MỞ ĐẦU
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm trong đó có hơn
một nghìn năm phong kiến. Trong thời kỳ phong kiến, Việt Nam là đất nước
chịu nhiều tác động từ các nền tư tưởng của nhân loại, trong đó chịu ảnh
hưởng sâu sắc nhất là tư tưởng của Nho giáo do Khổng Tử sáng lập. Tư tưởng
triết học của ông, đặc biệt là học thuyết chính trị - xã hội có ảnh hưởng rất lớn
đến nhiều mặt của đời sống xã hội và con người Việt Nam, trong đó có các
mối quan hệ trong gia đình truyền thống Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang bước vào thời kỳ đổi mới và
phát triển, một mặt trình độ nhận thức của con người ngày càng cao hơn
nhưng vẫn còn những đánh giá chưa chính xác: hoặc quá đề cao, hoặc phủ
nhận sự ảnh hưởng tư tưởng triết học về chính trị - xã hội của Khổng Tử đối
với các mối quan hệ trong gia đình truyền thống Việt Nam. Mặt khác, trước
thực trạng các mối quan hệ trong một số gia đình ở Việt Nam dưới sự tác
động của nền kinh tế thị trường đang ngày càng có sự xáo trộn đòi hỏi phải
nhận thức đúng giá trị tích cực và hạn chế của những chuẩn mực đạo đức
truyền thống gia đình đã được hình thành dưới sự tác động của học thuyết
chính trị - xã hội của Khổng Tử trước đây. Vì vậy, việc lựa chọn và nghiên
cứu vấn đề: Học thuyết chính trị - xã hội của Khổng Tử và ảnh hưởng của
nó đối với các mối quan hệ trong gia đình truyền thống Việt Nam hiện nay
là rất cần thiết.
1. TRIẾT HỌC KHỔNG TỬ VỚI TÍNH CÁCH LÀ HỌC THUYẾT
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.1. Tiền đề kinh tế - xã hội và tư tưởng hình thành triết học Khổng
Tử
1.1.1. Tiền đề kinh tế - xã hội
Sự hình thành và phát triển của bất cứ nền triết học nào cũng dựa trên
những điều kiện kinh tế xã – xã hội nhất định. Triết học của Khổng Tử với tư
cách là một học thuyết chính trị - xã hội ra đời không nằm ngoài quy luật
những kẻ sĩ đã tạo ra một cục diện “ Bách gia tranh minh” “ Trăm nhà đua
tiếng” hình thành nên nhiều trường phái, nhiều nhà tư tưởng, trong đó có Nho
giáo do Khổng Tử sáng lập với tư cách về cơ bản là một học thuyết chính trị xã hội.
1.1.2. Tiền đề tư tưởng
Trết học nói chung và triết học Khổng Tử nói riêng là một hình thái ý
thức xã hội nên sự ra đời, tồn tại và phát triển của nó luôn có sự tác động qua
lại với các hình thái ý thức xã hội khác. Triết học Khổng Tử xuất hiện dựa
trên sự kế thừa về chính trị, tôn giáo và đạo đức trước thời đại Khổng Tử, đặc
biệt là tư tưởng thời nhà Chu. Bởi, Khổng Tử sáng lập ra Nho giáo với mục
đích nhằm ổn định trật tự kỷ cương xã hội theo lễ giáo nhà Chu nên việc ông
kề thừa các tư tưởng của nhà Chu là điều tất yếu.
Về tôn giáo, tư tưởng đề cao mệnh trời là một tư tưởng khá phổ biến
trong triết học phương Đông nói chung và triết học Trung Quốc nói riêng. Vì
vậy, tư tưởng “ kính trời”, “ hợp mệnh trời”, “ trời và người hợp nhất” là nội
dung chủ yếu trong tư tưởng tôn giáo của nhà Chu. Nhà Chu luôn đề cao,
tuyệt đối hóa vai trò, sức mạnh của “ trời” và cho rằng “ trời” là một lực
lượng có nhân cách, có ý chí, có quyền uy tối cao chi phối, quyết định đến xã
hội, con người, sự hưng, vong của mỗi triều đại. Mọi hành vi trái với “ mệnh
trời điều bị trừng phạt.
Về chính trị, với tư tưởng tôn giáo “ kính trời”, “ tuân theo mệnh trời” đã
tác động tới tư tưởng chính trị của nhà Chu. Theo đó, tư tưởng chính trị của
nhà Chu khẳng định: vì nhà Chu hiểu và tuân theo “ mệnh trời” mà được “
nhận dân” từ nhà Ân để “ hưởng dân” và “ trị dân” mãi mãi, nếu kẻ nào chống
lại nhà Chu tức là chống lại “ mệnh trời” thì nhà Chu vâng theo “ mệnh trời”
và thay “trời” hành đạo, trừng phạt, chém giết. Vua nhà Chu là con “trời”
(Thiên tử) có quyền tối cao trong sở hữu ruộng đất, mọi người trong xã hội
đều là thần dân của nhà vua nên có quyền thưởng, phạt bất kỳ ai trong xã hội.
Có thể nói, tư tưởng chính trị của nhà Chu là hết sức phản động nó bảo vệ lợi
sau:
Một là, xuất phát từ điều kiện lịch sử ra đời của triết học Khổng Tử. Căn
cứ vào hoàn cảnh ra đời của Nho giáo, xã hội Trung Quốc cổ đại thời Khổng
Tử là một xã hội mà trật tự kỷ cương hết sức rối loạn, “ vương đạo suy vi”, “
bá đạo trị vì”. Xuất phát từ thực trạng xã hội đó, Khổng Tử sáng lập ra Nho
giáo với mục đích nhằm lý gải và đề ra nhiệm vụ, biện pháp khắc phục tình
trạng mà hiện thực xã hội Trung Quốc đang đặt ra. Đó là khắc phục sự rối
loạn về trật tự kỷ cương của xã hội, đưa xã hội từ “ loạn” tới “trị”. Vì vậy, từ
những điều kiện xã hội đó, vấn đề chính trị - xã hội là một nội dung cơ bản và
chủ yếu được Khổng Tử bàn đến.
Hai là, xuất phát từ phạm vi áp dụng của triết học Khổng Tử. Triết học
của Khổng Tử là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nên nó phản ánh sâu
sắc những lợi ích của các tầng lớp, giai cấp thống trị và mối quan hệ giữa các
tầng lớp, giai cấp trong cai trị đất nước. Khổng Tử xuất thân ở địa vị quý tộc
nên ít nhiều ảnh hưởng tới hệ tư tưởng của ông. Do đó, triết học của Khổng
Tử về cơ bản là công cụ để bảo vệ sự thống trị về chính trị đối với các tầng
lớp, giai cấp khác trong xã hội Trung Quốc cổ đại.
Ba là, xuất phát từ vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu
thành của triết học Khổng Tử. Triết học của Khổng Tử với tư cách là một hệ
thống đã đề cập đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đới sống xã hội
và con người. Nhưng cũng như đặc điểm của triết học phương Đông nói
chung, triết học Khổng Tử trước hết và chủ yếu bàn về các vấn đề chính trị xã hội, xuất phát từ xã hội, con người để lý giải tự nhiên. Triết học của Khổng
Tử là một hệ thống, ngoài học thuyết chính trị - xã hội còn bao gồm học
thuyết triết học, học thuyết đạo đức. Hai học thuyết này một mặt là cở sở cho
việc hình thành học thuyết chính trị - xã hội, mặt khác được bổ sung, phát
triển thêm thông qua học thuyết chính trị - xã hội.
Như vậy, có thể khẳng định rằng: Triết học của Khổng Tử là một hệ
thống bao gồm các học thuyết chính trị - xã hội, triết học, đạo đức. Mặc dù là
Khổng Tử cũng khẳng định, bản tính ban đầu của con người có thể bị thay đổi
do các yếu tố của điều kiện môi trường, sự nỗ lực tu dưỡng của con người.
Như vậy, mặc dù Khổng Tử chưa bàn nhiều về vấn đề bản tính con
người nhưng những quan niệm đầu tiên của ông về vấn đề này để các nhà
Nho thế hệ sau như Mạnh Tử, Tuân Tử,Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Di…
kế thừa và phát triển
Hai là, quan niệm về vai trò của con người. Trong quan niệm về vai trò
của con người, Khổng Tử chủ yếu nói tới vai trò của con người đói với tự
nhiên và trong các mối quan hệ xã hội
Vai trò của con người với tự nhiên. Từ quan niệm của Khổng Tử về bản
tính của con người là do trời phú và quan niệm thiên nhân hợp nhất nên khi
bàn về vai trò của con người với vạn vật trong tự nhiên ông luôn cho rằng con
người là bộ phận cao nhất đứng trên vạn vật, con người có thể sánh ngang với
trời đất và cùng trời đất sinh ra vạn vật. Tuy nhiên, vai trò đó của con người
không phải tự nhiên mà có. Vai trò này chỉ có được khi con người có hiểu
biết, tuân theo mệnh trời, phải kính trời, phải có đạo đức, nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín được trời phú cho. Như vậy, Khổng Tử đề cao vai trò của con người đối
với vạn vật nhưng vai trò đó chỉ có được thông qua ý trời, dựa vào trời. Trời
là một lực lượng có ý chí, có quyền uy đối với vạn vật và con người. Mọi bản
tính và việc làm của con người có trở thành thiện – ác, sang – hèn, giàu –
nghèo, sinh - tử…đều do mệnh trời, là mệnh trời mà con người không chống
lại được. Để được làm người quân tử, theo Khổng Tử con người phải biết
mệnh trời ( tri thiên mệnh). Khổng Tử cho rằng những tiêu chuẩn cơ bản của
người quân tử là phải biết mệnh trời. Ông nói : Bất tri Mạng, vô dĩ vi quân tử
dã ( không biết mệnh trời, thì chẳng có thể làm người quân tử). Biết mệnh trời
thì phải kính mệnh trời, sợ mệnh trời. Sợ mệnh trời hay không, theo Khổng
Tử đó là một tiêu chí để phân biệt giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân. Người
quân tử sợ mệnh trời là người có đạo đức, kẻ thống trị. Kẻ tiểu nhân không sợ
mệnh trời mà nuôi dưỡng, giáo dục, giáo hóa bề tôi. Trong quan niệm của
Khổng Tử về mối quan hệ vua – tôi cũng chứa đựng tính nhân văn khi ông
cho rằng nếu vua thương yêu ( nhân) bề tôi thì bề tôi phải trung thành với vua,
nếu vua coi bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi coi vua như kẻ qua đường, vua coi
bề tôi như bùn rác, thì bề tôi coi vua như giặc thù. Như vậy, trong quan niệm
về mối quan hệ vua – tôi, Khổng Tử đã đặt ra các chuẩn mực về trung, hiếu,
nhân, nghĩa nhẵm ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ lân nhau giữa vua và bề
tôi.
Về mối quan hệ cha – con. Xuất phát từ tồn tại xã hội ở phương Đông
nói chung và ở Trung Quốc thời cổ đại nói riêng. Đó là phương thức sản xuất
kiểu châu Á với đặc thù công xã nông thôn tồn tại dai dẳng nên Khổng Tử
cho rằng muốn đưa xã hội từ ‘ loạn’ về ‘ trị’ không chỉ ràng buộc trách nhiệm,
nghĩa vụ giữa vua và bề tôi mà còn phải duy trì tôn ti trật tự giữa các thành
viên trong gia đình. Để duy trì tôn ti trật tự, ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ
giữa cha và con Khổng Tử đã đưa ra chuẩn mực đạo đức Từ và Hiếu. Từ là
chuẩn mực đạo đức gắn vời nghĩa vụ, trách nhiệm của những người làm cha,
làm mẹ. Cha mẹ phải có trách nhiệm yêu thương, nuôi dưỡng con cái. Hiếu là
chuẩn mực đạo đức gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ của người con, đạo làm con
phải chăm sóc, phụng dưỡng và kính trọng cha mẹ. Đức Hiếu được Khổng Tử
nhấn mạnh hơn khi ông quan niệm và đề cao vai trò của người cha trong gia
đình. Con cái phải tuyệt đối nghe lời cha. Người con có Hiếu là tiêu chuẩn để
đạt tới đức nhân, nghĩa, lễ, trí. Sự đề cao vai trò của chuẩn mực đạo đức Từ
và Hiếu trong quan hệ cha – con thực chất là bảo vệ cho chế độ tông pháp và
địa vị thống trị của giai cấp thống trị. Sách Đại học đã ghi : đạo Hiếu đối với
cha mẹ cũng chính là để thờ vua…đạo Từ đối với con cũng là để sai khiến
dân chúng. Vì vậy, Từ và Hiếu trong quan hệ cha – con của Khổng Tử gắn
chặt mối quan hệ vua – tôi. Hiếu với cha mẹ trong gia đình nhỏ và Hiếu với
vua trong gia đình lớn- nhà nước.
không được an ninh. Là vì hễ đồng đều thì chẳng nghèo, người hòa thì dân số
không ít, có an ninh thì nước nhà không nghiêng đổ.
Quan niệm về một xã hội lý tưởng còn được Khổng Tử nói cụ thể hơn
trong sách Lễ ký: Sự thực hiện của đạo lớn là, thiên hạ là của chung, tuyển
chọn người hiền và cử người tài năng, nói điều tín và tu sửa hòa mục. Cho
nên người ta không chỉ tôn kính cha mẹ mình, không chỉ thương yêu con cái
mình, còn khiến cho người già được sống trọn đời, người trai tráng được sử
dụng, trẻ thơ được lớn lên, người không vợ, người không chồng, trẻ mồ côi,
người không con, người tàn tật, tất cả đều được chăm sóc.
Từ quan niệm về xã hội lý tưởng của Khổng Tử, có thể khái quát một số
đặc trưng cơ bản của xã hội đó như sau:
- Là một xã hội ổn định, thái bình có trật tự kỷ cương, mọi người sống
bình đẳng, hòa mục.
- Là một xã hội có đời sống vật chất và tinh thần đầy đủ đặc biệt là có
đười sống đạo đức.
- Là một xã hội có nền giáo dục phát triển, mọi người trong xã hội được
giáo dục.
Như vậy, quan niệm về xã hội của Khổng Tử là một xã hội lý tưởng chứa
đựng những tinh thần nhân văn sâu sắc. Nó thể hiện mong ước của Khổng Tử
về một xã hội ổn định, thái bình, có trật tự kỷ cương khi ông chứng kiến thực
trạng xã hội đang loạn lạc.
Thứ ba, quan niệm về đường lối trị nước theo đức trị của Khổng Tử
Đường lối trị nước theo đức trị là nét đặc thù của Nho giáo nói chung và
Khổng Tử nói chung. Theo đường lối này, việc cai trị và quản lý xã hội dựa
trên những chuẩn mực, nguyên tắc, quy phạm đạo đức để điều chỉnh hành vi
của con người trong các mối quan hệ nhằm ổn định trật tự, kỷ cương của xã
hội. Khổng Tử đề ra đừng lối trị nước theo đức trị xuất phát từ thực trạng đạo
đức xã hội đang xuống cấp, đạo đức phi nhân tính đang thống trị xã hội và
Khổng Tử cho rằng phải có con người lý tưởng. Mẫu người lý tưởng đó theo
Khổng Tử là mẫu người “ Quân tử”. Như đã trình bày, tiêu chuẩn để phân biệt
giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân dựa vào việc có sợ mệnh trời hay không.
Người quân tử vì sợ mệnh trời nên tuân theo mệnh trời phải có đạo đức, hiểu
biết mệnh trời và thực hiện nhân, lễ, trí, tín, phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ. Người quân tử là người coi trọng nghĩa, coi thường lợi. Để trở thành
người quân tử phải trải qua quá trình nỗ lực học tập, rèn luyện, tu dưỡng bản
thân ở bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào. Khổng Tử nói: “ Người quân tử chẳng
bao giờ rời bỏ điều nhân, dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn, dẫu trong
cơn vội vàng hay trong lúc nghiêng ngả chao đảo, người ấy cũng vẫn ở với
điều nhân”. Người quân tử phải thực hiện nhân: mình muốn lập thân thì cũng
giúp cho người khác được lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp cho
người khác thành đạt, điều gì mình không muốn thì cũng đừng áp đặt cho
người khác ( kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Có được nhân như thế người quân
tử luôn: phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất để
trở thành người có năng lực cai trị xã hội.
Như vậy, Khổng Tử đã đề cao vai trò của đạo đức, thậm chí còn tuyệt đối
hóa nó trong việc lập lại trật tự kỷ cương xã hội và xây dựng mẫu người lý
tưởng. Khổng Tử tuyệt đối hóa vai trò của đạo đức, không quan tâm đến vai
trò của các nhân tố khác trong việc đưa xã hội từ “ loạn” đến trị và hoàn thiện
nhân cách con người đó hoàn toàn là một quan niệm siêu hình, phiến diện nên
cũng không tạo ra được con người có năng lực toàn diện và không mang lại
hiệu quả cai trị xã hội thời loạn lạc.
Hai là, những biện pháp cơ bản của đường lối đức trị
Để thực hiện đường lối đức trị trong cai trị và quản lý xã hội, Khổng Tử
đã đưa ra nhiều biện pháp khác nhau. Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế nên bài
vit ch tp chung lm rừ bin phỏp quan trng nht trong h thng cỏc bin
phỏp. ú l, thc hin Nhõn, L, Chớnh danh.
biết đặt vào đâu mà làm”. Trong các mối quan hệ xã hội, Khổng Tử yêu cầu
chính danh là phải: vua ra vua – thần ra thần, cha ra cha – con ra con, chồng
ra chồng – vợ ra vợ, anh ra anh – em ra em…có như thế thì xã hội không loạn
mà luôn được yên ổn.
Như vậy, Nhân, Lễ, Chính danh không chỉ là nội dung mà còn là biện
pháp trong đường lối đức trị của Khổng Tử nhằm ổn định trật tự xã hội, bảo
vệ lợi ích của giai cấp thống trị phong kiến. Giữa Nhân, Lễ, Chính danh có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhân là nội dung, Lễ là hình thức biểu hiện
của Nhân, Chính danh là con đường để đạt đến nhân.
2. NH HNG CA HC THUYT CHNH TR - X HI
TRONG TRIT HC KHNG T I VI CC MI QUAN H
TRONG GIA èNH TRUYN THNG VIT NAM
2.1.
Khỏi quỏt quỏ trỡnh du nhp trit hc Khng T vo Vit
Nam
Vit Nam l nc lỏng ging ca Trung Quc - mt trong nhng trung
tõm vn húa t tng ca nhõn loi nờn chu nhiu nh hng ca cỏc t
tng trit hc nh : m dng ng hnh, o gia, Phỏp giatrong ú
chu nh hng sõu sc nht l Nho giỏo do Khng T sỏng lp nờn.
Nho giáo núi chung v trit hc Khng T nú riờng ch yu đợc truyền
bá vào Việt Nam thụng qua hai con ng : Mt l, do những kẻ xâm lợc, với
mục ớch dùng Nho giáo nh một th vũ khí nhằm đồng hoá dân tộc Vit Nam,
biến Việt Nam thành một bộ phận ca Trung Quốc. Hai l, do các nhân sỹ,
danh nho từ Trung Quốc do lánh nạn, di c hoặc đối lập với quan điểm chính trị
của nhà nớc chạy sang, mở trờng học kiếm sống.
Nhỡn vo lịch sử phát triển của dõn tc ta, ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, trải
thu nhng cỏi p ca nhõn loi, ng thi loi b nhng cỏi xu, cỏi c hi
xõm nhp vo t bờn ngoi.
Gia ỡnh truyn thng Vit Nam l mt gia ỡnh trt t, nn np, ờm
m; l mt gia ỡnh trong ú mi thnh viờn u bit nhim v ca mỡnh, t
giỏc t chc cuc sng n nh, mi ngi ho thun, gi ỳng l ngha, trờn
kớnh di nhng l mt gia ỡnh cú k cng, tỡnh thng v trỏch nhim.
Nhng gia ỡnh cú truyn thng tt p nh vy, nhõn dõn ta thng ỏnh giỏ
l mt gia ỡnh gia giỏo, cú n np gia phong.
T chc kt cu ca gia ỡnh truyn thng Vit Nam vi nhiu th h
cựng chung sng. Do ú, trong gia ỡnh cú rt nhiu mi quan h khỏc nhau.
Nhng Tiu lun ch tp chung nghiờn cu v s nh hng ca hc thuyt
chính trị - xã hội của Khổng Tử đối với các mối quan hệ cơ bản trong gia đình
truyền thống Việt Nam, đó là: cha - con, chồng – vợ, anh – em.
Dưới ảnh hưởng của học thuyết chính trị - xã hội của Khổng Tử, mỗi
thành viên trong gia đình truyền thống Việt Nam đều có những chuẩn mực
đạo đức ứng với địa vị của mình trong gia đình. Trong ba mối quan hệ có ý
nghĩa đạo lý: cha - con, chồng – vợ, anh – em, mỗi cặp đó đều có bề trên và
bề dưới. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng giáo dục con cái, đạo làm con
phải nghe lời cha mẹ, nếu không nghe lời cha mẹ thì giống như “ các không
ăn muối cá ươn, con không nghe cha mẹ trăm đường con hư”. Trong gia đình
người cha cần phải nghiêm khắc, công bằng và dứt khoát, là hiện thân của
tính cứng rắn, nguyên tắc, kỷ luật và định hướng cho phát triển, trưởng thành
của các con. Người mẹ giáo dục con tính dịu dàng, tế nhị, khoan dung, độ
lượng, tình thương, trách nhiệm...Những trách nhiệm của cha mẹ đã được đúc
kết thành những câu ca dao tục ngữ: “Con có cha như nhà có nóc”, “Đàn ông
xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước
trong nguồn chảy ra”. Hay trong các giai điệu của bài hát: “Ba sẽ là cánh
chim, cho con bay thật xa. Mẹ sẽ là nhành hoa, cho con cài lên ngực. Ba mẹ là
đình. Việc đối ngoại như khách khứa, thăm viếng và đặc biệt là việc nước,
việc làng, việc họ là việc của đàn ông. Nếu chồng chết mà con trai còn nhỏ thì
phải nhờ chú bác trong họ làm thay chứ đàn bà cũng không chủ trì. Việc nội
trợ và cả việc sắp xếp làm ăn đều thuộc về người đàn bà nhưng người vợ vẫn
chỉ là danh nghĩa là giúp chồng. Việc của người đàn bà là ở buồng bếp.
Những người phụ nữ thuộc nhà gia giáo thường tránh đứng ngồi ở nhà thờ,
nhà khách. Có tiễn khách thì cũng chỉ ra đến cửa. Vì thế trong dân gian mới
có câu “ xấu hổ như dâu mới về nhà chồng”. Tuy vậy, trong những gia đình
như thế, tay hòm chìa khóa lại ở người vợ, người chồng giao tất cả tiền nong
cho vợ và không bao giờ kiểm soát sự chi tiêu của vợ. Người đàn bà được coi
là nội tướng, là chủ phụ, tuy về danh nghĩa là làm theo lời chồng, giúp chồng
nhưng thực tế thì là người chủ trì việc nhà. Không ít gia đình người chồng hèn
kém thậm chí vô trách nhiệm bỏ mặc mọi việc cho vợ, nhưng nếu người vợ tỏ
ra quyền hành trong tay mình, lấn át chống thì bị chê cười là không có nề nếp.
Đó là tư tưởng nam tôn nữ ty, nam nữ không bình đẳng. Cho nên trong nhà
đàn ông là chủ đàn bà phải thuận tùng nhưng đàn ông phải yêu thương và
kính nể vợ. Người đàn ông phải kính nể vợ nhưng lại có trách nhiệm dạy vợ.
Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn phải “ đóng cửa bảo nhau” tránh để người ngoài
biết mà chê cười.
Anh em là những người được cha mẹ sinh ra. Tình cảm, mối quan hệ anh
– em giữa những người cùng cha, cùng mẹ được ví “ như chân với tay”. Tình
cảm anh em là tình cảm máu mủ ruột già nên phải thương yêu đùm bọc nhau.
Đạo làm anh phải thương yêu, giúp đỡ và dạy bảo em. Đạo làm em phải
thương yêu, kính trọng anh và nghe lời anh. Tình cảm, mối quan hệ anh em
được ví “ như chân với tay” nên trong các gia đình truyền thống Việt Nam nó
được đem ra so sánh với tình cảm vợ chồng. Có những quan niệm rằng: “Vợ
có thể thay đổi được chứ anh em không thể thay đổi được”. Có lẽ đó là sự uốn
nắn đối với một xu thế thông thường cũng rất tự nhiên là khi đã có vợ, người
kinh tế thị trường đã làm các mối quan hệ ở một số gia đình có nhiều xáo
trộn. Cha mẹ vì phải bận rộn với việc làm kinh tế nên việc trực tiếp giáo dục
con cái rất hạn chế. Việc giáo dục con cái được giao cho xã hội và nhà trường.
Có một số người làm cha, làm mẹ chưa thực sự là tấm gương về chuẩn mực
đạo đức cho con cái nên dẫn đến con không nghe cha mẹ, cãi lại cha mẹ. Vì
tác động của môi trường xã hội, vì cha mẹ không là tấm gương dạy dỗ con cái
nên mới có một số hiện tượng con cái cãi, chửi, đánh lại cha mẹ, thậm chí gần
đây còn có hành vi phi đạo đức giết cha, giết mẹ. Cũng vì tác động của nền
kinh tế thị trường và không giữ đúng chuẩn mực đạo đức nghĩa vợ chồng nên
có rất nhiều cuộc hôn nhân diễn ra rất ngắn ngủi, họ xem hôn nhân dường như
không phải là một việc quan trọng như ông cha đã từng nói: “ tậu trâu, cưới
vợ, làm nhà” là ba việc lớn quan trọng của người đàn ông. Tình cảm anh em
máu mủ ruột già cũng bị li tán bởi sự tác động của lợi ích kinh tế thị trường và
sự không giữ vững đạo làm anh, đạo làm em. Anh em tranh giành gia tài của
hồi môn mà cha mẹ để lại.
Thực trạng đạo đức bị phá vỡ trong một số gia đình như thế đã đặt ra vấn
đề phải thiết lập lại trật tự các mối quan hệ trong gia đình để dư luận không
phải bàng hoàng trước một số hành vi phi đạo đức, phi nhân tính xảy ra trong
thời gian vừa qua. Việc hiện đại hóa gia đình hiện nay, về căn bản cũng là tiếp
tục xử lý những vấn đề do gia đình truyền thống như thế đặt ra. Vì vậy, mỗi
thành viên trong gia đình cần phải nêu cao trách nhiệm nghĩa vụ đạo đức của
mình, phải tôn trọng quyền làm chủ chính đáng và tạo ra sự dân chủ bình
đẳng trong các mối quan hệ ở gia đình, thực hiện tốt phong trào “ xây dựng
gia đình văn hóa”.
KẾT LUẬN
2.2.
KẾT
LUẬN
TRIẾT HỌC KHỔNG TỬ VỚI TÍNH CÁCH
LÀ HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở
TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
Tiền đề kinh tế - xã hội và tư tưởng hình thành
triết học Khổng Tử
Cơ sở khẳng định và một số nội dung cơ bản
trong học thuyết chính trị - xã hội của Khổng
Tử
ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT CHÍNH
TRỊ - XÃ HỘI TRONG TRIẾT HỌC KHỔNG
TỬ ĐỐI VỚI CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG
GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
Khái quát quá trình du nhập triết học Khổng Tử
vào Việt Nam
Các mối quan hệ trong gia đình truyền thống
Việt Nam dưới sự ảnh hưởng của học thuyết
chính trị - xã hội của Khổng Tử