Tài liệu Tiểu luận: Học thuyết hình thái kinh tế xã hội với việc nhận thức tính tất yếu của con đường lựa chọn xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam - Pdf 97

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

TIỂU LUẬN
Đề tài:
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội với việc
nhận thức tính tất yếu của con đường lựa chọn
xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam
1
MỤC LỤC
K T LU NẾ Ậ 28
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 29
LỜI NÓI ĐẦU
Trong gần 10 năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta có sự thay đổi và
đạt được nhiều thành tựu to lớn. Để đạt được những thành tựu ấy chúng ta
không thể quên được bước ngoặt lịch sử trong cơ chế chuyển đổi nền kinh
tế đất nước, mà cột mốc của nó là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986
đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế Nhà nước).
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi
nghèo nàn lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của nước phát triển thì
tất yêú phải đổi mới.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: Xây
dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần
cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
2
bằng văn minh. Mục tiêu đó là sự cụ thể hoá học thuyết Mác về hình thái
kinh tế - xã hội và hoàn cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam. Nó cũng là mục
tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.
Đề tài: Học thuyết hình thái kinh tế xã hội với việc nhận thức

trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản
xuất và một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những
quan hệ sản xuất ấy.
Lý luận về hình thái kinh tế xã hội nghiên cứu lịch sử xã hội trên cơ
sở xem xét cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng. Tức toàn bộ các yếu tố cấu thành bộ mặt của thời
đại: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật. . . Do đó, nó cắt
nghĩa xã hội được sáng tỏ hơn, toàn diện hơn, chỉ ra cả bản chất và quá
trình phát triển của xã hội. Học thuyết hình thái kinh tế xã hội mới với tư
cách là “Hòn đá tảng” của xã hội học Mác xít nói chung cho phép chúng ta
hình dung quá trình phát triển của lịch sử là một quá trình tự nhiên. Loài
người đã trải qua năm hình thái kinh tế: xã hội cộng sản nguyên thuỷ,
chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và ngày nay đang quá độ lên
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Hình thái kinh tế xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời phát triển và diệt
vong. Chế độ xã hội lạc hậu sẽ mất đi, chế độ xã hội mới cao hơn sẽ thay
thế. Đó là khi phương thức sản xuất cũ đã trở nên lỗi thời, hoặc khủng
hoảng do mâu thuẫn của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất quá hơn
không thể phù hợp thì phương thức sản xuất này sẽ bị diệt vong và xuất
4
hiện một phương thức sản xuất mới toàn diện hơn, có quan hệ sản xuất phù
hợp với lực lượng sản xuất.
Như vậy, bản chất của sự thay thế trên là phụ thuộc vào mối quan hệ
biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Để hiểu rõ về mối
quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chúng ta
phải nắm bắt được thế nào là quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
1) Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là
biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong từng giai đoạn
lịch sử nhất định. Lịch sử sản xuất là một thể thống nhất hữu cơ giữa tư liệu

trong nội dung sự tác động trở lạI đối với lực lượng sản xuất, mục đích xã
hội của lực lượng sản xuất, xu hướng phát triển của quan hệ lợi ích. Từ đó
hình thành những yếu tố thúc đẩy và kìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Sự tác động trở lại nói trên của quan hệ sản xuất bao giờ cũng
thông qua các quy luật kinh tế - xã hội đặc biệt là quy luật kinh tế cơ bản.
Phù hợp và không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là
khách quan và phổ biến của mọi phương thức sản xuất.
Sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất như sự thống nhất giữa hai mạt đối lập tạo nên chỉnh thể của sản xuất
xã hội. Trong “Hệ tư tưởng Đức” (1846) lần đầu tiên Mác- Ănghen đã hình
dung sự thống nhất đó như là một “quan hệ song trùng”, giữa hai “sự trao
đổi chất” tất yếu và phổ biến ở mọi nền sản xuất - xã hội. Đó là “trao đổi
chất giữa người với tự nhiên (lực lượng sản xuất) và giữa người với người
(quan hệ sản xuất)”.
6
Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản
xuất được Mác - Ănghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa quan
hệ sản xuất với trình độ , tính chất của lực lượng sản xuất.
Đây là một trong những quy luật cơ bản của đời sỗng xã hội. Quy
luật này chỉ rõ động lực và xu thế phát triển của lịch sử.
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu lao động.
Khi công cụ lao động sản xuất đựoc sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để
sản xuất ra một sản phẩm cho xã hội không cần đến lao động của nhiều
người thì lực lượng sản xuất có tính chất cá thể, công cụ sản xuất được
nhiều người sử dụng.
Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ tinh xảo và
hiện đại của công cụ sản xuất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, kỹ
sảo của người lao động, trình độ phân công lao động xã hội , tổ chức quản
lý sản xuất và quy mô của nền sản xuất. Trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất càng cao thì chuyên môn hoá và phân công lao động càng sâu.

lực lượng sản xuất đã mang yếu tố xã hội hoá gắn với quan hệ sản xuất
phong kiến. Mặc dù hình thức bóc lột của các lãnh chúa phong kiến được
thay đổi liên tục từ địa tô lao dịch đến địa tô hiện vật, địa tô bằng tiền song
quan hệ sản xuất phong kiến chật hẹp vẫn không chứa đựng được nội dung
mới của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời thay thế quan hệ sản xuất
phong kiến. Trong lòng nền sản xuất tư bản, lực lượng sản xuất phát triển
cùng với sự phân công lao động và tính chất xã hội hoá công cụ sản xuất đã
hình thành lao động chung của người dân có tri thức và trình độ chuyên
môn hoá cao. Sự lớn mạnh này của lực lượng sản xuất dẫn đến mâu thuẫn
gay gắt với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Giải quyết mâu thuẫn
8
đó đòi hỏi phải xoá bỏ quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa, xác lập
quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Theo Mác, do có
được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phát triển sản xuất
của mình và do đó thay đổi phát triển sản xuất làm ăn của mình, loài người
thay đổi các quan hệ sản xuất của mình.
Mặc dù bị chi phối bởi lực lượng sản xuất nhưng với tính cách là
hình thức quan hệ sản xuất củng cố những tác động nhất định trở lại đối với
lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy, định
hướng và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển ngược lại. Nếu lạc
hậu hơn so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hay
chỉ là tạm thời so với tất yếu khách quan của cuộc sống nhưng quan hệ sản
xuất sẽ là xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Phù hợp có thể hiểu ở một số nội dung chủ yếu là: cả ba mặt của
quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất phải tạo được điều kiện sản xuất và kết hợp với tối ưu
giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, đảm bảo trách nhiệm từ sản xuất mở

phối các thành phần kinh tế khác.
Xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp này nảy sinh từ cơ sở hạ tầng,
từ những mâu thuẫn và xung đột kinh tế. Đó chính là cơ sở nảy sinh giai
cấp đối kháng trong kiến trúc thượng tầng, giai cấp thống trị về kinh tế sẽ
thống trị về chính trị và thiết lập cả sự thống trị về mặt tư tưởng đối với xã
hội, trong đó hệ tư tưởng chính trị và bộ máy quản lý nhà nước có vị trí
quan trọng nhất.
10
a) Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng.
Cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thượng tầng đó (giai cấp nào giữ vị trí
thống trị về mặt kinh tế thì đồng thời cũng là giai cấp thống trị xã hội về tất
cả các lĩnh vực khác).
Quan hệ sản xuất nào thống trị cũng sẽ tạo ra kiến trúc thượng tầng
tương ứng. Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa các tập đoàn trong xã hội
và dời sống tinh thần của họ đều xuất phát trực tiếp và gián tiếp từ mâu
thuẫn kinh tế, từ những quan hệ đối kháng trong cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng thay đổi thì nhất định sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự
thay đổi về kiến trúc thượng tầng. Quá trình đó diễn ra ngay trong những
hình thái kinh tế xã hội cũng như khi chuyển tiếp từ hình thái này sang hình
thái kinh tế xã hội khác trong các xã hội có giai cấp mâu thuẫn giữa cơ sở
hạ tầng được biểu hiện là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị
trị.
Trong các xã hội có đối kháng giai cấp mâu thuẫn của cơ sở hạ tầng
được biểu hiện là mâu thuẫn cuả giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Khi hạ
tầng cũ bị xoá bỏ thì kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi và thay thế vào
đó là kiến trúc thượng mới được hình thành từng bước thích ứng với cơ sở
hạ tầng mới.
Sự thống trị của giai cấp thống trị cũ đối với xã hội cũ bị xoá bỏ,
thay bằng hệ tư tưởng thống trị khác và các thể chế tương ứng của giai cấp
thống trị mới. Đương nhiên không phải “Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì lập

Trong điều kiện ngày nay vai trò của kiến trúc thượng tầng không
giảm đi mà ngược lại tăng lên và tác động mạnh đến tiến trình lịch sử. Trái
lại kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa bảo vệ cơ sở hạ tầng xã hội xã
12
hội chủ nghĩa nhằm xây dựng lại xã hội mới. Chính mục đích đó quyết định
tính tích cực càng tăng của kiến trúc thượng tầng.
Tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng được thể hiện
trong 2 trường hợp trái ngược nhau nếu kiến trúc thượng tầng phù hợp với
quan hệ kinh tế tiến bộ thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Ngược lại,
nếu kiến trúc thượng tầng là cơ sở của những quan hệ kinh tế lỗi thời thì sẽ
kìm hãm sự phát triển của kinh tế xã hội. Những sự tác động kìm hãm đó
chỉ là tạm thời sớm muộn cũng bị cách mạng khắc phục. Về cơ bản, bản
chất giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng chính là bản chất giữa
kinh tế và chính trị trong đó kinh tế đóng vai trò quyết định còn chính trị là
biểu hiện tập trung của kinh tế có tác động mạnh mẽ trở lại.
II. VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀO SỰ
NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC.
1) Tính tất yếu.
Loài người đã phải trải qua 5 hình thái kinh tế. Mỗi hình thái sau văn
minh tiến bộ hơn hình thái trước. Đầu tiên là hình thái kinh tế tự nhiên
(cộng sản nguyên thuỷ) con người chỉ biết săn bắn hái lượm, ăn thức ăn
sống, cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, họ chưa biết
chăn nuôi trồng trọt, chưa biết tích luỹ thức ăn. Có thể nói đây là thời kỳ sơ
khai của loàI người. Sau đó đến hình thái chiếm hữu nô lệ con người đã
văn minh hơn họ không còn biết ăn tươi nuốt sống và đã biết lao động để
tạo ra của cải vật chất.
Hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ, quan hệ giữa hai giai cấp đó
là quan hệ bóc lột hoàn toàn của cải vật chất và con người. Nô lệ biến thành
công cụ lao động.
Hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa ra đời đưa loài người lên

14
dựng trên cơ sở của lực lượng sản xuất và trình độ phát triển cao, cơ sở hạ
tầng phục hợp với kiến trúc thượng tầng.
Song Việt Nam từ một nền kinh tế tiểu nông muốn thoát ra khỏi
nghèo nàn lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ một nước phát triển
bằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải tiến hành công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước.
2) Mục đích
Mục tiêu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay như
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định là : xây dựng
nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cơ
cấu kinh tế lập hiến, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng
an ninh vững chắc dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh, và
nước ta đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đây là những nhận định rất quan trọng đối với
những bước đi tiếp theo trong sự nghiệp đổi mới.
Công nghiệp hoá hiện đại hoá là một quá trình nhằm đưa nước ta từ
một nề công nghiệp lạc hậu thành một nền công nghiệp hiện đại. Hiện đại
hoá là mục tiêu cơ bản của văn minh hiện đại thể hiện xu hướng lịch sử tiến
bộ loài người.
Đó là nhiệm vụ quan trọng có tầm cỡ lớn đòi hỏi phải đi từ cái cụ thể
đến cái tổng thể. Trước hết cần hiểu rõ thực trạng và những định hướng
chung của Việt Nam. Trình độ lực lượng sản xuất ở mức độ thấp, quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, lại không phải từ chủ nghĩa tư bản mà từ bươcs quá
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản.
Vì vậy, cần phải nhận thức đầy đủ và sáng tạo các quy luât khách
quan trong đó quy luật sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực
15
lượng sản xuất. Là quy luật cơ bản nhất nhằm cải tạo các thành phần kinh

sống xã hội thấp kém, nghèo khổ.
Trước đây chúng ta do không thấy được quy luật lực lượng sản xuất
phát triển sẽ kéo theo quan hệ sản xuất phát triển nên chúng ta đã đI ngược
lạI quy luật này và muốn áp đặt một quan hệ sản xuất để kéo theo sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Sau khi tiến hành đổi mới chúng ta đã tuân
theo những quy luật chuyển nền kinh tế sang nền kinh tế nhiều thành phần
hoạt động trên cơ chế thị trường làm cho năng suất lao động tăng, lực
lượng sản xuất phát triển do đó quan hệ sản xuất càng phát triển theo.
Mặt khác phải tạo ra yếu tố tích cực biến các yếu tố chủ quan vì nó
có tính độc lập tương đối vì rằng ý thức có tính vượt trước nên quan hệ sản
xuất có khả năng vượt so với sản lượng sản xuất. Đây là sự phù thuộc có
tính vượt trước dựa trên cơ sở suy luận khoa học lôgíc, dựa trên các quy
luật cao hơn là sự vượt trước kiến trúc thượng tầng so với cơ sở hạ tầng.
Đáng tiếc là vì chúng ta muốn rút ngắn thời kỳ quá độ nên chúng ta
đã tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan và chính trị cho rằng chỉ cần có sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản thì chúng ta có thể làm cho quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Mặt khác là do chưa
hiểu thấu đáo về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã hành
động trái quy luật, đã không làm những việc phải làm, giáo điều mô hình
kinh tế của người khác. Trong khi những mô hình kinh tế đó chỉ là sản
phẩm của tưởng tượng chủ quan duy ý thức.
Cả một thời gian dài chúng ta đã quá đề cao vai trò của quan hệ sản
xuất. Chúng ta đã không thấy rõ bước đi có tính quy luật trên con đường
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì thế phải tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội
chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân.
17
Nền kinh tế tuy đạt được tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng sự tăng
trưởng đó không có phát triển vì dựa vào bao cấp, bởi chi ngân sách lạm
phát vay nợ nước ngoài. Con người được giải phóng và bị lâm vào tình
trạng khủng hoảng, tăng chi phí lớn của cải xã hội.

người.
4) Một số biện pháp.
Để thực hiện được mục tiêu Đảng đề ra là làm cho dân giàu nước
mạnh xã hội công bằng văn minh, đất nước chuyển mình lên chủ nghĩa xã
hội thì đi đôi với việc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất. Chúng ta nhất
thiết phải phát triển lực lượng sản xuất, vì không có lực lượng sản xuất
hùng hậu với năng suất cao thì không thể nói đến công nghiệp xã hội.
Mà muốn có lực lượng sản xuất hùng hậu và năng suất lao động cao
thì không chỉ dựa vào nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công mà phải
phát triển công nghiệp đi lên đổi mới công nghệ ngày càng hiện đại . Nói
cách khác là phải tiến hành theo hiện đại hoá. Đó là bước đi tất yếu của một
quốc gia muốn đi lên từ một nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn và đó cũng là
xu thế chung của lịch sử.
Một lần nữa ta khẳng định tính tất yếu của công cuộc hoá hiện đại
hoá ở Việt Nam. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đưa đất nước ta vượt qua
một chặng đường dài đi lên công nghiệp xã hội. Đó là sự tụt hậu ngày càng
xa của các nước đang phát triển so với các nước phát triển. Công nghiệp
hoá - hiện đại hoá là để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã
hội.
19
Nhận định được những điều nói trên và những bài học kinh nghiệm
rút ra từ thực tế ở Việt Nam, Đảng ta đã xác định lại tư tưởng nhận thức
một cách đúng đắn hơn.
A) Xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế mới.
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá ngày nay không thể hiểu như trước
kia. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá ngày nay không phải đơn thuần là sự
phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp mà còn là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế phù hợp với sự đổi mới cơ bản về kinh tế và công nghiệp hoá -
hiện đại hoá tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Từ đó tạo ra sự cân đối hài
hoà giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc doanh.

mạnh của các hoạt động dịch vụ đặc biệt là dịch vụ có thu ngoại tệ mạnh.
Cần nâng cao năng lực và trình độ hiện đaị và các ngành dịch vụ kỹ
thuật,ngân hàng, bưu chính viễn thông.
Các dịch vụ về hàng hải và hàng không có triển vọng to lớn,chúng ta
cần chú trọng phát triển cụ thể như các dịch vụ vận tải biển,dịch vụ vận tải
biển quá cảnh.
Ngoài ra vấn đề phân công lại lao động xã hội và tranh thủ vốn đầu
tư Nhà nước cũng như vấn đề giải quyết sớm để phát triển kinh tế.
B) Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Nước ta hiện nay là một Nhà nước với 80% dân cư đang sinh sống
bằng sản xuất nông nghiệp. Đây là một địa bàn tập trung đạI bộ phận người
nghèo. Vì vậy, phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn đã đang
và sẽ là mối quan tâm hàng đầu của chúng ta. Song nông nghiệp không thể
21
tự mình thay đổi, đổi mới cơ sở vật chất kĩ thuật công nghệ không có khả
năng tăng trưởng nhanh để tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nông dân
mà phảI có tác động mạnh mẽ của công nghiệp, dịch vụ . Chỉ có như vậy sẽ
xoá vỡ được trạng thái trì trệ của nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ xoá
đói giảm nghèo nâng cao mức thu nhập bình quân.
Phần trên đã cho ta thấy thực tế trong mấy năm chuyển đổi sản xuất
nông nghiệp được phát triển rõ rệt. Hơn nữa theo kinh nghiệm của các
nước Châu á - Thái Bình Dương sự phát triển công nghiệp giai đoạn đầu
chủ yếu được đưa vào nền tảng của nông nghiệp. Công nghiệp hoá phảI tạo
cơ sở cho công nghiệp nông thôn phát triển.
Hàn quốc khuyến khích cơ sở công nghiệp nông thôn thu hút công
nghiệp chế tạo và dịch vụ qua phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Chính
vì những bước đó mà việc phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội ở nông
thôn là một việc làm cần thiết trong thời gian trước mắt nhằm đẩy tới một
bước công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta.
* Chính sách đường lối phát triển

thành cảng biển lớn vào bậc nhất Đông Nam á).
Nhìn lại cơ sở hạ tầng của nước ta, một số đã phát huy hiệu quả kinh
tế của nó như nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, khu gang thép Thái Nguyên
đang đi vào đổi mới công nghệ, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch.
Trong tương lai ta sẽ xây dựng trung tâm Đại học, khoa học công nghiệp, y
tế thể dục, trung tâm quốc gia.
D) Phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi sự tham gia của mọi thành
phần kinh tế. Sau những năm mở cửa, nền kinh tế cùng với những chính
23
sách của Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát
triển. Không như trước kia ngày nay các thành phần kinh tế từ quốc doanh
đến tư nhân phát huy hết tiềm năng của mình nằm trong nền kinh tế thị
trường. Chúng bổ sung cho nhau cạnh tranh nhau tạo nên một sự phát triển
có hiệu quả đẩy nước ta lên một nấc thang cao hơn của công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước.
Kinh nghiệm của chính nước ta đã chứng tỏ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đòi hỏi phải có sự tham gia của mọi thành phần kinh tế trong nền
kinh tế quốc dân. Có như vậy chúng ta mới phát huy được tư tưởng Hồ Chí
Minh “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”.
Trong thời gian tới để tạo đIều kiện cho các thành phần kinh tế phát
huy tính năng động của Người trong công cuộc đổi mới và xây dựng tổ
quốc chúng ta cần tăng cường quản lý chỉ đạo thống nhất quá trình mở cửa,
chuẩn bị tốt các chương trình kế hoạch, dự án hợp tác với bên ngoài. Đồng
thời phải quán triệt các quyết định chủ trương đã đề ra.
Đó là vấn đề trọng tâm nhất của chính sách đổi mới mà Đảng ta đề ra
song ta cần phải kết hợp với những chính sách khác như phát triển công
nghiệp trên các địa bàn thuận lợi có điều kiện . Hiện nay, ta đang chủ
trương đầu tư thúc đẩy mạnh các ngành công nghiệp chế biến nông lâm
thuỷ sản, cơ khí, điện tử tin học, các ngành nguyên vật liệu.

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân của tất cả
thành phần kinh tế trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cán bộ và công
chức nhà nước nói chung, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế nói riêng
là phương pháp chủ yếu và quyết định.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status