tiểu luận cao học môn quản lý hành chính nhà nước “Khắc phục tình trạng quá tải tại khoa nội tổng hợp bệnh viện đa khoa trung tâm an giang hiện nay thực trạng và giải pháp - Pdf 38

MỞ ĐẦU
Các hoạt động y tế là phần không thể thiếu được trong xã hội loài người, con
người luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không những của bản thân mà của cả
gia đình mình. Không một ai lại sống mà luôn luôn khoẻ mạnh cả bởi sự thay đổi
thường xuyên của môi trường sống cùng với sự vận động của thế giới tự nhiên. Các
hoạt động y tế mà con người sáng tạo ra cũng chính nhằm mục đích điều hoà những
tác động không tốt của môi trường sống tới con người.
Do đó, các hoạt động y tế là không thể thiếu được trong đời sống con người.
Tuy mỗi con người có cuộc sống khác nhau nhưng các hoạt động y tế lại đóng vai trò
tác động chung tới từng người nhằm duy trì và phát triển giống nòi. Qua những tác
động to lớn của y tế tới đời sống con người như vậy cho nên mỗi quố c gia trong quá
trình phát triển kinh tế, xã hội cần phải chú trọng và lấy mục tiêu chăm sóc sức khoẻ
cho con người làm gốc, định hướng cho các chương trình kinh tế - xã hội khác vì một
mục tiêu chung là phát triển bền vững. Điều này cũng được thể hiện xuyên suốt trong
đường lối xây dựng và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định một
cách rõ ràng trong Nghị quyết TW4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII:
Con người là nguồn tài nguyên quí báu nhất của xã hội, con người quyết định sự phát
triển của đất nước, trong đó sức khoẻ là vốn quí nhất của mỗi con người và của toàn xã
hội. Do vậy, với bản chất nhân đạo và định hướng xã hội chủ ngh a trong nền kinh tế
thị trường, ngành y tế phải đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khoẻ
cho nhân dân.
Ở nước ta, tình trạng quá tải bệnh viện hiện nay là một vấn đề hết sức bức
xúc, gây rất nhiều áp lực cho ngành y tế nói chung. Khắc phục tình trạng quá tải
bệnh viện có ý nghĩa, không chỉ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y
tế, nâng cao uy tín và tạo ấn tượng tốt đẹp về phong cách phục vụ, chất lượng khám
chữa bệnh của bệnh viện trong lòng người dân mà còn đảm bảo sự công bằng trong
khám chữa bệnh, thể hiện tính ưu việt của chế độ, đồng thời hiện thực hóa quan
điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02
năm 2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình
hình mới “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm

k h o a T r u n g t â m A n G i a n g h i ệ n n a y - t h ự c t r ạ n g v à g i ả i p h á p " để làm
Tiểu luận tốt nghiệp với hy vọng tìm ra các giải pháp giảm tải hữu hiệu, góp phần xây dựng
khoa Nội Tổng hợp thành một khoa điều trị hiệu quả, an toàn và thân thiện không chỉ cho
người bệnh mà còn cho cả cán bộ công chức trong Khoa, đáp ứng yêu cầu về chăm sóc sức
khỏe ngày càng cao của người dân trong tình hình mới.
2


Chương 1
VẤN ĐỀ VỀ QUÁ TẢI BỆNH VIỆN VÀ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƯỚC TA

1.1.

KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG HẬU QUẢ CỦA QUÁ TẢI BỆNH VIỆN

1.1.1. Khái niệm quá tải bệnh viện
Để đảm bảo hiệu quả, chất lượng của dịch vụ trong hoạt động của hệ thống khám,
chữa bệnh, Tổ chức y tế thế giới và nhiều bằng chứng khoa học khuyến cáo công suất sử
dụng giường bệnh không nên vượt quá 85%. Khi công suất sử dụng giường bệnh vượt quá
mức trên, đặc biệt khi công suất lên quá cao, trên 95% sẽ thường xuyên xảy ra tình trạng
không đủ giường bệnh để tiếp nhận thêm người bệnh, đặc biệt là đối với các trường hợp cấp
cứu. Người bệnh sẽ phải nằm ghép trong trường hợp bệnh viện buộc phải tiếp nhận thêm,
dẫn tới tình trạng quá tải bệnh viện.
Do đó, quá tải bệnh viện được xem là hiện tượng quá đông người bệnh tới khám
hoặc điều trị tại cùng một thời điểm vượt khả năng đáp ứng và sức chứa của một bệnh viện
hoặc khoa trong bệnh viện.
1.1.2. Nguyên nhân và hậu quả của quá tải bệnh viện:
❖ Nguyên nhân:
Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu chiến lược Bộ Y tế và qua thực tiễn cho

là nguyên nhân dẫn tới những hậu quả sau:
*
-

Giảm chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc người bệnh:

Đối với khám bệnh, điều trị theo đơn hoặc điều trị ngoại trú: người bệnh phải chờ
đợi lâu khi khám bệnh, làm xét nghiệm, thủ thuật để giúp việc chẩn đoán bệnh; thời
gian khám bệnh, tư vấn hạn chế.

-

Đối với điều trị nội trú: người bệnh phải chờ đợi lâu khi cần được cung cấp dịch vụ
thủ thuật, phẫu thuật...; việc chăm sóc theo nhu cầu người bệnh bị hạn chế như phải
nằm chung giường bệnh; việc hướng dẫn, thực hiện và kiểm tra về chăm sóc người
bệnh như tư vấn bệnh tật, chia sẻ tình cảm, săn sóc ăn uống, ngủ nghỉ, tiếng ồn, các
điều kiện vệ sinh cá nhân, uống thuốc, tiêm thuốc theo giờ, theo dõi người bệnh theo
phân cấp hộ lý bị hạn chế.

*

Thời gian điều trị bị kéo dài do chờ đợi các kỹ thuật chẩn đoán, can thiệp hoặc do
biến chứng trong quá trình điều trị;

*

Giảm sự hài lòng và mức độ hợp tác của người bệnh và gia đình người bệnh với
bệnh viện. Sự bực bội, chán nản của người bệnh và gia đình người bệnh dẫn đến tình
trạng hung dữ, thô lỗ và thậm chí lăng mạ nhân viên y tế, gia tăng các đơn thư khiếu
nại, các hành vi gây hậu quả nghiêm trọng đối với bệnh viện và nhân viên y tế;

không ngừng tăng lên; Việt Nam đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Thiên niên kỷ (trang
2). Bên cạnh đó, chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ còn thấp, hệ thống y tế và
chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, nhất là
đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Vệ sinh, an toàn
thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ (trang 5). Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
cũng đã xác định cần phải tập trung phát triển mạnh hệ thống chăm sóc sức khoẻ và nâng
cao chất lượng dịch vụ y tế. Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa
để phát triển nhanh hệ thống y tế công lập và ngoài công lập; hoàn chỉnh mô hình tổ chức
và củng cố mạng lưới y tế cơ sở. Nâng cao năng lực của trạm y tế xã, hoàn thành xây dựng
bệnh viện tuyến huyện, nâng cấp bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương. Xây dựng thêm
một số bệnh viện chuyên khoa có trình độ cao tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một
số vùng. Xây dựng một số cơ sở khám, chữa bệnh có tầm cỡ khu vực.. Khắc phục t ì n h
trạng quá tải ở các bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện tuyến trung
ư ơ n g v à t u y ế n t ỉ n h . Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các cơ sở
y tế công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch. Chuẩn hoá chất lượng dịch vụ y tế,
chất lượng bệnh viện, từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Đổi mới và
hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh và viện phí phù hợp; có
5


lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Thực hiện tốt chính sách khám, chữa bệnh cho
các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em và người dân tộc thiểu số, chăm sóc sức
khoẻ người cao tuổi. Tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng chuyên môn, y đức, tinh
thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế. Phấn đấu đến năm 2020 tất cả các xã, phường có
bác sĩ. Phát triển mạnh y tế dự phòng, không để xảy ra dịch bệnh lớn.
Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 - 2015:
tiếp tục xác định: công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt nhiều kết quả, mạng lưới y tế cơ
sở, trang thiết bị được đầu tư nâng cấp, mở rộng theo hướng hiện đại (trang 19). Tuy nhiên
ngành y tế có nhiều thay đổi về cơ cấu, tổ chức bộ máy ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến
y tế cơ sở, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của

nằm tách rời nhau nên khó khăn cho việc quản lý, bố trí phòng ốc và nhân sự
2.1.2.
-

Về chức năng nhiệm vụ

Điều trị nội trú các bệnh lý nội khoa thuộc các chuyên khoa tiêu hóa -gan
mật, hô hấp, nội tiết, huyết học, cơ xương- khớp, tim mạch, ngộ độc và tạp
bệnh.

-

Tham gia hội chẩn với tất cả các khoa khác trong bệnh viện hoặc các bệnh
viện khác trong tỉnh khi có yêu cầu.

-

Chỉ đạo tuyến và nghiên cứu khoa học.
2.2.

THựC TRẠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP TỪ NĂM 2010 ĐẾN

2012
2.2.1.

Diễn biến hoạt động khám, chữa bệnh:
❖ Nhân sự:
Trình độ Chuyên môn (Đã có băng tốt nghiệp)
Sơ cấp
Y tá


Tông
số

i

rri Á

Trung học
Dược Vi tính

57
0
2
8


73

2

4

3

1

53

1

hiện có là 77, số nhân sự còn thiếu là 9, trong đó thiếu đến 5 bác sĩ, nhưng
đến nay vẫn chưa được bổ sung.

KET
2010

Ngày điều
trị trung Công suất
X
Giường Kế Số bệnh nhân
bình
sử dụng
Ngày điều trị
hoạch
nội trú
giường
bệnh
90
8609
53970
164,.2%
QUA
6,1
(KH:7500) (KH:45000)
(KH:7)
QUA

115

KET

nặng xin về

60%

0,41%
(KH
bản thân, gia đình bằng cách phổ biến những kiến thức phổ thông và cách phòng ngừa các
bệnh lý nội khoa thường gặp như tăng huyết áp, bệnh lý liên quan đến thuốc lá, tác hại khi
thiếu Iốt, đái tháo đường và những biến chứng, loãng xương, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính,
hen phế quản,viêm loét dạ dày... qua các buổi họp Hội đồng người bệnh hàng tuần tại
Khoa, tại Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh An Giang hoặc tiếp chuyện Đài
phát thanh, truyền hình An Giang .
-

Tổ chức tốt công tác nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng điều trị bệnh
nhân:
Công tác nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động thường xuyên luôn

được lãnh đạo khoa quan tâm. Thời gian qua, Khoa đã nghiên cứu được 6 đề tài. Các đề tài
này đều được hội đồng Khoa học kỹ thuật bệnh viện nghiệm thu. Đặc biệt có 3 đề tài đạt
giải trong hội thi Nghiên cứu Khoa học công nghệ cấp cơ sở, 1 đề tài được chọn đăng trong
1
0


Tạp chí Y học TPHCM năm 2011, 1 đề tài được chọn báo cáo tại Hội nghị KHKT Đồng
bằng sông Cửu L ong mở rộng 2012 tại Cần Thơ, 2 đề tài được chọn báo cáo tại Hội nghị
Nội khoa toàn quốc năm 2013 và được đăng trong Tạp chí Y học TPHCM năm 2013.
-

Triển khai áp dụng một số thiết bị - kỹ thuật mới có giá trị thực tiễn, góp phần nâng
cao chất lượng chẩn đoán và điều trị:
Đặt CVP qua đường tĩnh mạch dưới đòn, Đặt CVP qua đường tĩnh mạch cánh tay,

Nghiệm pháp dung nạp Glucose, Ứng dụng thang điểm blatchford trên bệnh nhân xuất
huyết tiêu hóa trên cấp.Thải sắt bằng máy tiêm truyền dưới da, kết hợp khoa chẩn đoán hình

1
1


2011 là 115 giường và đến năm 2012 tăng lên là 125 giường đã góp phần giảm tải cho
khoa. Trang bị thêm một số trang thiết bị như máy tiêm điện, máy thải sắt, máy đo điện tim,
máy thử đường huyết, máy tiêm truyền tự đông. góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán
và điều trị.
Nhìn chung, mọi hoạt động của Khoa đã tương đối đi vào nề nếp, ổn định và phát
triển theo đúng định hướng chuyên sâu với chất lượng quản lý và điều trị chăm sóc người
bệnh ngày càng được nâng cao ( tỷ lệ điều trị khỏi rất cao (85%), tỷ lệ tử vong và nặng xin
về rất thấp (


nhiễm khuẩn và quy định sử dụng thuốc;
-

Bố trí phòng ốc và phân công bác sĩ phụ trách theo hướng chuyên khoa.
-

Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, nâng cao chất lượng giao ban, kiểm thảo tử vong và
bình bệnh án định kỳ mỗi tháng ...

-

Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, đồng thời làm tốt công tác nghi ên cứu khoa
học.

-

Xây dựng được đội ngũ CBCC có y đức và chất lượng về chuyên môn đáp ứng được
sự hài lòng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân.
2.2.3. Những hạn chế và nguyên nhân:
❖ Những hạn chế :
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, thời gian qua công tác khắc phục sự quá

tải ở khoa vẫn còn một số hạn chế cơ bản sau:
-

Tổng số giường kế hoạch tăng lên hàng năm nhưng không đáp ứng được nhu cầu vì
số bệnh nhân nội trú tăng nhanh, công suất sử dụng giường bệnh và tỉ lệ nằm ghép
còn rất cao dẫn đến tình trạng quá tải cho khoa.

gian nghỉ ngơi, không còn thời gian nghiên cứu, học tập nâng cao kiến thức... Điều
này cũng góp phần làm giảm đi chất lượng điều trị cho người bệnh.
-

Tình trạng trật tự và vệ sinh trong khoa cũng không được đảm bảo.
-

Các máy móc trang thiết bị phải hoạt động hết công suất dễ đưa đến tình trạng hư
hỏng và thiếu chính xác.

-

Với tình trạng quá tải như hiện nay, nếu có thảm họa, dịch bệnh hoặc ngộ độc xảy ra
hàng loạt thì Khoa sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
❖ Nguyên nhân :
Tình trạng quá tải nêu trên là do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

-

Tình trạng tăng dân dố tự nhiên hàng năm (khoảng 2%). Ngoài ra còn do tình trạng
tăng dân số cơ học, nhiều người dân đổ xô về thành thị theo sự phát triển đô thị hóa
của thời kỳ mới.

-

Tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên, vì thế cũng góp phần tạo nên sức ép về
gia tăng dân số và xuất hiện mô hình bệnh tật liên quan đến nhóm tuổi này. Điều này
cũng làm gia tăng đáng kể số người bệnh đến điều trị tại khoa.

-


Với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay, có rất nhiều máy móc trang thiết
bị hiện đại phục vụ cho ngành y, nhưng chỉ tập trung tại các bệnh viện tỉnh hoặc
thành phố lớn. Vì vậy, mạng lưới y tế tuyến huyện chưa đáp ứng được yêu cầu điều
trị ngày càng cao của người dân.

-

Đội ngũ y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu còn mỏng, vẫn tập trung ưu
tiên cho dự phòng bệnh truyền nhiễm và dịch bệnh nguy hiểm, chưa chú trọng nhiều
đến việc dự phòng các bệnh nội khoa mãn tính.
-

Nhu cầu và ý thức khám chữa bệnh của người dân:

Kinh tế, xã hội phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, người dân có nhận
thức cao hơn về nhu cầu chăm sóc sức khỏe, có xu hướng lựa chọn dịch vụ tốt nhất. Đồng
thời, điều kiện giao thông đi lại, thông tin thuận tiện, người dân có xu hướng tìm nơi cung
cấp dịch vụ có chất lượng tốt hơn; Hệ thống tuyên truyền và giáo dục sức khỏe ngày càng
được mở rộng cùng với sự phát triển kinh tế và xã hội, kiến thức của người dân về chăm sóc
với sức khỏe ngày càng được nâng cao. Vì thế, nhu cầu được khám điều trị bệnh ngày càng
nhiều. Và đó là điều kiện quan trọng đề góp phần làm gia tăng số lượng người bệnh đến
khám tại khoa Nội Tổng hợp cũng như các khoa khác của bệnh viện tuyến tỉnh.
-

Tâm lý của người bệnh luôn coi trọng uy tín, chuyên môn, kỹ thuật của tuyến trên,
đồng thời việc vượt tuyến cũng dễ dàng và vẫn được bảo hiểm y tế thanh toán một
phần viện phí nên người bệnh tự ý lên tuyến trên mà không hẳn là do yêu cầu của
bệnh phức tạp cần tới chuyên môn, kỹ thuật cao.


Từng bước khắc phục tình trạng quá tải cho Khoa, tiến tới không có người bệnh nằm
ghép, góp phần nâng cao chất lượng, đảm bảo công bằng trong khám, chữa bệnh đáp ứng
nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân; từng bước cải thiện môi trường
điều kiện làm việc và đời sống cán bộ viên chức; thực hiện thành công các chỉ tiêu, kế
hoạch trong từng thời điểm; phấn đấu xây dựng khoa Nội Tổng hợp từng bước hiện đại,
hướng tới sự hài lòng của người bệnh về chất lượng phục vụ, tạo được một địa chỉ đáng tin
cậy tại An Giang và các tỉnh lân cận. Các mục tiêu cơ bản cần đạt từ nay cho đến năm 2015
như sau:
-

Ngày điều trị trung bình giảm xuống < 5,5 ngày/người.

-

Công suất sử dụng giường bệnh
-

Chuyển khoa: Tăng cường hội chẩn đối với các người bệnh không thuộc bệnh của
chuyên khoa nội để chuyển khoa. Những bệnh nhẹ, chẩn đoán xác định là
17

bệnh của chuyên khoa khác hoặc một số trường hợp đặc biệt bệnh nặng của Khoa hồi sức
có thể áp dụng chế độ hội ý thay cho hội chẩn để gỉảm bớt thủ tục hành chính cho Khoa vì
thủ tục hội chẩn rất rườm rà nên nhiều khi bác sĩ không muốn hội chẩn và để bệnh lại điều
trị tại Khoa.
-

Khoa cấp cứu cần nâng cao chất lượng lọc bệnh, phấn đấu giảm tỷ lệ chẩn đoán
không phù hợp và tỷ lệ lọc bệnh thiếu chính xác khi đưa bệnh vào khoa Nội Tổng
hợp. Tăng cường thực hiện các cận lâm sàng trước khi điều trị và tăng thời gian lưu
người bệnh tại khoa Cấp cứu đối với một số chẩn đoán là bệnh nhẹ, thường gặp hoặc
các chẩn đoán không rõ ràng để quyết định cho người bệnh điều trị ngoại trú hoặc
cho nhập viện vào đúng chuyên khoa.

-

Khoa Khám bệnh cũng cần nâng cao chất lượng lọc bệnh và tăng cường thực hiện
các cận lâm sàng để sớm xác định chẩn đoán và cho nhập viện vào đúng chuyên
khoa.
Như vậy tăng cường chất lượng lọc bệnh sẽ hạn chế được số lượng người bệnh điều

trị nội trú tại Khoa.
❖ Quản lý tốt người bệnh sau ra viện:
-


pháp, kỹ thuật mới có giá trị thực tiển trong chẩn đoán và điều trị.
Nâng cao chất lượng chuyên môn là một việc làm ít tốn kém nhưng đem lại hiệu quả
cao, giải quyết tốt cho người bệnh, xác định chẩn đoán nhanh và điều trị chính xác, giảm đi
sự phiền hà cho người bệnh, cũng như giảm đi chi phí và thời gian điều trị, tránh được trình
trạng người bệnh phải nhập viện nhiều lần do chẩn đoán thiếu chính xác và điều trị chưa
tốt.
3.2.3.

Nâng cao y đức và kỹ năng giao tiếp:
❖ Phải thường xuyên nhắc nhở nhân viên thực hiện tốt 12 điều y đức. Tăng cường giáo
dục về vấn đề y đức và kỹ năng giao tiếp, tập huấn về tâm lý tiếp xúc và tinh thần
thái độ phục vụ cho nhân viên.
❖ Tích cực đẩy mạnh phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” mà trọng tâm là học tập làm theo lời dạy của Bác “Thầy thuốc như mẹ hiền”.
❖ Duy trì các buổi hợp hội đồng người bệnh cấp khoa hàng tuần, cấp bệnh viện hàng
tháng; khảo sát sự hài lòng của người bệnh; ghi nhận các phản ánh qua thùng thư góp
1
8


ý, đường dây nóng và giải quyết kịp thời ý kiến phản ánh của người bệnh và thân
nhân người bệnh.
❖ Tăng mức độ hài lòng thân nhân người bệnh và cán bộ viên chức trong khoa. Phấn
đấu thực hiện tốt quyết định 29/2008/QĐ - BYT của bộ Y Tế về qui tắc ứng xử của
cán bộ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế, đặc biệt cần xây dựng tác phong
làm việc chính qui và khoa học để giảm phiền hà cho người bệnh.
Nâng cao y đức và kỹ năng giao tiếp cho đội ngũ cán bộ y tế hiện nay đóng vai trò
hết sức quan trọng, không chỉ có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, mà còn là việc làm vừa
thường xuyên, vừa mang tính cấp bách của ngành y tế, nhằm nâng cao đạo đức, trách nhiệm
của người thầy thuốc, tạo niềm tin và sự hài lòng đối với người bệnh /thân nhân người bệnh

phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” nhằm giảm tỷ lệ mắc và chết của các
bệnh truyền nhiễm gây dịch, tăng cường phòng chống các bệnh không nhiễm trùng.
❖ Đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, tăng cường năng lực hoạt động của
Trạm y tế xã, phường; thiết lập hệ thống bác s gia đình để quản lý sức khỏe ban đầu
ngay tại cộng đồng, sàng lọc bệnh, hạn chế tự ý lên tuyến trên khám, điều trị không
cần thiết; đẩy mạnh triển khai các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, quản lý
bệnh mạn tính tại y tế cơ sở.
Tăng cường công tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu là giải pháp căn
cơ và lâu dài để giảm quá tải cho bệnh viện nói chung và cho khoa Nội Tổng hợp nói riêng.
3.2.7.

Giải quyết tốt bài toán nhân sự:
Phòng Tổ chức Cán bộ cần tìm nguồn nhân sự để bổ sung hoặc chi viện tạm thời số

bác sĩ thiếu cho Khoa; cần nghiên cứu bổ sung chế độ chính sách như có chế độ đãi ngộ đặc
biệt để thu hút bác sĩ về những khoa đang thiếu; có thể áp dụng cơ chế khoán nếu chưa bổ
sung đủ theo biên chế được duyệt hoặc đề xuất chế độ bồi dưỡng cho phù hợp với tình hình
thiếu nhân sự.
Giải quyết tốt bài toán nhân sự sẽ góp phần rất lớn để khắc phục tình trạng quá tải
cho Khoa vì nhân viên không còn bị áp lực quá nặng của công việc sẽ có nhiều thời gian để
khám bệnh và tư vấn cho người bệnh. Từ đó, chất lượng phục vụ sẽ tăng lên và tránh đi sự
phiền hà cho người bệnh. Với công việc vừa sức, cơ sở vật chất khang trang sạch sẽ, với
phương tiện máy móc hiện đại chắc chắn Khoa sẽ phục vụ tốt hơn vì có nhiều thời gian và
có đủ sức khỏe để đi sâu vào chuyên môn cũng như triển khai được các kỹ thuật cao, tận
dụng được các trang thiết bị hiện đại, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng
cao của nhân dân.
3.2.8.

Tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng bệnh viện:
❖ Xây nhà chờ tiền chế ngay trước khoa Nội Tổng hợp để hạn chế người nhà ở lại

bệnh tại khoa Cấpcứu

và khoa

Khám bệnh đã tương đối đảm bảo.
-

Khoa khám bệnh có thể tổ chức hình thức

điều trị trong ngày.để

hạn chế

người bệnh điều trị nội trú tại khoa Nội Tổng hợp.
-

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính phục vụ công tác khám, chữa bệnh
cho nhân dân kịp thời, thuận lợi, nhất là khâu thanh quyết toán ra viện, thủ tục ra
viện để giảm tối đa thời gian người bệnh nằm chờ nhận giấy ra viện.

-

Tinh giảm các thủ tục cho khoa Nội Tổng hợp như áp dụng chế độ hội ý thay cho
hội chẩn khi chuyển bệnh nhân nhẹ từ khoa Nội đến khoa khác hoặc đối với các
trường hợp đã có chẩn đoán rõ ràng mà hai bên hội chẩn đều nắm vững về bệnh
trạng.

-

Xem xét cho khoa làm thêm ngoài giờ và ngày nghỉ để góp phần làm giảm đi tình

trọng rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hiện tại, khoa đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao và đạt được những
thành tựu nhất định nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của người
dân trong tỉnh. Với sự gia tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học do ngườ i dân đổ
xô về thành thị ngày càng nhiều; chất lượng cuộc sống và tuổi thọ trung bình của
người dân cũng nâng lên; cùng với sự tuyên truyền giáo dục rộng rãi như hiện nay,
kiến thức về bảo vệ sức khỏe của người dân trong cộng đồng cũng được mở rộng và
theo luật bảo vệ sức khỏe, người dân có quyền được khám và chữa bệnh tại bất cứ nơi
nào mà họ tin tưởng; đặc biệt là diễn biến phức tạp của mô hình bệnh tật, tỷ lệ mắc
bệnh không lây nhiễm (chủ yếu là những bệnh lý nội khoa mạn tính) lại gia tăng rất
lớn nên tỷ lệ tái nhập viện cao, tần suất bệnh nặng và bệnh kết hợp nhiều, cần có sự
chăm sóc và theo dõi lâu dài... là yếu tố cơ bản để tăng số lượt khám chữa bệnh và
tổng số ngày điều trị nội trú...dẫn đến tình trạng quá tải cho Khoa. Đây là một vấn đề
hết sức bức xúc hiện nay, cần phải được giải quyết ngay để góp phần làm giảm những
hậu quả của quá tải bệnh viện, giảm tai biến điều trị, rút ngắn được thời gian, chi phí
khám, chữa bệnh, mang lại hiệu quả kinh tế cho người bệnh, gia đình và xã hội; tăng
sự hợp tác phối hợp điều trị giữa người bệnh và nhân viên y tế, giảm đi những vấn đề
bức xúc của xã hội, những mặt trái của xã hội trong môi trường bệnh viện. Trong khi
chờ đợi các giải pháp lớn được thực hiện (bổ sung nguồn nhân lực, tăng cường đầu tư
nâng cấp cơ sở hạ tầng bệnh viện,.) thì các giải pháp tăng cường chất lượng lọc bệnh
kết hợp với quản lý tốt bệnh nhân sau ra viện, nâng cao chất lượng chuyên môn, nâng
cao y đức và kỹ năng giao tiếp là mang tính khả thi (thực hiện được ngay và ít tốn kém
nhất), ổn định và xuyên suốt nhất để khắc phục tình trạng quá tải cho khoa và phù hợp


với điều kiện hiện tại của bệnh viện. Tuy nhiên, giải pháp nào thì cũng cần phải có sự
quyết tâm cao của toàn thể cán bộ công chức trong khoa cùng với sự hợp tác, hỗ trợ
tích cực từ nhiều phía (các khoa, phòng, Ban giám đốc, Sở y tế, Ủy ban nhân dân tỉnh.)
trong suốt quá trình triển khai và thực hiện.
Tôi tin rằng với tất cả các giải pháp trên, nếu được áp dụng một cách đồng bộ sẽ


viện Đa khoa Trung tâm An Giang nói chung và cho khoa Nội Tổng hợp nói
riêng ./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chỉ thị 06/2007/CT-BYT ban hành ngày 07/12/2007 của Bộ Y tế
2. Chỉ thị 05/2012/CT-BYT ngày 10/9/2012 của Bộ Y tế
3. Chương trình số 527/CTr-BYT ban hành ngày 18/6/2009 của Bộ Y tế
4. Đề án 1816 ban hành ngày 26/5/2008 của Bộ Y tế
5. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005
6. Nghị quyết Đảng bộ bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang

nửa nhiêm

kỳ 2010-2015
7. Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam 2009 - 2010
do Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế thực hiện
8. Nguồn số liệu từ phòng Kế hoạch Tổng hợp, khoa Nội Tổng hợp Bệnh viện Đa
khoa trung tâm An Giang
9. Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg ngày 22/2/2008
10. Tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam 2012
11. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
12. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX nhiệm kỳ 20102015



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status