tiểu luận cao học môn quản lý nhà nước Nâng cao chất lượng công tác chuyên môn ở khoa vật lý trị liệu phục hồi chức năng bệnh viện đa khoa trung tâm an giang hiện nay thực trạng và giải pháp đến năm 2015 - Pdf 38

MỞ ĐẦU
Giáo dục sức khỏe, phòng bệnh, điều trị và phục hồi chức năng là bốn yếu tố cơ
bản trong chiến lược chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân của Đảng và Nhà nước
Việt Nam. Chuyên ngành Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng ở Việt Nam bắt đầu hình
thành từ sau ngày hòa bình lập lại - 1945 nhưng đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất
(1975) được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước chuyên ngành Vật lý trị liệu - Phục hồi
chức năng mới được hình thành rõ nét.
“Dân cường thì nước thịnh”, một đất nước mà tỉ lệ người khuyết tật, người cần sự
bảo trợ của xã hội quá cao thì gánh nặng này quả là không thể lường được. Nếu phải tập
trung nhiều tài lực, nhân lực, vật lực cho công tác này thì s ẽ rất tốn kém và khó khăn
cho c ô ng cuộc kiến thiết đất nước. Bác Hồ đã dạy: “ Mỗi người dân yếu ớt, tức là làm
cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là góp phần cho cả
nước mạnh khỏe”.
Trên thực tế, công tác chăm sóc sức khỏe không chỉ là làm sao để người bệnh
được chữa trị tốt nhất, hiệu quả nhất mà một vấn đề không thể xem nhẹ là làm sao phòng
ngừa tàn tật và giúp cho người bệnh sớm tái hòa nhập cộng đồng, sớm trở lại cuộc sống
lao động , học tập, vui chơi,.. .Trong bối cảnh hiện tại, nhận thức của cộng đồng về vấn
đề này còn rất nhiều hạn chế, người bệnh phần đ ng rất xa lạ với danh từ :”vật lý trị liệu Phục hồi chức năng”, ngay cả trong đội ngũ nhân viên y tế khái niệm này cũng chưa
được hiểu một cách thấu đáo, nhiều đồng nghiệp chưa hiểu hết hiệu quả cũng như vai trò
quan trong của Vật lý trị liệu- Phục hồi chức năng . Từ đó, sự phối hợp điều trị, sự hợp
tác của từng cá nhân chưa thực sự như mong muốn. Nhìn riêng lẻ, thì đây có vẻ như chỉ
liên quan đến một con người, một gia đình, nhưng tổng quát hơn nó có ảnh hưởng rất lớn
đến toàn xã hội
Là một ngành khá non trẻ so với lịch sử phát triển của y học hiện đại, bên cạnh đó
đất nước ta đang trong thời kỳ xây dựng và phát triển nên ngành Phục hồi chức năng
Việt nam nói chung , Khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng/ Bệnh viện đa khoa trung


tâm Angiang nói riêng còn đang trong giai đoạn xây dựng và củng cố. So với cả nước, cơ
sở hạ tầng cũng như trang thiết bị phục vụ công tác
Phục hồi chức năng của khoa còn nhiều hạn chế, số lượng nhân viên hoạt động trong lĩnh

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC PHỤC HỒI
CHỨC NĂNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG
1.1.

Những vấ n đề về lý luận:
a) Qu an điểm Đảng về công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân
dân:
Con người là vốn quý của xã hội, một xã hội không thể phát triển tốt nếu không có

những con người vừa có trí tuệ, vừa có sức khỏe. Do đó, vấn đề chăm lo quyền lợi và sức
khỏe cho người dân đã được Đảng và Nhà nước Việt nam quan tâm rất sớm. Điều 61,
hiến pháp 1992 quy định: Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe.
Đảng ta luôn quan tâm và coi c ng tác chăm lo sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ chiến
lược quan trọng.Trong Nghị quyết IV của Ban chấp hành TW Đảng khóa VII về “ một số
vấn đề cấp bách trong c ông tác chăm sóc sức khỏe nhân dân” đã khẳng định “ Con
người là nguồn tài nguyên quan trọng nhất quyết định sự phát triển của
đất nước, trong đó Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội Vì
vậy, đầu tư cho Sức khỏe chính là đầu tư cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân và gia đình”
Trải qua thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước theo con đường định hướng XHCN,
c ông tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càng có nhiều thách thức với
các vấn đề xã hội mới phát sinh như: tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, sự bùng phát
các dịch bệnh nguy hiểm,..
Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính Trị về : Công tác bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe nhân dân” đã chỉ rõ: “Bảo vệ , chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân


dân là hoạt động nhân đạo...Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản
chất tốt đẹp của chế độ”. Mục tiêu của Đảng là: nâng cao sức khỏe, nâng cao chất lượng
chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực. Sự ra đời của Nghị quyết 46-NQ/TW


Ngày 30/6/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 153/2006/QĐTTg về việc “ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt nam đến
năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” phần Phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh
và PHCN có đề cập: Phát triển một số bệnh viện chuyên khoa tỉnh, thành phố phù


hợp với nhu cầu khám, chữa bệnh chuyên khoa của nhân dân. Các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương có số dân từ 01 triệu người trở lên , có thể thành lập các
bệnh viện chuyên khoa như: phụ sản, nhi, điều dưỡng - PHCN”


Ngày 17/6/2010, tại Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt nam Khóa XII, Luật Người khuyết tật được ban hành. Luật đã quy rõ trách
nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với người khuyết tật; quyền và nghĩa
vụ của người khuyết tật trên các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ nu i dưỡng,
học tập, việc làm và sử dụng các công trình công cộng.

-

Điều 23, quy định trách nhiệm của cơ sở khám, chữa bệnh đối với người khuyết
tật.

-

Điều 24, quy định các cơ sở chỉnh hình, PHCN cung cấp các dịch vụ PHCN cho
người khuyết tật.
Sự ra đời của luật Ngưởi khuyết tật không chỉ là niềm vui cho những người khuyết

tật, mà còn thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của Nhà nước Việt nam. Bên cạnh đó,
ngành PHCN cũng được đặt lên vai một sứ mệnh quan trọng: cần phát triển nhanh, mạnh

sớm và phòng ngừa khuyết tật.


*Bộ y tế:
Quán triệt những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, là đầu tàu thực
hiện nhiệm vụ chăm lo sức khỏe của nhân dân, Bộ y tế đã lu n giám sát, kiểm tra, đ n đốc
và kịp thời đưa ra những chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể để toàn ngành thực hiện.
Nhằm tạo cơ sở pháp lý, điều kiện cho ngành PHCN hoạt động thuận lợi theo quy
định của Nhà nước, ngày 24/01/1991 Bộ y tế đã ban hành Nghị định số 23- HĐBT Ban
hành 05 điều lệ: Khám bệnh, chữa bệnh bằng y học dân tộc,Thuốc phòng bệnh, chữa
bệnh; Điều lệ vệ sinh; Khám, chữa bệnh và PHCN; Thanh tra nhà nước về y tế.
Thông tư số 12-BYT/TT ngày 18/11/1993 về Hướng dẫn xây dựng và phát triển
ngành PHCN đã nêu lên những kết quả đạt được, những tồn tại khó khăn của ngành
PHCN. Th ng qua đó, Bộ y tế cũng đưa ra những chỉ đạo cụ thể để phát triển mạng lưới
PHCN trên khắp đất nước.
Chỉ thị số 03/2007/CT-BYT ngày 28/6/2007 về việc tăng cường công tác PHCN
và Thô ng tư số 11/2009/TT-BYT ngày 14/8/2009 về việc: Ban hành Danh mục Kỹ thuật
PHCN và số ngày bình quân mỗi đợt điều trị của một số nhóm bệnh được Bảo hiểm y tế
thanh toán đã tạo thuận lợi rất lớn cho công tác khám, chữa bệnh và PHCN cho người
bệnh .
Điều này một lần nữa khẳng định sự quan tâm đặt biệt của Bộ y tế đối với ngàng
PHCN
Ngày 6/6/2013, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ y tế đã ký Công
văn số 3337/BYT-KCB về việc triển khai quyết định số 1208/QĐ-TTg của Thủ tướng
chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia y tế giai đoạn 2012 - 2015.
*An giang: Chỉ đạo của Ủy ban nhân dân và Sở y tế vế cộng tác
PHCN.
Theo chiều hướng phát triển chung, kinh tế xã hội Tỉnh Angiang ngày càng phát
triển nhanh, đời sống và mức thu nhập của người dân tăng lên, nhu cầu bảo vệ và chăm
sóc sức khỏe của người dân cũng ngày càng cao. Mật độ người bệnh có nhu cầu khám và

c ô ng ty,.

phải đảm bảo người khuyết tật đến được tất cả các nơi.
-

Các phương tiện cộng cộng như xe buýt phài có hệ thống nâng

cóthể đưa xe

lăn lên xuống xe.
-

Nhân viên PHCN và nhân viên công tác xã hội tiếp xúc với bệnh nhân có nhu cầu
ngay từ khi BN được xác định có nhu cầu để tư vấn chương trình


tập luyện cũng như tái bố trí lại m i trường sống ở nhà để người bệnh được cảm
thấy thoải mái nhất ngay khi vừa xuất viện.
-

Người khuyết tật tại các nước này dễ dàng tìm được một công việc phù hợp với
tình trảng sức khỏe để nhanh chóng hòa nhập vào xã hội.

-

Nhu cầu về tinh thần của người khuyết tật cũng rất được chú trọng. tại Hà lan
người khuyết tật được đánh giá, tạo điều kiện để lựa chọn bạn tình và còn
được hướng dẫn cả cách sinh hoạt tình dục thích hợp và an toàn.

b) Thực trạng công tác PHCN ở Việt nam:

2.1.

Đặ c điểm tình hình Khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi chức nă n g:

a) Đặ c điểm:
*Nguồn gốc:
Ngày 11/11/2011, hòa cùng niềm vui Vịnh Hạ long được công nhận là 1 trong 7
kỳ quan thế giới tập thể nhân viên và nhiều bệnh nhân đang điều trị tại Khoa hân hoan
chào mừng lễ khánh thành Khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng. Đây là một dấu
mốc rất quan trọng đánh dấu sự quan tâm của lãnh đạo các cấp đối với đơn vị và cũng là
giây phút hết hết quan trọng đối với những con người mang đầy tâm huyết với ngành.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về nhân sự, trang thiết bị, áp lực của sự quá tải nhưng tất cả
đang mở ra cho mọi người một tương lai đầy hứa hẹn.
Ngoài công việc chính là điều trị cho bệnh nhân tại khoa, khoa còn kết hợp điều
trị cho bệnh nhân đang điều trị tại các khoa lâm sang khác. Song song đó, khoa còn hỗ
trợ chuyên môn cho: hoạt động Phục hồi chức năng của tỉnh do Sở y tế quản lý, hoạt
động chỉ đạo tuyến cho các bệnh viện tuyến Huyện, giảng dạy PHCN cho trường Trung
học y tế Angiang.
Về hợp tác quốc tế: khoa đang được sự hổ trợ của Tổ chức Jica - Nhật bản vể
chuyên môn (01 Tình nguyện viên của Jica đang làm việc tại khoa)
* Thuận lợi:
Khoa lu n được sự quan tâm của lãnh đạo ngành: Sở y tế, Ban giám đốc, Đảng ủy
bệnh viện trong từng bước phát triển.
Có được một đội ngũ nhân viên trẻ, đầy nhiệt tình với tinh thần phục vụ tận tình,
đoàn kết, tương thân tương ái.
Sự hiểu biết, hợp tác của bệnh nhân cũng là một động lực lớn thúc đẩy khoa làm
tốt công tác chuyên môn.
* Khó khăn :



cụ cần thiết nhất.


-

Buồng tập Nhi, tạm đủ phương tiện để phục vụ đối tượng này.

-

Buồng Điện, hiện tại chỉ trang bị được 01 máy siêu âm và 01 máy xung điện.
-

Buồng Hành chánh, được trang bị đủ các trang thiết bị chính như: máy vi tính,
máy in.

-

Nhà vệ sinh: 01 dành cho nhân viên, 01 dành cho bệnh nhân
2.2.

Quá trình thực hiện công tác chuyên môn của Khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi

chức n ăng tro ng th òì gian qua:
Tiền thân là trại Vật lý trị liệu (thuộc Khoa Ngoại - BVĐKTT Angiang) được hình
thành sau khi một tổ chức từ thiện nước ngoài đến khám và làm chân tay giả cho người
bệnh có nhu cầu (trước năm 1975), nhân sự lúc bấy giờ chỉ có 01 điều dưỡng làm công
tác quản lý số liệu và theo dõi người bệnh tập luyện sau khi được lắp dụng cụ chỉnh hình.
Năm 1985, 01 Kỹ thuật viên VLTL được bố trí về trại nhưng c ô ng việc chủ yếu
là phụ việc ở phòng mỗ do không có bệnh nhân có nhu cầu điều trị VLTL. Năm 1986,
được bổ sung thêm 01 bác sĩ và 01 KTV VLTL, số lượng bệnh nhân chỉ có một vài

khớp, ... Khoa cũng được trang bị thêm 01 máy siêu âm, 01 máy xung điện. Đây là một
quyết định hết sức kịp thời để giúp giải quyết tình trạng quá tải ở tuyến trên, đồng thời
gánh nặng về chi phí điều trị người bệnh cũng giảm rất đáng kể, điều này cũng thể hiện
sự tiến bộ vượt bậc về chuyên môn của khoa, là một khẳng định khoa có đủ tư cách là
một đơn vị PHCN tuyến đầu của của Tỉnh nhà, có thể sánh ngang tầm với các tỉnh bạn.
Quán triệt chỉ thị số 3083/SYT-NVYD ngày 30/09/2011: Thực hiện CT
03/2007/CT-BYT về việc tăng cường c ô ng tác PHCN, đẩy mạnh c ô ng tác Can thiệp
sớm cho người bệnh và thực hiện chỉ đạo của ngành là giảm bớt quá tải cho bệnh viện
khoa đã xây dựng kế hoạch từng bước kết hợp với các khoa lâm sàng khác như: Khoa
Nội thần kinh, Khoa Chấn thương chỉnh hình, Khoa Nhi để giúp can thiệp sớm PHCN
cho người nhằm phòng tránh và giảm bớt hậu quả do bệnh tật đem đến.


Mặc dù áp lực về số lượng Bệnh nhân rất lớn, nhưng Ban chủ nhiệm khoa vẫn
quyết tâm cùng nhân viên trong khoa hàng ngày đến tập tại giường cho BN có nhu cầu ở
các khoa khác.Thông qua thời gian tiếp xúc và điều trị, nhân viên của khoa cũng giới
thiệu, hướng dẫn tận tình cho BN và thân nhân của họ biết lợi ích của việc tập luyện,
cách thức tập luyện thích hợp, cách bố trí, sắp xếp lại nhà cửa để thuận tiện cho người
bệnh cũng như các thói quen xấu, các nguy hại cần đề phòng cho người bệnh.
Phối hợp với Phòng điều dưỡng khoa đã tham gia tập huấn cho tất cả điều dưỡng
trong bệnh viện công tác phối hợp chăm sóc điều dưỡng với VLTL cũng như trao đổi
cách biện pháp thực hiện để người điều dưỡng cũng có thể giúp đỡ, nhắc nhở người bệnh
tập luyện VLTL.
Với những kết quả cụ thể mang lại cho BN, khoa đã từng bước tạo được tiếng nói,
khẳng định được vị trí của mình trong công tác chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân
dân, đóng góp rất lớn cho chủ trương chăm lo và giảm tỉ lệ người tàn tật của Đảng và
Nhà nước
Đầu năm 2012, được sự quan tâm của UBND Tỉnh, Sở y tế và Ban giám đốc bệnh
viện Khoa đã làm việc với Tổ chức Jica của Nhật bản.Tháng 5/2012 Tình nguyện viên
của tổ chức này đã chính thức làm việc tại khoa. Với sự hỗ trợ đặc biệt này, Khoa càng




Chân tay giả

SỐ LƯỢNG
BN/NGÀY

CÁC

KHOA

PHỐI
ĐIỀU TRỊ

0

0

HỢP


1986

03

1 bác sĩ

Sốt bại liệt


1995

01

Y sĩ

Chấn thương,
S ố t b ại li ệ t, B
ại não, Tai biến
mạch máu não
(TBMMN)

2002

02

01 Y sĩ
01 KTV VLTL

2007

03

1 y sĩ
2 KTV VLTL

Chân thương, Bại
não, TBMMN

Chấn thương, Bại



09

60 - 80 BN

01 Bác sĩ 01 Cử

Chấn thương, Bại

đến

nhân VLTL

não, Hô hấp,

Chấn thương

nay

05 KTV VLTL

TBMMN, Bệnh lý

chỉnh hình,

01 Tình nguyện

cơ - khớp


260
885

2020
2063

419

1433

Ngoài các dạng bệnh thường gặp khoa đã điều trị chuyên sâu hơn các bệnh: Liệt
tùng, Thoát vị đĩa đệm, Tật gai đô i cột sống bẩm sinh, hô hấp nhi, Thoái hóa khớp gối.
Hàng tháng, Khoa tổ chức 01 buổi thuyết trình bệnh án, 01 buổi học tập chuyên
môn với Tình nguyện viên Jica để trao dồi chuyên môn
Với sự hỗ trợ của Ban giám đốc và Tình nguyện viên Jica Khoa đã tiếp tục phối
hợp với khoa Nội thần kinh để Can thiệp sớm cho BN sau đột quỵ và biên soạn thành


công bộ tài liệu “ Hướng dẫn chăm sóc và tập luyện cho bệnh nhân yếu nửa người” để
phát cho thân nhân BN
Sự phối hợp điều trị với các khoa có liên quan đã mang đến một số kết quả đột
phá:
- Số BN mắc phải di chứng giảm đáng kể (số BN bị cứng khớp sau chấn thương
giảm >50%, viêm phổi do nằm lâu giảm 20%,...)
-

Thời gian điều trị được rút ngắn lại (giảm 2/3 đối với bệnh chấn thương chi trên
hoặc chi dưới).
Phối hợp với phòng Điều dưỡng tập huấn kiến thức về VLTL cho hơn 600 điều


mức thu một số dịch vụ kỹ thuật VLTL đang ở mức thấp so với mặt bằng chung.
Trang thiết bị chủ yếu là các dụng cụ Vận động trị liệu, Hoạt động trị liệu. Điện trị
liệu chỉ mới có 01 máy Siêu âm và 01 máy Xung điện , còn nhiều máy móc cần thiết
chưa được trang bị như: máy k o cột sống, máy sóng ngắn, máy từ trường, bồn sáp,.
Khoa chưa có bác sĩ chuyên sâu về VLTL PHCN, chưa có nhân viên
chuyên ngành Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu chưa phát
triển được lĩnh vực này


Nhân sự của khoa kh ng đủ cho nhu cầu hiện tại ảnh hưởng đến chất lượng điều
trị, chủ yếu là giải quyết về số lượng làm cho BN phải tốn kém nhiều thời gian và chi phí
cho điều trị, qua đó chất lượng sống của BN cũng bị ảnh hưởng
Sự phối hợp điều trị với các khoa có liên quan chưa đồng bộ, chặc ch nên chưa
làm tốt tiêu chí đề phòng loét do nằm lâu do Bộ y tế quy định
Chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động PHCN của khoa tại các khoa
khác.
Nhà vệ sinh phục vụ BN chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ người bệnh theo quy định
của Bộ y tế và Luật Người khuyết tật.
Nhân viên của khoa phần đ ng chưa có nơi ở ổn định nên chưa thật sự yên tâm
công tác.
*Nguyên nhân của những khó kh ăn :
Chưa có nguồn kinh phí hoạt động cụ thể từ cấp trên (chưa có nguồn chi cho hoạt
động PHCN của Tỉnh), chưa có chế độ đãi ngộ đối với người công tác trong lĩnh vực
PHCN.
Do áp lực công việc nên sự quan tâm của lãnh đạo chủ yếu là chiều rộng, chưa
đáp ứng được chiều sâu
Bệnh viện đang quá tải nên nhu cầu mở rộng diện tích hoạt động chưa thể đáp
ứng được.
Ban chủ nhiệm khoa chưa mạnh dạn đề xuất những khó khăn, nhu cầu cấp thiết
với lãnh đạo.

-

Mục tiêu chung:

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ chính trị về
công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; Chăm sóc sức khỏe toàn diện: gắn
phòng bệnh với chữa bệnh, phục hồi chức năng và tập luyện thể dục thể thao nâng
cao sức khỏe.

-

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về Phòng ngừa khuyết tật và PHCN, hướng
tới thực hiện chương trình PHCN dựa vào cộng đồng theo chỉ đạo của Thủ tướng
chính phủ và Bộ y tế.

-

Duy trì và phát triển hợp tác quốc tế, đặc biệt là tổ chức Jica - Nhật bản để tranh
thủ sự giúp đỡ, học hỏi kinh nghiệm và nâng cao trình độ chuyên môn.

-

Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, nâng cao kiến thức chuyên môn,
ngoại ngữ, chính trị cho nhân viên của khoa


-

Xây dựng kế hoạch cải tạo diện tích hoạt động và đầu tư trang thiết bị đến năm


-

Tổ chức sinh hoạt chuyên môn tại khoa theo định kỳ hàng tháng để nâng cao kiến
thức.

-

Xây dựng kế hoạch và phương hướng hoạt động cho c ông tác đón nhận Tình
nguyện viên đợt 2.

-

Xây dựng phát đồ điều trị của khoa để tạo điều kiện cho công tác theo dõi, đánh
giá hoạt động chuyên môn.

3.2. Một số giải pháp đẩy mạnh công tác chuyên môn ở khoa VLTL - PHCN đến n
ăm 2015:
Để hoạt động PHCN đạt được các chỉ tiêu về đào tạo, chỉ đạo, chất lượng và hiệu quả
hoạt động, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:


a) Nâng cao trình độ lý luận chính trị , y đức cho đội ngũ nhân viên khoa VLTL PHCN:
Giáo dục ý thức chấp hành chủ trương, nghị quyết , chính sách của Đảng và Nhà nước;
ý thức tổ chức kỷ luật, sống và làm theo pháp luật.
.Tăng cường giáo dục tư tưởng, y đức để thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ chí
Minh “ Thầy thuốc như mẹ hiền”.
-Các biện pháp thực hiện:
.Tích cực tham gia các đợt triển khai, học tập Nghị quyết, đường lối, chính sách của
Đảng ,Nhà nước, Bộ y tế.

c)

Xây dựng kế hoạch hoạt động:

Nhằm định hướng cho các hoạt động của khoa, làm cơ sở cho việc xây dựng kế
hoạch hoạt động chung toàn bệnh viện.
-Các biện pháp thực hiện:
.Lập kế hoạch mở rộng diện tích hoạt động để trình bày với Ban giám đốc nhu cầu
cần thiết và hiệu quả của việc mở rộng nhằm tạo điều kiện cho người bệnh, đặt biệt là
người khuyết tật được hưởng các dịch vụ tốt nhất
.Củng cố công tác phối hợp với các khoa lâm sàng để làm tốt công tác PHCN cho
người bệnh ngay từ giai đoạn sớm.
.Xây dựng đề án phát triển Phòng Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu: cử cán bộ
đi học về Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu; Dự trù kinh phí về cơ sở, trang thiết bị
d) Cô n g tá c đà o tạo, n ân g cao trình độ ch uyên môn:
Xây dựng đội ngũ kế thừa có đủ năng lực, trình độ để ứng dụng các thành tựu
khoa học và tiếp tục phát huy những kết quả đạt được.
-Các biện pháp thực hiện:
.Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học phát triển ngành PHCN
.Khuyến khích bác sĩ học tập nâng cao trình độ chuyên sâu về PHCN.
.Đào tạo thêm 02 Cử nhân VLTL để hỗ trợ công tác chuyên môn


.Chú trọng c ô ng tác đào tạo liên tục, làm tốt công tác chỉ đạo cho tuyến tập huấn,
bồi dưỡng chuyên môn cho tuyến dưới.
. Tiếp tục công tác thỉnh giảng ở trường Trung học y tế về môn PHCN.
đ) Tă n g cườn g đầu tư tra n g th iết bị và cơ sở vật chất:
Đảm bảo có đủ cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cần trong điều kiện phát triển vượt
bậc của y học.
- Các biện pháp thực hiện:


Nhằm khen thưởng, động viên khích lệ kịp thời các cá nhân có biểu hiện tốt, đạt
thành tích cao trong cô ng tác PHCN. Đồng thời phát hiện và chấn chỉnh các biểu hiện
tiêu cực.
-Các biện pháp thực hiện:
.Nêu gương những cá nhân hoàn thành tốt, xuất sắc nhiệm vụ trong các buổi họp
khoa.
.Đề bạt khen thưởng đối với những cá nhân có sáng kiến khoa học, có tư tưởng
phẩm chất đạo đức tốt.
.Thẳn thắng, mạnh dạn phê bình, để xuất kỷ luật đối với những hành vi vi phạm
quy chế hoạt động của đơn vị.
KẾT LUẬN
1. KẾT LUẬN :
Phát triển ngành PHCN theo định hướng chuyên sâu là một tất yếu khách quan
phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước đối với c ông tác chăm lo sức khỏe nhân dân nói chung, người khuyết tật và
ngành PHCN nói riêng.
Để đạt mục tiêu tiếp tục duy trì và phát triển khoa VLTL PHCN, Ban chủ nhiệm
khoa cần xây dựng các mục tiêu hoạt động cụ thể phù hợp từng giai đoạn phát triển. Mối
quan hệ mật thiết với các khoa cần được củng cố và phát triển để tiến tới 100% BN có
nhu cầu được hướng dẫn và điều trị PHCN.
Nhận thức của cộng đồng về PHCN đã từng bước được nâng cao, nhưng không vì
thế mà buông lỏng công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức phòng ngừa tàn tật. Còn có rất
nhiều đối tượng chưa nắm bắt được những thông tin cần thiết cũng như sự chủ quan, ỷ
lại của BN và thân nhân là một nguyên nhân rất đáng ngại làm người bệnh có thể quay
trở lại với nguy cơ tàn tật. Các hình thức tuyên truyền cần được cải thiện cho sinh động
hơn, thiết thực và dễ nhìn, dễ học. Phải làm sao để mọi lúc, mọi nơi từng cá nhân đều có




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status