không nói được”; trên tờ “Người lao động” có bài “Sáu điểm yếu của sinh
viên Việt Nam” và nêu rõ một trong sáu điểm yếu đó là “ trình độ Anh ngữ còn rất hạn chế
v.v…Mặc dù là một môn học chính thức, bắt buộc trong các trường đại học, cao đẳng
nhưng việc giảng dạy môn ngoại ngữ chưa thực sự được tốt. Ở các trường tiểu học chúng
ta đã được học ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh), lên trung học và phổ thông trung học
chúng ta lại tiếp tục được học thêm một vài ngoại ngữ khác. Điều đáng buồn là trình độ
của đa số học sinh, sinh viên vẫn chỉ là trình độ sơ cấp.
 Theo nhận định của các nhà nghiên cứu giáo dục, thế mạnh của sinh viên Việt Nam
trong học ngoại ngữ (chủ yếu học tiếng Anh) là kỹ năng đọc-hiểu, viết và ngữ pháp; kỹ
năng yếu nhất là kỹ năng giao tiếp nghe- nói. Số lượng sinh viên nghe nói đọc viết thành

học theo một giáo trình có sẵn. Đến khi thi, lại không phải những kiến thức đã được học
mà chủ yếu là kiến thức sinh viên đi học thêm ngoài hoặc học từ thời phổ thông.
 Về trang thiết bị dạy học hỗ trợ cho việc học ngoại ngữ của sinh viên cũng chưa đủ
đáp ứng và hầu như đã lỗi thời. Các trung tâm trực thuộc trường đại học và trung tâm tư
nhân của Việt Nam, trung tâm thuộc trường Phổ thông trung học phần lớn thiếu các công
cụ học tập cần thiết như phòng luyện âm, phòng máy đa phương tiện, thư viện, phòng hỗ
trợ tự học. Ngay cả nhiều trường có trang bị máy casset, phòng lab nhưng hầu hết các thiết
bị đã quá cũ, chỉ một số là dùng được, số còn lại chất lượng không tốt. Theo thống kê của
Bộ GD-ĐT vào cuối năm 2008, hiện tại ở Việt Nam, gần 70% số trường ĐH trang bị
phòng học tiếng Anh, và gần một nửa kết nối mạng Internet để sinh viên học tiếng Anh.
Thế nhưng thời lượng môn tiếng Anh học tại phòng nghe chỉ chiếm khoảng 10%. Có đến
gần 65% số trường không dùng phần mềm hỗ trợ giảng dạy tiếng Anh.
 Về phía các giảng viên giảng dạy ngoại ngữ ở các trường ĐH cũng có nhiều vấn
đề. Theo một kết quả nghiên cứu của Viện khảo thí giáo dục Hoa Kỳ tại Việt Nam năm
2008, có đến 75% giáo viên tham gia đợt thăm dò cho biết đã tốt nghiệp đại học hay sau
đại học, nhưng đến 74% tốt nghiệp trong nước và hầu như rất ít người tham gia tập huấn
định kỳ về phương pháp giảng dạy. Có đến gần 50% giáo viên trả lời chưa hề được tham
gia tập huấn về giảng dạy tiếng Anh. Điều này có thể là nguyên nhân chính khiến các
phương pháp giảng dạy mới chưa được các giáo viên này giới thiệu và áp dụng rộng rãi.
 Sinh viên các trường ngoại ngữ thường có niềm đam mê học ngoại ngữ từ cấp 2,
cấp 3 có vốn liếng ngoại ngữ kha khá và thi đầu vào bằng ngoại ngữ. Thế nhưng một thực

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 14/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM
tế, không ít sinh viên các trường ngoại ngữ lại yếu kém ngoại ngữ. Qua nhiều khảo sát tại

đơn vị Việt Nam được khảo sát có phỏng vấn người xin việc bằng tiếng Anh trong khi tỷ lệ

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 15/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM
này ở các đơn vị nước ngoài là 91%. Các cơ quan sử dụng lao động đều khẳng định các kỹ
năng ngoại ngữ còn yếu là nghe, nói và viết. Thậm chí với nhiều sinh viên tốt nghiệp đại
học thì họ đã có 11 năm học tiếng nước ngoài nhưng thực tế không đủ cho nhà tuyển dụng
hỏi 1 giờ. Ngày 5/12/2008, Bộ GD-ĐT, Viện khảo thí giáo dục Hoa Kỳ cùng hơn 160
trường ĐH trên cả nước đã bàn về chất lượng đào tạo tiếng Anh trong các trường đại học
không chuyên ngữ. Không khó để nhìn thấy các cử nhân sau khi tốt nghiệp ra trường đều
chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội bởi trình độ tiếng Anh thấp. Đây là hệ quả của việc
đào tạo đồng loạt không phân loại sinh viên giỏi hay chưa biết ngoại ngữ, gây lãng phí tiền
bạc, thời gian. Tại hội nghị này, phản ánh về thực trạng giảng dạy tiếng Anh trong các
trường ĐH trên cả nước, Ths Đoàn Hồng Nam, đại diện Viện Khảo thí giáo dục Hoa Kỳ
cho rằng, với thời lượng phân bổ chương trình cho tiếng Anh như hiện nay thì không thể
đảm bảo 100% sinh viên ra trường đáp ứng đúng trình độ mà các nhà tuyển dụng yêu cầu.
“Nguồn: Báo tuổi trẻ 6/12/2008”
 Có một mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu nghiêm ngặt về trình độ ngoại ngữ mà
mọi sinh viên đều phải đạt trước khi công nhận tốt nghiệp, và một bên là đánh giá của
những người sử dụng các sinh viên tốt nghiệp ra trường với trình độ ngoại ngữ đã được các
trường đại học thừa nhận. Khả năng sử dụng được tiếng Anh trong môi trường làm việc
của sinh viên sau khi tốt nghiệp ĐH là rất hạn chế và không đáp ứng được yêu cầu của đại
đa số các đơn vị sử dụng lao động. Theo kết quả khảo sát về tình hình giảng dạy tiếng Anh
của 59 trường ĐH không chuyên ngữ trong cả nước như đã nêu ở phía trên được Vụ Giáo
dục ĐH thống kê và báo cáo tại hội thảo "Đào tạo tiếng Anh trong các trường ĐH không


42%

Hạn chế

Hình 2: Năng lực ngoại ngữ của sinh viên ĐH. SPKT do sinh viên tự nhận xét.
Trong các kỳ thi kiểm tra cuối kỳ hay cuối khóa, mặt bằng chung về điểm của môn
Anh văn luôn thấp hơn so với những môn khác. Ngoài những yếu tố mang đặc thù riêng
của từng môn thì thực trạng dạy và học tại trường hiện nay cũng là một vấn đề phải quan

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 17/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM
tâm. Đa số sinh viên phản ánh thực trạng là họ học rất lâu song mức độ tiến bộ theo họ tự
nhận xét là rất ít.
Trình độ đọc viết cũng hạn chế, không đủ khả năng cho chuyên ngành. Qua tìm
hiểu một số đối tượng sinh viên năm cuối thì có không quá 10% sinh viên sử dụng được
ngoại ngữ để tiếp cận với tài liệu chuyên môn.

2.2.Nhiều sinh viên vẫn chƣa xây dựng đƣợc động cơ và thái độ đúng đắn
cho việc học ngoại ngữ:
Trình độ thấp nhưng nhiều sinh viên vẫn chưa ý thức được vai trò của ngoại ngữ
đối với công việc và sự phát triển sự nghiệp trong tương lai của mình hoặc khi ý thức được
thì đã sắp sửa ra trường không còn thời gian để đầu tư cho việc học ngoại ngữ nữa. Nhiều
sinh viên vẫn học ngoại ngữ với suy nghĩ đây là môn học bắt buộc và thời lượng lại nhiều
chứ không phải coi đây là một sở thích và một niềm đam mê thực sự.

Những sinh viên giỏi cảm thấy nhàm chán vì phải học lại những gì mình đã học trong khi
những sinh viên khác lại không theo kịp được chương trình.

2.4.Thiếu giảng viên giảng dạy:
Bộ môn ngoại ngữ được ở tất cả các ngành, các khoa các hệ trong trường đều được sự
phân công và quản lý của khoa Ngoại Ngữ. Hiện tại khoa Ngoại Ngữ có 17 giảng viên và 1
cán bộ văn phòng. Trong đó có 4 giảng viên chính, 8 giảng viên và 5 trợ giảng, có 1 PhD,
1 đang làm nghiên cứu sinh, 10MA (TESOL) và 4 Cử nhân (hiện đang theo học các lớp
Cao học). Ngoài ra khoa còn liên hệ một số giảng viên thỉnh giảng khác. Tuy nhiên con số
này là quá tí so với số sinh viên trong trường. Ngoại trừ những sinh viên năm 4, năm 5 đã
hoàn thành các môn Anh văn cơ sở và Anh văn chuyên ngành. Còn lại trên 10.000 sinh
viên đang học ở những cấp độ khác nhau. Do đó phải có sự cố gắng nhiều, các thầy cô mới
có thể đảm bảo khối lượng giảng dạy ngoại ngữ cho toàn bộ các khoa, các hệ bậc đào tạo
trong toàn trường.
Áp lực nặng nề về khối lượng giảng dạy, khiến các giảng viên bộ môn ít có thời
gian đầu tư vào việc tham khảo thông tin, tài liệu mới, cập nhật và nâng cao trình độ
chuyên môn và tham gia các hoạt động nghiên cứu. Từ đó ảnh hưởng một phần không nhỏ
đến chất lượng giảng dạy.

2.5.Giáo trình chƣa phù hợp:
Hiện tại,tất cả các ngành học và các hệ bậc học đều sử dụng bộ giáo trình do nước
ngoài biên soạn (Newheadway cùng một số tài liệu phụ trợ khác) cho giai đoạn cơ sở.
Trong giai đoạn chuyên ngành sử dụng giáo trình tự biên soạn hoặc chọn lựa từ các giáo
trình sẵn có của các trường hoặc của nước ngoài. Và với bộ giáo trình Newheadway học
trong giai đoạn cơ sở theo đánh giá của một số thầy cô trong trường là chưa phù hợp vì
giáo trình này viết không phải viết chọn lọc cho đối tượng sinh viên. Tuy nhiên vì chưa tìm
được giáo trình thay thế tốt hơn, phù hợp hơn nên vẫn phải sử dụng. Và giáo trình cho các
chuyên ngành hầu như chưa được đầu tư đúng mức, mỗi khoa làm theo một cách riêng của
mình. Có khoa tổ chức biên soạn hoặc lấy từ bài giảng của một số giản viên, có khoa sử
dụng những giáo trình sẵn có trên thị trường. Điều này cũng một phần gây khó khăn cho

3.1.Về phía sinh viên:
 Sinh viên bị mất căn bản từ các lớp dƣới:
Biểu hiện của tình trạng này là vốn từ nghèo nàn, không nắm được ngữ pháp, phát
âm không chuẩn, kỹ năng nói viết chưa đạt yêu cầu nhất là kỹ năng nghe. Nguyên nhân
một phần từ việc chưa nhận thức được sự quan trọng trong việc học ngoại ngữ của học
sinh, học chỉ cốt để lấy điểm, để cho qua các kỳ thi. Một phần từ sự thiếu quan tâm đúng
mức từ các trường: chưa phát triển kỹ năng nghe và phát âm chuẩn ngay từ khi hoc sinh
mới bắt đầu vào học, chương trình dạy ngữ pháp tràn lan và chưa có sự định hướng cho
học sinh, thiếu sự liên kết về nội dung giữa các bậc học, các khối lớp.
 Thiếu phƣơng pháp học:
Do chưa thống nhất được chương trình trong toàn bộ hệ thống giáo dục và bản
thân chưa có sự định hướng nên sinh viên học ngoại ngữ một cách lan man, cho gì học
nấy, gặp sách gì đọc sách nấy. Từ đó dẫn đến tình trạng học nhiều nhưng kiến thức thu
nhặt được thì không có bao nhiêu. Một ví dụ rõ nhất của sự thiếu phương pháp là việc
sinh viên biến giờ học đọc hiểu thành giờ dịch thuật văn bản. Thay vì thao tác đoán từ mới
theo ngữ cảnh và tìm những thông tin cần thiết cho để đáp ứng yêu cầu của bài thi, sinh
viên lại quen sử dụng từ điển và say sưa dịch toàn bộ văn bản.

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 20/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM
 Sinh viên không chủ động mạnh dạn trong thực hành giao tiếp:
Yếu tố quan trọng nhất trong dạy ngoại ngữ là dạy cách phát âm chuẩn. Nhưng đa
số sinh viên phát âm sai, sau đó bị mất gốc, sửa mãi không được. Từ đó, sinh viên cảm
thấy không tự tin khi sử dụng ngoại ngữ như một phương tiện giao tiếp. Ngoài ra tâm lý e
dè, sơ bị đánh giá, coi thường nên các sinh viên có trình độ còn hạn chế không dám thể

Trang 21/45


Đề tài: Mô hình “Coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm
cho sinh viên tại trường ĐH.SPKT.TP.HCM
Bên cạnh đó chương trình còn chưa cân đối giữa phần lý thyết và phần thực hành.
Còn tập trung quá nhiều cho tiếng Anh chuyên ngành. Và như vậy cho dù sinh viên có học
các thuật ngữ hay các từ ngữ tiếng Anh chuyên ngành giỏi đến đâu chăng nữa thì cũng khó
có thể nâng cao các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Anh trong giao tiếp. Và sinh viên có
thể thuộc các thuật ngữ chuyên ngành, nhưng để sử dụng thực tế trong giao tiếp lại không
đáp ứng được yêu cầu xã hội.
Cách dạy hiện nay cũng chưa bắt sinh viên phải làm việc nhiều, chưa có sự liên hệ
thực tiễn nhiều gây nhàm chán trong sinh viên.
3.3.Các nguyên nhân khác:
 Các trung tâm ngoại ngữ chƣa thực sự là giải pháp tốt cho sinh viên:
Nhìn chung, các trung tâm trong nước thường ít quan tâm đến sự có mặt của học
viên tại lớp học và chất lượng của học viên trong quá trình học. Học viên chỉ cần ghi danh,
đóng tiền đầy đủ rồi muốn học ra sao thì học. Thậm chí có lớp học đã gần quá nửa chương
trình, nhưng vẫn cho học viên đăng ký nếu ghi danh nếu có nhu cầu học. Giáo viên dạy tại
các trung tâm này hầu hết là người Việt và cũng chưa có sự chọn lọc xét tuyển kỹ càng ban
đầu. Thêm vào đó chưa có sự thống nhất trong chương trình dạy tại các trung tâm này. Từ
đó tạo sự thiếu tin tưởng và niềm hứng thú để sinh viên theo học.
Còn đối với các trung tâm Anh Ngữ nước ngoài. Thế mạnh của các trung tâm này
là cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại (phòng lab, phòng học có gắn máy lạnh..), đội ngũ giảng
dạy giàu kinh nghiệm, có bằng cấp quốc tế…Tuy vậy, điều thu hút học viên đến với các
trung tâm này thực chất vẫn là cái mác giáo viên nước ngoài. Và không phải sinh viên nào
cũng có đủ kinh phí để tham gia các khóa học tại đây.
 Các diễn đàn, các câu lạc bộ ngoại ngữ chƣa thu hút sinh viên:
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên một phần do tính không mạnh dạn tự tin giao
tiếp bằng Anh văn của sinh viên khi họ nhận thấy trình độ của mình còn quá kém hoặc sợ

nhiều nhất là Internet (184/657 phiếu - chiếm tỷ lệ 28%) và đọc sách báo, chơi thể thao
(144/657 phiếu - chiếm tỷ lệ 22%), kế đến là tham gia các dịch vụ ăn uống (chiếm tỷ lệ
21%), chơi game (chiếm tỷ lệ 19%), còn lại một số sinh viên có những hình thức giải trí
khác như xem truyền hình, hát karaoke, chơi billard, mua sắm….

10%

22%

Đọc sách báo,
chơi thể thao
Internet, nghe
nhạc, xem phim
Chơi game

21%

28%
19%

Các dịch vụ ăn
uống
Các hoạt động
khác

Hình 3: Thực trạng việc giải trí của sinh viên trường ĐH.SPKT

GVHD: Nguyễn Thị Châu Long

Trang 23/45


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status