LÊNIN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT
HÌNH THÁI KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA TRIẾT HỌC MÁC TRONG
TÁC PHẨM “NHỮNG NGƯỜI BẠN DÂN LÀ NHƯ THẾ NÀO VÀ HỌ ĐẤU
TRANH CHỐNG NHỮNG NGƯỜI DÂN CHỦ XÃ HỘI RA SAO?”.
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
Lịch sử tư tưởng nhân loại phát triển như một dòng chảy liên tục, mặc dù
có những bước quanh co, nhưng về cơ bản là không ngừng tiến lên cùng với sự
phát triển trình độ nhận thức của con người. Tuy vậy, xuyên suốt lịch sử phát
triển cho thấy, chỉ đến khi triết học Mác ra đời, đánh dấu một bước ngoặt cách
mạng vĩ đại, tạo ra một hệ thống triết học đó, được hiểu là sự thay đổi căn bản,
tạo ra sự nhảy vọt về chất, một hệ thống triết học khác về chất so với tất cả các
hệ thống triết học trong lịch sử, sự ra đời đó phù hợp với quy luật khách quan.
Trong đó, chủ nghĩa duy vật lịch sử được đánh giá là một nội dung bước ngoặt
cách mạng, trong đó cùng với phát kiến giá trị thặng dư, phát kiến về hình thái
kinh tế xã hội là học thuyết đặc biệt quan trọng, chiếm vị trí cốt lõi trong chủ
nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác.
Là một học thuyết khoa học và cách mạng, một “bóng ma ám ảnh” chủ
nghĩa tư bản, học thuyết hình thái kinh tế – xã hội do Mác - Ăngghen sáng lập,
ngay từ khi mới ra đời, đã đứng trước sự chống phá ác liệt về tư tưởng của kẻ
thù. Tình hình đó
Trong điều kiện lịch sử hiện tại của nước Nga vào cuối thế kỷ XIX, với
tính chất ảo tưởng chủ quan, những người theo chủ nghĩa dân tuý ở Nga đã
không thừa nhận các vấn đề trong học thuyết hình thái kinh tế – xã hội do Mác
đưa ra. Chính vì vậy, họ đã ra sức công kích, phủ nhận các nguyên lý cách mạng,
khoa học của triết học Mác-xít. Trong đó đặc biệt là học thuyết hình thái kinh tế
– xã hội của Mác. Do vậy trong tác phẩm này Lê-nin đã đặc biệt chú ý nghiên
cứu và phát triển học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của Mác.
Trong giai đoạn mở đầu quá trình đấu tranh bảo vệ và phát triển triết
học Mác, Lê-nin đã viết hàng loạt các tác phẩm triết học quan trọng, trong đó có
tác phẩm “Những người bạn dân là như thế nào và họ đấu tranh chống những
nghĩa duy vật lịch sử, cho hiện tượng kế thừa là do sinh con đẻ cái, cho quan hệ
dân tộc là tiếp tục của quan hệ thị tộc. Họ còn đi đồng nhất phép biện chứng của
Mác với tam đoạn thức của Hê-ghen. Xuyên tạc các vấn đề của triết học Mác.
Từ yêu cầu thực tiễn của phong trào công nhân Nga và cuộc đấu tranh tư
tưởng – lý luận lúc này, là đấu tranh chống lại các quan điểm sai lầm, phản động
của Chủ nghĩa dân tuý, bảo vệ và phát triển triết học Mác trong giai đoạn lịch sử
mới, Lê-nin đã viết tác phẩm này. Đây là một tác phẩm triết học lớn gồm ba
thiên, tác phẩm là bản cương lĩnh, bản tuyên ngôn của một chính Đảng Mác-xít
mới ra đời ở Nga. Trong tác phẩm này, Lê-nin đã vạch trần tính chất, cơ sở triết
học duy tâm chủ quan và phương pháp siêu hình của giai cấp tư sản được thể
hiện trong học thuyết của chủ nghĩa dân tuý về kinh tế, chính trị và cả trong
cương lĩnh, sách lược của chúng. Là người bảo vệ, kế tục xuất sắc triết học Mác,
trong tác phẩm, Lê-nin vừa đấu tranh bảo vệ vừa phát triển các vấn đề lý luận
của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, hòn đá tảng của chủ nghĩa duy vật lịch
sử – thành tựu vĩ đại của triết học Mác.
Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh thế giới và nước Nga có nhiều thay đổi
lớn. Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đế quốc chủ
3
3
nghĩa, bọc lộ hoàn toàn bản chất phản động toàn diện và hiếu chiến xâm lược.
Giai cấp tư sản, sau khi ổn định quyền thống trị về chính trị đã quay lại đàn áp,
bóc lột dã man giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Mâu thuẫn giữa giai cấp vô
sản và giai cấp tư sản không giảm đi, mà trái laị, mâu thuẫn này ngày càng gay
gắt, quyết liệt, nó báo hiệu một thời kỳ mới đang đến gần của cuộc đấu tranh giai
cấp và cách mạng xã hội. Hơn nữa, những cuộc khủng hoảng toàn diện về kinh
tế chính trị xã hội trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa, liên tục diễn ra làm cho tình
4
4
tự do, mà đại biểu của nó là Cvivencô, Mikhailôpxki và Iuzacốp... chúng đã tiến
hành một chiến dịch công kích vào chủ nghĩa Mác, phủ nhận những giá trị to lớn
của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là lý luận về hình thái kinh tế, xã hội, lý
luận, về giai cấp và đấu tranh giai cấp của lý luận Mác-Ăngghen. Họ đã thoả
hiệp với chính phủ Nga hoàng đế chống lại lý luận Mác-xít và những người
Mác-xít chân chính bằng hàng loạt các bài báo của ông Mikhailốpxki đăng trên
tạp chí “của cải nước Nga”. Hơn thế nữa, chúng tiến hành tuyên truyền những tư
tưởng cơ hội, xét lại, phản động vào phong trào công nhân Nga, thủ tiêu đấu
tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, chứng minh cho sự
tồn tại vĩnh viễn của chủ nghĩa tư sản ở Nga.
Trước tình hình ấy, nhiều người Mác-xít đã phản đối quyết liệt và gửi
thư đề nghị Lê-nin tỏ thái độ phê phán những quan điểm tiểu tư sản, phản khoa
học và phản động của phái dân tuý tự do, đồng thời bảo vệ và phát triển chủ
nghĩa Mác nhất là lý luận về hình thái kinh tế xã hội của Mác - Ăngghen đã xây
dựng. Nhận thức được tình hình cấp bách đó, Lê-nin đã bắt tay vào viết tác phẩm
“Những người bạn dân là thế nào. Họ đấu tranh chống lại những người dân chủ –
xã hội ra sao?”.
Tư tưởng cơ bản mà V.I.Lênin đã trình bày trong tác phẩm này là vạch
trần thực chất những quan điểm phản động, phản khoa học của chủ nghĩa dân
tuý, đặc biệt là phái dân tuý tự do chủ nghĩa mà cụ thể là ông Mikhailốpxki –
thông qua đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái để làm rõ những tư tưởng
cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác
trong điều kiện mới của cách mạng nước Nga.
Trung thành với các tư tưởng của Mác-Ăngghen, đấu tranh chống lại chủ
nghĩa duy tâm chủ quan của phái dân tuý, Lê-nin tiếp tục khẳng định luận điểm
kinh tế – xã hội, chủ nghĩa dân tuý đã trượt dài đến chủ nghĩa duy tâm chủ quan,
duy ý chí. Theo họ, xã hội là một chế độ lý tưởng của con người, ý muốn của
con người tạo ra. Họ cho rằng: “Những quan hệ xã hội là do con người tạo ra”.
Vấn đề mà họ quan tâm tới là “Một xã hội thoả mãn bản tính của con người”.
Trong tác phẩm Lê-nin đã phê phán Chủ nghĩa duy tâm chủ quan và vạch rõ tính
khách quan của các quy luật xã hội. Lê-nin đã chứng minh sự phát triển xã hội là
một quá trình khách quan của sự phát triển và thay đổi các thời đại lịch sử, các
phương thức sản xuất và các giai cấp. Lê-nin chỉ ra sai lầm của phái dân tuý là ở
chỗ, họ không tính được tất yếu và sự lặp đi lặp lại trong các hiện tượng xã hội
và chỉ có Chủ nghĩa Mác mới biết tách các quan hệ kinh tế từ các quan hệ xã hội
và phát hiện ra được các quy luật khách quan của lịch sử xã hội. Chỉ có chủ
nghĩa Mác mới đem lại quan niệm thực sự khoa học về sự vận động, phát triển
của xã hội. Lê-nin chỉ ra rằng, chủ nghĩa Mác từ toàn bộ các quan hệ xã hội, đã
tách ra các quan hệ sản xuất. Đây là các quan hệ được hình thành khách quan
không phải qua ý thức của con người, mà được quyết định bởi trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất. Tiếp tục phát triển các luận điểm của Mác - Ăngghen về
cơ sở của sự phát triển xã hội, đó là quá trình sản xuất vật chất, sự phát triển của
lực lượng xã hội, trong tác phẩm Lê-nin viết: “Việc phân tích những quan hệ xã
hội vật chất khiến chúng ta có thể nhận thấy ngay được tính lặp lại và tính hợp
quy luật và có thể đem những chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành
một khái niệm cơ bản duy nhất là: hình thái xã hội”3.
22 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1979.Tr. 159.
3. Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1979.Tr.163.
6
6
Trong tác phẩm, khi đề cập tới phạm trù hình thái kinh tế – xã hội. Lênin đã đề cập và phân tích một cách khoa học các yếu tố cơ bản và mối quan hệ
5.
6.
Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1979. Tr.160.
Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1979.Tr.160.
Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1979.Tr.177.
7
7
thuyết, Lê-nin đã làm rõ cơ sở duy tâm, phản động của Chủ nghĩa dân tuý. Tiếp
tục khẳng định lập trường, phương pháp luận khoa học trong xem xét quá trình
vận động, phát triển của lịch sử – xã hội.
Ngày nay tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị, giúp chúng ta có cơ sở lý
luận, phương pháp luận khoa học trong xem xét các vấn đề của thời đại ngày
nay, đặc biệt là vấn đề CNXH và sự tất thắng trong tình hình hiện nay. Tác phẩm
còn là cơ sở lý luận để chúng ta nhận thức quá trình xây dựng hình thái kinh tế –
xã hội mới và con đường đi lên CNXH của cách mạng Việt Nam hiện nay. Ngoài
ra, tác phẩm còn trang bị cho chúng ta ý thức, phương pháp trong đấu tranh
chống lại các quan điểm cơ hội – xét lại hiện đại và các khuynh hướng chính trị
– tư tưởng sai trái hiện nay. Ngay từ khi Mác - Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa
duy vật lịch sử, thì học thuyết hình thái kinh tế – xã hội trở thành tiêu điểm tấn
công của các học giả tư sản và chủ nghĩa cơ hội – xét lại. Trong khi đưa ra và
khẳng định các luận điểm khoa học của mình, Mác - Ăngghen đã phải đấu tranh
không khoan nhượng để chống lại sự xuyên tạc của các kẻ thù tư tưởng. Ngay từ
tác phẩm triết học đầu tay này, Lê-nin đã luận chiến chống lại các quan điểm duy
tâm, phản động của chủ nghĩa dân tuý và khẳng định, phát triển các giá trị cách
mạng, khoa học của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội. Ngày nay, trước các
luận điểm của Mác, Ăngghen về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ông ta “không những
đã không tìm cách trình bày đúng lý luận của Mác mà lại còn cố ý xuyên tạc
đi”7. Không chỉ là trích dấu sai mà Mikhailốpxki còn đổi trắng thay đen, gán cho
Mác, Ăngghen những điều bịa đặt, ông ta cho rằng triết học Mác chẳng qua chỉ
là phép biện chứng của Hêghen và phương pháp của Mác cũng chỉ dựa trên tam
đoạn thức của Hêghen mà thôi... Từ đó ông ta đi đến phủ nhận chủ nghĩa duy vật
lịch sử của Mác, Ăngghen, ông ta khẳng định rằng trong toàn bộ các tác phẩm
của Mác cũng không có lấy một tư tuởng nào về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngay
cả bộ tư bản của Mác, chẳng qua cũng chỉ là sự tập hợp những số liệu và dẫn
chứng cụ thể về kinh tế thôi chứ không phải là một tác phẩm bàn về chủ nghĩa
duy vật lịch sử, và hình thái kinh tế xã hội. Mikhailốpxki viết như sau: “Trước
hết, dĩ nhiên một vấn đề được đặt ra là: Mác đã trình bày quan điểm duy vật lịch
sử của mình trong tác phẩm nào nhỉ? Trong bộ tư bản, Mác đã cho chúng ta một
kiểu mẫu về sự kết hợp sức mạnh lôgích với học thức uyên bác, với một sự
nghiên cứu rất tỉ mỉ toàn bộ các báo kinh tế cũng như những sự kiện liên quan.
Mác đã lục và được những nhà lý luận về khoa kinh tế, đã bị lãng quên từ lâu rồi
hoặc hiện nay không ai biết đến... Nói tóm lại, Mác đã moi ra một đống tài liệu
cụ thể, phần để luận chứng, một phần để minh hoạ cho những lý luận kinh tế của
mình ”8 và cuối cùng Mikhailốpxki kết luận: “Tác phẩm đó không có và không
những Mác không có một tác phẩm như thế, mà trong toàn bộ các báo Mác-xít,
7
8
V.I.Lênin. Toàn tập. NXB Tiến bộ. Mátxcơva. 1974. Tập 1. Tr.229.
Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.154.
9
9
triển của lịch sử, ông ta cho rằng sự phát triển của xã hội hoàn toàn là những
ngẫu nhiên không phải là một tiến trình lịch sử tự nhiên. Ông ta phê phán Mác là
9 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr154.
10 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.154.
11 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.172.
12 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.172.
13. Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.173.
14 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.172.
10
10
“đã quá thông minh và quá uyên bác để tưởng rằng chính mình đã phát hiện ra ý
niệm về tính tất yếu lịch sử và tính hợp quy luật lịch sử của những hiện tượng xã
hội... ở những nấc dưới người ta không biết điều đó hay dù sao thì cũng thể có
một ý niệm lơ mơ về các trí lực và tinh lực đã tiêu phí hàng bao thế kỷ nay để
xác định chân lý đó”15. Theo Lê-nin thì những lời tuyên bố như vậy chẳng qua
chỉ đánh lừa và gây ấn tượng với những người chưa đọc những tác phẩm của
Mác hoặc là chỉ mới nghe nói đến chủ nghĩa Mác lần đầu tiên, và cũng chỉ đối
với họ thì ông Mikhailốpxki mới có thể thực hiện được mục đích của mình là
xuyên tạc, chế giễu và chiến thắng được thôi, chứ còn những “ai đã đọc Mác, dù
là ít thôi, cũng sẽ thấy ngay được tất cả tính chất giả dối và không vững của
những thủ đoạn đó”16.
Như vậy, qua những lời trình bày của Mikhailốpxki ở trên, Lênin đã
khẳng định rằng những người dân tuý chả hiểu gì về chủ nghĩa Mác lẫn bộ “tư
bản” của Mác cả, toàn bộ những quan niệm của họ chỉ là những lời nói “hoa hoè
hoa sói” bóng bảy nhưng rỗng tuếch, cố gắng xuyên tạc luận điểm cơ bản của
Mác, Ăngghen để đạt được mục đích tối cao là phủ nhận lý luận về hình thái
kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó xây dựng lên một kiến trúc
thượng tầng chính trị và pháp lý phù hợp với cơ sở đó là những hình thức ý thức
xã hội nhất định”18. Như vậy, Mác đã xuất phát từ những quan hệ kinh tế để
nghiên cứu một xã hội cụ thể từ đó khái quát lên phạm trù hình thái kinh tế – xã
hội, chỉ ra những yếu tố cơ bản cấu thành trong mỗi hình thái kinh tế xã hội đó
là: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Sự vận động
phát triển của lịch sử xã hội là do sự vận động phát triển và biến đổi của các yếu
tố cơ bản, mà điểm xuất phát là từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất. Mác viết:
“Nhưng khi năng suất của lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất
định thì những lực lượng đó xung đột với những quan hệ sản xuất giữa người ta
với nhau. Do đó chúng bắt đầu mâu thuẫn với chính sự biểu hiện pháp lý của các
quan hệ sản xuất, tức là với chế độ sở hữu. Lúc ấy các quan hệ sản xuất không
còn phù hợp với năng suất nữa và bắt đầu kìm hãm năng suất. Do đó xuất hiện
một thời kỳ cách mạng xã hội. Cơ sở kinh tế biến đổi thì toàn bộ các kiến trúc
thượng tầng đồ sộ xây dựng trên đó cũng thay đổi một cách ít nhiều chậm chạp
hay nhanh chóng”19. Do đó, Mác đã đi đến khẳng định rằng: “Quan niệm của tôi
là ở chỗ tôi coi sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử
tự nhiên”20. Điều đó có nghĩa là: “Mác coi sự vận động xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên, chịu sự chi phối của những quy luật không những không phụ
thuộc vào ý chí, ý thức và ý định của con người mà trái lại, còn quyết định ý chí,
ý thức và ý định của con người” 21. Những quy luật khách quan ở đây chính là
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất và quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Sự vận động
tổng hợp của hai quy luật này chi phối quyết định sự phát triển của những hình
thái kinh tế – xã hội trong lịch sử. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất lại hợp
thành phương thức sản xuất và sự thay thế các phương thức sản xuất đã quyết
định các quá trình của đời sống xã hội và làm biến đổi các hình thái kinh tế xã
hội. Do đó: “về đại thể có thể coi những phương thức sản xuất Á châu cổ đại,
phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại ngày càng tiến lên trong lịch sử
18
hình thái xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên và dĩ nhiên là không có một
quan điểm như thế thì không thể có một khoa học xã hội được” 26. Tuy nhiên, Lênin cũng làm rõ thêm rằng: mặc dù “Mác chỉ dùng độc những quan hệ sản xuất
để giải thích cơ cấu và sự phát triển của một hình thái kinh tế xã hội nhất định,
song ở mọi nơi và mọi lúc, ông đều phân tích những kiến trúc thượng tầng tương
ứng với những quan hệ sản xuất ấy, và đã thêm thịt, thêm da cho cái sườn đó” 27.
Sau khi đã đưa ra những đánh giá của mình về phạm trù hình thái kinh tế xã hội
của Mác, Lênin đã đi đến khẳng định: “Nếu việc dùng chủ nghĩa duy vật để phân
tích và giải thích chỉ riêng một hình thái xã hội, đã đem đến những kết quả rực rỡ
đến như thế thì hoàn toàn tự nhiên là chủ nghĩa duy vật lịch sử không còn là một
giả thiết nữa, mà đã trở thành một lý luận đã được kiểm nghiệm một cách khoa
học”28. Hơn nữa “Chủ nghĩa duy vật không phải chủ yếu là một quan niệm khoa
học và lịch sử”, như ông Mikhailốpxki vẫn tưởng, mà là một quan niệm khoa
học duy nhất về lịch sử”29.
22 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.161.
23 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974. Tr.161.
24 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.166.
25 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.170.
26 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974. Tr.163.
27 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974. Tr.165.
28 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974. Tr.171.
29 Lê-nin: toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974. Tr.166.
13
13
Cuối cùng, Lênin đã làm rõ thực chất ý nghĩa của phạm trù hình thái
kinh tế – xã hội mà Mác đã xây dựng là nhằm luận giải sự thay thế lẫn nhau của
các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao là một quá trình lịch sử tự nhiên cũng
loài người thành ba giai đoạn dựa vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, bao
gồm: nền văn minh nông nghiệp, nền văn minh công nghiệp và nền văn minh sau
30 Lê-nin:
toàn tập, tập1. NXBTB, M, 1974.Tr.201.
14
14
công nghiệp (văn minh trí tuệ, văn minh tin học). Tuy nhiên, cách tiếp cận của
Avintôplơ hoàn toàn chưa khoa học bởi vì nó chỉ tuyệt đối hoá một yếu tố trong
hình thái kinh tế xã hội, đó là yếu tố lực lượng sản xuất và trong lực lượng sản
xuất, ông ta chỉ đề cao một mặt trí tuệ, khoa học kỹ thuật, văn hoá. Còn các yếu
tố cơ bản khác như quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng thì ông ta lại lờ đi,
không thấy được mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, không thấy được mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng...
Như vậy, xét về thực chất quan niệm của Avintôplơ là một cách tiếp cận siêu
hình, phản biện chứng, không thấy được mối liên hệ mật thiết và quy định lẫn
nhau giữa các yếu tố cơ bản trong một hình thái kinh tế xã hội. Nhằm tiến tới
đồng nhất các chế độ xã hội, không cần thiết phải phân biệt chế độ tư bản với
chế độ xã hội chủ nghĩa, công hữu hay tư hữu thì không quan trọng mà vấn đề là
phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học kỹ thuật. Xét về mặt chính trị
thì đó là quan niệm phản khoa học, phản động, che đậy một thủ đoạn tinh vi
nhằm phủ nhận những mâu thuẫn đang tồn tại trong lòng xã hội tư bản chủ
nghĩa, phủ nhận mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản
chống lại giai cấp tư sản. Suy cho cùng, toàn bộ học thuyết của Avintôplơ là
nhằm củng cố và duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản mà thôi, và xét
ở một góc độ nào đó thì học thuyết này cũng là một biểu tượng của những trào
cao trào xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác, cao trào đó tập trung mũi nhọn vào
học thuyết hình thái kinh tế – xã hội (HTKTXH) bằng những luận điệu lừa bịp,
che đậy rất tinh vi. Bởi vậy, việc làm rõ vị trí, tầm quan trọng của học thuyết
HTKT-XH đối với thực chất nội dung bước ngoặt do Mác, Ăngghen thực hiện
trong triết học có ý nghĩa to lớn trong nghiên cứu lịch sử phát triển tư tưởng
nhân loại, có giá trị cả về mặt lý luận, cả về thực tiễn, không chỉ trong lịch sử mà
cả trong hiện nay.
I. Vị trí của học thuyết HTKT-XH đối với thực chất bước ngoặt cách
mạng do Mác, Ăngghen thực hiện trong triết học.
Từ phương diện nghiên cứu, trước hết, chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư
cách là triết học xã hội, tức là, học thuyết HTKT-XH có vai trò như thế nào đối
với việc hình thành, phát triển thế giới quan, phương pháp luận, có ý nghĩa như
thế nào đối với việc chỉ ra quy luật phổ biến của xã hội. Sau đó, học thuyết
HTKT-XH có giá trị như thế nào đối với cải tạo xã hội như cách đặt vấn đề của
Mác đối với hệ thống triết học của mình. Trong “Luận cương về PhoiơBắc”,
Mác viết: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác
nhau, vấn đề là cải tạo thế giới” 31. Tuy vậy, không nên cho rằng, Mác chỉ coi
trọng cải tạo thế giới. Nếu không giải thích được thế giới thì sao cải tạo được thế
giới. Như vậy, phải chỉ rõ thế giới ở đây là gì? theo cách đặt vấn đề của đồng chí
Nguyễn Đức Bình - uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam trong bài nhiệm vụ của công tác triết học hiện nay tại lễ kỷ niệm
35 năm ra đời Viện Triết học: “Thế giới nói đây là chỉ hiện thực, hiện thực đất
nước và hiện thực thế giới. Hiện thực ấy đang có biết bao điều cần được giải
thích và đòi hỏi được giải thích đúng”32. Với cách đặt vấn đề đó, chúng ta làm rõ
31 Mác-Ăngghen Tuyển tập (6tập) tập 1, NXB Sự thật Hà Nội 1980. Tr.258.
32 Tạp chí nghiên cứu lý luận HVCTQS HCM, số 10, tháng 10/1997. Tr.4.
16
phân đôi cái thống nhất giữa quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần và giải quyết
mối quan hệ giữa các lĩnh vực (quan hệ) đó trên lập trường chủ nghĩa duy vật
biện chứng. Như vậy, phạm trù HTKT-XH với 3 yếu tố cơ bản là: lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất (cơ sở hạ tầng) và kiến trúc thượng tầng tác động biện
chứng với nhau. Trong lời tựa cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”
(1859) Mác viết: “Trong sản xuất ra đời sống của mình, con người có những
17
17
quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ – tức là những
quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất
định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất
ấy hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng nên
một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội
nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” 33. Sau này, Ăngghen lại tóm tắt
quan niệm về HTKT-XH, trong đó nhấn mạnh cơ sở để cắt nghĩa lịch sử là cả
phương thức sản xuất lẫn cơ cấu xã hội. Ăngghen viết: “... Trong mỗi thời đại
lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi cùng với cơ cấu xã
hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cho lịch sử chính trị của thời đại
và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ
đó mới cắt nghĩa được lịch sử”34. Như vậy, chính Mác, Ăngghen đã phải vận
dụng phương pháp tổng hợp, biện chứng duy vật, trừu tượng... để hình thành
phạm trù HTKT-XH. Hình thái kinh tế-xã hội là một khái niệm của chủ nghĩa
duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định với một
kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với trình độ nhất định của
lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên
những quan hệ sản xuất ấy. Tư tưởng ấy là sự biểu hiện tập trung của quan niệm
pháp luận, nhiệm vụ đó phải dựa trên nền tảng tri thức của học thuyết HTKT-XH
là trước hết.
Về quy luật phổ biến xuyên suốt lịch sử: Học thuyết HTKT-XH chính là
khoa học về quy luật phổ biến của lịch sử: quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; quy luật về vai trò quyết
định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng; sự vận động tổng hợp hai
quy luật đó quyết định sự thay thế các HTKT-XH từ thấp đến cao, tạo ra sự đứt
đoạn trong tính liên tục của sự vận động phát triển của xã hội loài người. Mác đã
khái quát tư tưởng đó trong lời tựa của bộ tư bản-xuất bản lần 1- quyển 1: “Tôi
coi sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một qúa trình lịch sử tự
nhiên”. Ngoài ra, tính phổ biến của mọi HTKT-XH còn được biểu hiện ở kết cấu
của một HTKT-XH bao gồm 3 yếu tố cơ bản là: lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất (cơ sở hạ tầng) và kiến trúc thượng tầng, sự tác động biện chứng của 3 yếu
tố cơ bản đó trong một HTKT-XH, hình thành hai quy luật cơ bản. Tuy nhiên,
vai trò của từng yếu tố đến sự phát triển của HTKT-XH khác nhau, không ngang
bằng nhau, nhưng xét đến cùng là do lực lượng sản xuất quyết định hết thẩy. Với
ý nghĩa đó, lần đầu tiên trong lịch sử, sự ra đời của học thuyết HTKT-XH chỉ ra
quy luật phổ biến xuyên suốt lịch sử, và như vậy, làm cho CNDVLS trở thành
triết học xã hội. Qua đó, cho phép chúng ta nhận thức đúng đắn trật tự phát triển
của các hình thái kinh tế – xã hội tuần tự từ thấp đến cao theo quy luật khách
quan, cho phép đánh giá trình độ phát triển của xã hội ở từng giai đoạn lịch sử
nhất định.
Về quy luật phổ biến của các xã hội có giai cấp, đó là những vấn đề giai
cấp, đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, vấn đề chính quyền nhà nước... Mặc
dù xã hội có giai cấp chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn so với toàn bộ sự tồn
tại của lịch sử loài người, nhưng nó lại tồn tại ở ba hình thái kinh tế – xã hội, hơn
nữa những vấn đề phức tạp nhất của lịch sử đều liên quan đến những quan điểm,
lý luận đối lập nhau, điều đó lại chỉ ở trong các hình thái kinh tế xã hội này, đặc
biệt tính chất quanh co, phức tạp trong quá trình vận động, phát triển của hình
thái KTXH này rất lớn, sự hỗn loạn càng nhiều, các nhà tư tưởng đôi khi bị ràng
tưởng đó, thấm vào phong trào quần chúng sẽ trở thành lực lượng vật chất to lớn
cải tạo hiện thực. Với ý nghĩa như vậy, học thuyết HTKT-XH phản ánh sự thống
nhất giữa bản chất khoa học với bản chất cách mạng, là nội dung cốt lõi nhất của
thực chất bước ngoặt cách mạng do Mác, Ăngghen thực hiện trong triết học.
Rõ ràng, học thuyết HTKT-XH là một thành tựu vĩ đại của khoa học xã
hội, là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử tư tưởng nhân loại, sự ra đời của nó
là một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội, nó đối lập với
quan niệm duy tâm, trừu tượng về xã hội, bác bỏ cách miêu tả xã hội một cách
chung chung, một xã hội cấu thành chỉ bằng những con người tự nhiên sinh vật,
nó đánh đổ hẳn quan niệm cho rằng, xã hội chỉ là một tổ hợp có tính chất máy
móc, có thể tuỳ ý biến đổi theo đủ mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hoá một
20
20
cách ngẫu nhiên, nói một cách khác, học thuyết HTKT-XH đã làm cho chủ nghĩa
duy vật lịch sử trở thành triết học về xã hội, nếu như chủ nghĩa duy vật lịch sử là
một trong hai phát kiến vĩ đại của Mác, là dấu hiệu đặc trưng, chủ yếu của thực
chất bước ngoặt do Mác, Ăngghen thực hiện trong triết học, thì học thuyết
HTKT-XH là cái kết tinh, tinh tuý của thực chất bước ngoặt ấy, tống cổ chủ
nghĩa duy tâm ra khỏi nơi ẩn náu cuối cùng của lịch sử, “vật tự nó” sẽ trở thành
“vật cho ta”.
*** Giá trị của học thuyết HTKT-XH trong thời đại ngày nay.
Ngày nay, cách mạng khoa học công nghệ đã tiến một bước dài trên con
đường phát triển, thế giới “hậu Xô viết” thật phức tạp và khó đoán, tưởng chừng
mọi cái đều đảo lộn, không theo một trật tự quy luật nào. Song sự đảo lộn đó, dù
đến mức nào vẫn không thể là “vật tự nó”. Tuy vậy, nhận thức và giải thích sự
đảo lộn ấy không đơn giản, phải xuất phát từ tầng sâu của sự vận động để giải
nghĩa tư bản có thích nghi, điều chỉnh đến đâu, dưới ánh sáng của học thuyết
HTKT-XH, cho thấy HTKT-XH đó không thể tồn tại vĩnh viễn, phải được thay
thế bằng chủ nghĩa xã hội. Giá trị đích thực của học thuyết HTKT-XH chính là ở
tính khách quan khoa học và tính cách mạng chân chính của nó. Mọi sự vận
động biến đổi, phát triển của HTKT-XH đều xuất phất từ việc giải quyết mâu
thuẫn bên trong, nội tại của HTKT-XH, mâu thuẫn bên trong của chủ nghĩa tư
bản mới quyết đinh sự phủ định chủ nghĩa tư bản. Và thời đại ngày nay vẫn là
thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.
Sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Đông Âu) không làm
mất đi giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết HTKT-H nói
riêng. Bởi Đảng cộng sản ở các nước đó lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội trái với nguyên lý của học thuyết HTKT-XH của Mác, chậm đổi mới, trái
với quy luật khách quan, mà trước hết là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp
với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, chủ quan, duy ý chí.
Mác đã từng nói: “chủ nghĩa cộng sản không phải là câu trả lời cho một sự
mong muốn của con người (tức là một khái niệm duy tâm – không tưởng) mà là
câu trả lời cho một sự vận động lịch sử hiện thực (khái niệm duy vật phê phán).
Cho nên, đánh giá giá trị của học thuyết HTKT-XH trong thời đại ngày nay,
chúng ta phải trở về đúng với Mác, đứng trên cơ sở kế thừa và phát triển, không
phải như một giáo lý tôn giáo và chúng ta cũng phải học tập tấm gương và sự kế
thừa phát triển lý luận Mác của Lênin. Đặc biệt là sự vận dụng những quy luật
kinh tế vào một nước Nga, chủ nghĩa tư bản phát triển trung bình quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội. Sự vận dụng đó, biểu hiện tập trung ở chính sách kinh tế mới
NEP.
Tóm lại, với học thuyết HTKT-XH đã làm cho chủ nghĩa duy vật lịch sử
nổi bật trong nội dung bước ngoặt cách mạng do Mác, Ăngghen thực hiện trong
triết học, nội dung đó trang bị cho chúng ta chìa khoá để nhận thức, giải thích sự
vận động, phát triển của xã hội loài người một cách khoa học, chấm dứt thời gian
kéo dài hàng nghìn năm con người chỉ mô tả, phỏng đoán, tư biện khi giải thích
xã hội. Tư tưởng đó, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, giá trị đó còn xuyên suốt