MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình ảnh
Nội Dung
1
Vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên
2
Vai trò của nước đối với cơ thể con người
3
Nước phục vụ cho thủy điện
4
Hệ thống phun nước tự động trong nông nghiệp
5
Du lịch sông nước miền tây
6
Vận tải thủy
14
Nguồn thải đầm NTTS chưa được xử lý đúng cách.
Đồng bào Ra Glai ở thôn Gia Hoa, xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn
đã có nước sạch để sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 2
MỞ ĐẦU
Nước là một nhân tố quan trọng cấu thành nên môi trường, quyết định sự tồn tại
và phát triển của cả hành tinh.Vai trò quan trọng của nước thể hiện rõ nét trong tất
cả mọi mặt của đời sống con người: nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống
trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người, ngoài chức năng
tham gia vào chu trình sống trên, nước còn mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng,
chất mang vật liệu và là tác nhân quan trọng điều hoà khí hậu, thực hiện các chu
trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể nói, sự sống của con người và mọi
sinh vật trên Trái Đất phụ thuộc vào nước.
Tài nguyên nước không phải là một nguồn tài nguyên vô hạn và hiện nay nguồn
tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô
nhiễm và suy kiệt. Nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm
họa lớn đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên Trái Đất.
Trong những năm qua, sự tăng nhanh về dân số và khai thác quá mức tài nguyên
nước cho các hoạt động sống của con người như hoạt động sản xuất nông nghiệp,
lương thực thực phẩm, hoạt động sản xuất công nghiệp, hoạt động giao thông vận
tải, du lịch, đã làm tăng nguy cơ suy thoái tài nguyên nước.
Và hiện nay trên Thế Giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng, sự mất cân
bằng, suy thoái và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có tài nguyên
không khí di chuyển những đám mây, những phân tử mây va chạm vào nhau, kết
hợp với nhau, gia tăng kích cỡ và rơi xuống thành giáng thủy. Giáng thuỷ dưới dạng
tuyết được tích lại thành những núi tuyết và băng hà. Trong những vùng khí hậu
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 4
ấm áp hơn, tuyết tan và chảy thành dòng trên mặt đất, đôi khi tạo thành lũ. Phần
lớn lượng giáng thuỷ rơi trên các đại dương hoặc rơi trên mặt đất và trở thành
dòng chảy mặt. Một phần dòng chảy mặt chảy vào trong sông theo những thung
lũng sông trong khu vực, với dòng chảy chính trong sông chảy ra đại dương. Dòng
chảy mặt, và nước thấm được tích luỹ và được trữ trong những hồ nước ngọt. Mặc
dù vậy, không phải tất cả dòng chảy mặt đều chảy vào các sông. Một lượng lớn nước
thấm xuống dưới đất. Một lượng nhỏ nước được giữ lại ở lớp đất sát mặt và được
thấm ngược trở lại vào nước mặt dưới dạng dòng chảy ngầm. Một phần nước ngầm
chảy ra thành các dòng suối nước ngọt. Nước ngầm tầng nông được rễ cây hấp thụ
rồi thoát hơi qua lá cây. Một lượng nước tiếp tục thấm vào lớp đất dưới sâu hơn và
bổ sung cho tầng nước ngầm sâu để tái tạo nước ngầm, nơi mà một lượng nước
ngọt khổng lồ được trữ lại trong một thời gian dài. Tuy nhiên, lượng nước này vẫn
luân chuyển theo thời gian, có thể quay trở lại đại dương, nơi mà vòng tuần hoàn
nước “kết thúc” … và lại bắt đầu .
1.2 Vai trò tài nguyên nước
1.2.1 Vai trò của nước đối với con người
1.2.1.1. Đối với sức khỏe con người
Nước vận chuyển chất dinh dưỡng và ôxy nuôi dưỡng mọi bộ phận, là dung môi
hòa tan các chất, duy trì nhiệt độ trung bình, tham gia quá trình hấp thu và chuyển
hóa thức ăn thành năng lượng để cung cấp cho mọi hoạt động của cơ thể, thải trừ
các chất cặn bã qua hệ tiết niệu, tiêu hóa, hô hấp, da, bảo vệ các cơ quan tránh bị
tổn thương do chấn thương, là thành phần chính của chất nhờn bảo vệ các khớp
Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn. Nước tạo ra năng lượng điện để
cung cấp cho hoạt động của nền kinh tế thông qua việc sử dụng động lực hay năng
lượng dòng chảy của các con sông làm quay các tuốc bin nước và máy phát điện,
đây là nguồn năng lượng sạch và chiếm 20% lượng điện của thế giới, đồng thời hạn
chế được giá thành nhiên liệu và chi phí nhân công. Để sản xuất 1 tấn gang cần 300
tấn nước, một tấn xút cần 800 tấn nước. Người ta ước tính rằng 15% sử dụng nước
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 6
trên toàn thế giới công nghiệp như: các nhà máy điện, sử dụng nước để làm mát
hoặc như một nguồn năng lượng, quặng và nhà máy lọc dầu, sử dụng nước trong
quá trình hóa học, và các nhà máy sản xuất, sử dụng nước như một dung môi. Mỗi
ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng
nước, loại nước khác nhau. Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế. Nếu không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công
nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại.
Hình 3: Nước phục vụ cho thủy điện
b) Vai trò của nước đối với nông nghiệp
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, trong đó nước là thành phần tối quan
trọng trong nông nghiệp.
Trong tổng số khối lượng nước được khai thác sử dụng trên toàn thế giới hiện
nay là 3.800 tỷ m3, thì việc tưới tiêu nước trong nông nghiệp sử dụng 70% (2.700 tỷ
m3). Gần 95% lượng nước tại các nước đang phát triển được sử dụng để tưới tiêu
cho đất nông nghiệp, nước có ý nghĩa rất quan trọng, nếu không có nước thì các
khoáng chất không được hòa tan, sẽ không có dung dịch đất và rễ cây không hấp
thụ được.
Ngoài ra, hoạt động chăn nuôi gia súc gia cầm trong nông nghiệp cũng cần có
Hình 6: Vận tải đường thủy
1.2.2 Vai trò của nước đối với sinh vật
Sau nhân tố nhiệt độ, nước (độ ẩm) là một nhân tố sinh thái vô cùng quan trọng.
Trong lịch sử phát triển của sinh giới trên bề mặt Trái Đất luôn luôn gắn liền với
môi trường nước. Các sinh vật đầu tiên xuất hiện trong môi trường nước. Quá trình
đấu tranh lên sống ở cạn, chúng cũng không tách khỏi môi trường nước, nước cần
thiết cho quá trình sinh sản. Sự kết hợp của các giao tử hầu hết được thực hiện
trong môi trường nước, nước cần thiết cho quá trình trao đổi chất.
Nước chứa trong cơ thể sinh vật một hàm lượng rất cao, từ 50 - 90% khối lượng
cơ thể sinh vật là nước, có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% như ở một
số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức).
Nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ.
Nước là môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển chất vô cơ và
hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật.
Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.
Cuối cùng nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinh vật,
nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 9
Hình 7: Vai trò của nước đối với sinh vật
1.3 Các vấn đề môi trường nước
1.3.1 Thực trạng môi trường nước
Thực trạng môi trường nước trên thế giới
Sự phân bố nguồn nước trên Thế Giới không đều dẫn đến hiện tượng nước này
khô hạn nước kia thoát lũ.
ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em. Tình trạng ô
nhiễm asen (thạch tín) và flo (fluoride) trong nước ngầm đang đe dọa nghiêm trọng
tình trạng sức khỏe của 50 triệu người dân trong khu vực. Các công trình nghiên
cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng nước bẩn gây ra đã ảnh hưởng
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 11
đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em. Hàng ngày có rất nhiều
em ở các nước đang phát triển không được đến trường vì bị các bệnh như tiêu chảy,
nhiễm trùng đường ruột. Hơn nữa, nhiều học sinh gái không thể đến trường đi học
nếu không có công trình nước và vệ sinh riêng biệt cho các em. Tại diễn đàn của Trẻ
em thế giới về nước tổ chức tại Mehico ngày 21/3, UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em
trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vì không có nước sạch. Theo đó, trẻ em là
người phải trả giá cao nhất khi không được sử dụng nước sạch. Kết quả nghiên cứu
cho thấy trẻ em dưới năm tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất (căn bệnh này gây tử vong
cho 4500 trẻ em mỗi ngày).
Tại các diễn đàn ở Stockholm (Thụy Điển), đại diện nhiều nước châu Phi báo
động về thảm cảnh khan hiếm nước tại lục địa này. Nguồn nước ở đây vừa rất thiếu,
lại rất thừa và bị ô nhiễm nặng nề do rác thải và sử dụng các chất hóa học vô tội vạ.
Nghiên cứu của Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc (FAO) cho biết, đã có 50 nước
trên thế giới sử dụng nước thải qua xử lý để phục vụ sản xuất nông nghiệp, vì nó
vừa giải quyết được nạn ô nhiễm ở các đô thị, vừa giúp nông dân tránh được chi phí
khai thác nước ngầm, còn nguồn chất hữu cơ có trong nước thải có thể giúp giảm
chi phí về phân bón, điển hình là ở Tây Ban Nha và Mexico.
Báo cáo của WB nhấn mạnh, các nguồn nước phục vụ sinh hoạt của con người và
sản xuất nông nghiệp đang bị giảm nghiêm trọng. Hiện có một phần sáu số dân thế
giới không được tiếp cận nguồn nước sạch và 30% không được tiếp cận các điều
kiện vệ sinh cơ bản. Vì vậy, các nước cần thông tin và được thông tin tốt hơn về các
thải. Các đoạn sông chảy qua khu đô thị, khu vực sản xuất công nghiệp, khai khoáng
đã bị ô nhiễm, nhiều chất ô nhiễm trong nước có độ vượt quá quy chuẩn cho phép từ
1,5 đến 3 lần.
Hình 10: Nước thải ra khỏi nhà máy xử lý tập trung của KCN Lê Minh Xuân
đen ngòm nhưng được báo cáo là đạt tiêu chuẩn
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 13
Ngay cả nước biển ven bờ cũng có dấu hiệu bắt đầu bị ô nhiễm. Chẳng hạn như
dải ven biển miền Nam kể từ Nha Trang trở vào đã có dấu hiệu ô nhiễm COD. Các
vùng biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa - Nghệ An, hàm lượng a-mo-ni (N-NH 4) đã
vượt hoặc xấp xỉ quy chuẩn cho phép. Một số vùng biển ven bờ đã có dấu hiệu bị ô
nhiễm dầu và xya-nua. Đối với nước biển ở ngoài khơi, hàm lượng oxy hòa tan và
hàm lượng dầu mặc dù thấp hơn ở ven bờ, song cũng đều vượt tiêu chuẩn ASEAN
cho vùng nước bảo tồn thủy sinh.
Chưa kể phần lớn nước dưới đất của nước ta đều có chất lượng tốt, nhưng cũng
bị cạn kiệt do khai thác thiếu bền vững và bị ô nhiễm cục bộ ở một số nơi, như ô
nhiễm vi sinh tại TP.Hồ Chí Minh; ô nhiễm phốt-phát tại Hà Nội; ô nhiễm a-sen, amo-ni ở Đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Những hệ lụy về thiếu nước sạch đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người
dân. Dưới đây là một vài con số về thực trạng nguồn nước tại Việt Nam
Khoảng 20% dân cư tại Việt Nam chưa được tiếp cận nguồn nước sạch. Theo
thống kê của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, hiện có khoảng 17,2 triệu
người Việt Nam (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt
từ giếng khoan chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý.
Hình 11: Người dân sử dụng nước sạch
đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước càng ngày càng trở
nên nan giải.
Nhu cầu nước càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp, nông
nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người. Theo sự ước tính, bình quân trên
toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công
nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% cho sinh hoạt. Tuy nhiên, nhu cầu nước sử
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 15
dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia. Thí dụ: Ở Hoa Kỳ,
khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và
9% cho sinh hoạt và giải trí (Chiras, 1991). Ở Trung Quốc thì 7% nước được dùng
cho công nghiệp, 87% cho nông nghiệp, 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí.
(Chiras, 1991).
Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao của nền
công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một
số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất..., chỉ
5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công
nghiệp. Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia chừng 120 lít, cần
3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần 300.000 lít nước để sản
xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước để sản xuất 1 tấn nhựa
tổng hợp. Theo đà phát triển của nền công nghiệp hiện nay trên thế giới có thể dự
đoán đến năm 2000 nhu cầu nước sử dụng cho công nghiệp tăng 1.900 km3/năm có
nghĩa là tăng hơn 60 lần so với năm 1900. Phần nước tiêu hao không hoàn lại do
sản xuất công nghiệp chiếm khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn
lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước
thải chứa đầy những chất gây ô nhiễm ( Cao Liêm, Trần đức Viên - 1990 ).
Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp
tiêu, trên 2000 trạm bơm lớn nhỏ, trên 10000 máy bơm các loại có khả năng cung
cấp 60-70 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, hệ thống thủy nông đã xuống cấp nghiêm trọng,
chỉ đáp ứng 50-60% công suất thiêt kế.
Lượng nước sử dụng hằng năm cho nông nghiệp khoảng 93 tỷ m 3, cho công
nghiệp khoảng 17,3 tỷ m3, cho dịch vụ là 2 tỷ m 3, cho sinh hoạt là 3,09 tỷ m 3. Tính
đến năm 2030 cơ cấu dùng nước sẽ thay đổi theo xu hướng Nông nghiệp 75%, Công
nghiệp 16%, tiêu dùng 9%. Nhu cầu dùng nước sẽ tăng gấp đôi, chiếm khoảng 1/10
lượng nước sông ngòi, 1/3 lượng nước nội địa, 1/3 lượng nước chảy ổn định.
Do lượng mưa lớn, địa hình dốc, nước ta là một trong 14 nước có tiềm năng thuỷ
điện lớn. Các nhà máy thủy điện hiện nay sản xuất khoảng 11 tỷ kWh, chiếm 72%
đến 75% sản lượng điện cả nước. Với tồng chiều dài các sông và kênh khoảng 40000
km, đã đưa và khai thác vận tải 1500 km, trong đó quản lý trên 800 km. Có những
sông suối tự nhiên, thác nước,… được sử dụng làm các điểm tham quan du lịch.
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 17
Hình 12: Một đoạn sông Sêrêpôk chảy qua Buôn Đôn đã cạn kiệt nước do
Thủy điện Sêrêpôk
Về nuôi trồng thủy hải sản, nước ta có 1 triệu ha mặt nước ngọt, 400000 ha mặt
nước lợ và 1470000 ha mặt nước sông ngòi có hơn 14 triệu ha mặt nước nội thủy
và lãnh hải. Tuy nhiên cho đến nay mới sử dụng 12,5% diện tích mặt nước lợ, nước
mặn và 31% diện tích mặt nước ngọt. Nhiều hồ và đập nhỏ hơn trên khắp toàn quốc
phục vụ tưới tiêu như Cấm Sơn (Bắc Giang), Bến En và Cửa Đạt (Thanh Hóa), Đô
Lương (Nghệ An)… Theo số liệu thống kê, Việt Nam hiện có hơn 3500 hồ chứa nhỏ
và khoảng 650 hồ chứa cỡ lớn và trung bình dùng để sản xuất thủy điện, kiểm soát
lũ lụt, giao thông đường thủy thủy lợi và nuôi trồng thủy sản(FAO, 1999).
Trang 19
chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm tàng khả năng khai thác nước dưới đất chưa kể
phần hải đảo ước tính khoảng 60 tỷ m 3/năm. Trữ lượng nước ở giai đoạn tìm kiếm
thăm dò sơ bộ mới đạt khoảng 8 tỷ m3/năm (khoảng 13% tổng trữ lượng).
Nếu kể cả nước mặt và nước dưới đất trên phạm vi lãnh thổ thì bình quân đầu
người đạt 4400 m3/người, năm (Thế giới 7400m 3/người, năm). Theo chỉ tiêu đánh
giá của Hội Tài nguyên nước Quốc tế IWRA thì quốc gia nào dưới 4000m 3/người,
năm là quốc gia thiếu nước. Như vậy, nước ta là một trong những nước đang và sẽ
thiếu nước trong một tương lai rất gần (Thực tế nếu kể cả lượng nước từ các lãnh
thổ nước ngoài chảy vào thì Việt Nam trung bình đạt khoảng 10.600m 3/người,
năm).
Lượng nước sản sinh từ ngoài lãnh thổ chiếm xấp xỉ 2/3 tổng lượng nước có
được, rất khó chủ động, thậm chí không sử dụng được. Sự phân bố của cả nước mặt
lẫn nước dưới đất rất không đều. Theo không gian, nơi có lượng mưa nhất là Bạch
Mã 8000mm/năm, Bắc Quang, Bà Nà đạt khoảng 5000mm/năm, trong khi Cửa
Phan Rí chỉ đạt xấp xỉ 400mm/năm. Theo thời gian, mùa lũ chỉ kéo dài từ 3- 5 tháng
nhưng chiếm tới 70- 85% lượng nước cả năm. Mùa lũ, lượng mưa một ngày lớn
nhất đạt trên 1500mm/ngày song mùa cạn tồn tại hàng nhiều tháng không có giọt
mưa nào. Mưa, lũ đạt kỷ lục trong vùng Đông Nam Á là ven biển Miền Trung. Hạn
hán xảy ra nghiêm trọng. Điều đó cần phải tích nước trong mùa lũ để điều tiết bổ
sung mùa cạn là giải pháp tích cực nhất, quan trọng nhất. Nước ta có khoảng 2360
con sông có chiều dài lớn hơn 10 km. Trong số 13 lưu vực sông chính và nhánh có
diện tích lớn hơn 10.000 km2 thì có đến 10/13 sông có quan hệ với các nước láng
giềng, trong đó có 3/13 sông thượng nguồn ở Việt Nam, hạ nguồn chảy sang nước
láng giềng, 7 sông thường nguồn ở nước láng giềng, hạ nguồn ở Việt Nam. Điều này
Việt Nam không những bị ràng buộc nguồn lợi về nước của quốc gia thứ hai, thứ
ba... chia sẻ, đồng thuận.Tổng lượng nước năm ứng với p = 75% khoảng 720 tỷ m 3,
tổng lượng nước mùa cạn có khoảng 170 tỷ m 3 (kể cả 30 tỷ m3 điều tiết từ các hồ
mực nước sông Hồng xuống tới mức l,36m - thấp nhất trong vòng 100 năm qua
Mùa khô 2006 - 2007, mực nước sông Hồng xuống tới 1,12m - mức thấp nhất kể từ
khi có trạm quan trắc trên sông Hồng.
2.3 Nguyên nhân suy thoái TNN
2.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu
- Nhiệt độ không khí có xu thế ngày một tăng lên đã được khẳng định. Kịch bản có
thể chấp nhận là đến năm 2070, ở các vùng ven biển có khả năng tăng thêm 1,5ºC,
vùng nội địa thêm 2,5ºC. Chúng kéo theo lượng tăng bốc thoát hơi lên khoảng 7,7-
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 21
8,4%, nhu cầu nước tưới tăng lên, lượng dòng chảy nước mặt sẽ giảm đi tương ứng
khi lượng mưa không đổi.
- ElNino gắn liền với việc gây hạn hán rất nặng nề ở nước ta. Những năm có
ElNino lượng mưa và lượng dòng chảy trong sông đặc biệt là trong mùa cạn
thường bị giảm mạnh, thậm chí không có dòng chảy như sông LrongBuk (DakLak ),
sông Hà Thanh (Bình Định)...
- Mặn xâm nhập sâu do mực nước biển dâng lên trung bình 20mm/năm ảnh
hưởng lớn đến việc cấp nước và thoát nước, suy thoái nước.
-Do hạn hán lượng nước trong sông cạn kiệt không đủ khả năng pha loãng làm
nước trong sông ngày càng bị ô nhiễm, suy thoái.
2.3.2 Sự gia tăng dân số
Sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội trong thế kỉ 21 sẽ làm gia tăng
nhu cầu sử dụng nước và đồng thời tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Nhu
cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người gia
tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn kiệt nguồn nước
và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún, nhiễm mặn…
mưa của đất. Thay vì giữ nước mưa được thấm xuống tầng nước ngầm, mất rừng
làm tăng quá trình rửa trôi nước bề mặt, sự di chuyển của nước bề mặt có thể dẫn
đến lũ quét và gây nhiều lũ lụt hơn khi có rừng bảo vệ. Quá trình làm giảm thoát hơi
nước, từ đó làm giảm độ ẩm không khí, trong một vài trường hợp có thể làm giảm
lượng mưa theo hướng gió từ khu vực bị mất rừng, vì nước không được tuần hoàn
trở lại rừng do bị mất trong quá trình rửa trôi và đổ thẳng ra biển.
2.3.4 Ảnh hưởng do các hoạt động kinh tế
2.3.4.1 Nông nghiệp
Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức
tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý
chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô
nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm.
Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã làm ô
nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự khuấy động
nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt.
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 23
Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, thuốc
trừ sâu, các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống kênh mương tưới
tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng.
Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thất
thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt.
2.3.4.2 Công nghiệp
Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn
dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà
còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập
lượng nước và các hệ thủy sinh ở cả thượng và hạ lưu dòng sông. Về nguyên tắc, hồ
chứa tạo điều kiện để điều hòa dòng chảy, trữ nước trong mùa lũ và bổ sung nước
vào mùa cạn, nhưng thực tế hoàn tòan khác: do bảo đảm phát điện hoặc nước tưới
nên việc vận hành nhiều hồ chứa chưa phân phối, điều hòa nguồn nước cho các nhu
cầu sử dụng một cách hợp lý; chưa có cơ chế cần thiết để bảo đảm hài hòa giữa các
lợi ích chính, giữa chống lũ và phát điện, giữa phát điện hoặc tưới và cấp nước cho
hạ du, cấp nước sinh hoạt, duy trì dòng chảy môi trường, đẩy mặn ở vùng cửa sông
ven biển...
Đa số các công trình hồ chứa thủy lợi và thủy điện chưa có quy trình vận hành
hoặc có nhưng chưa hợp lý, chậm được cập nhật sau hàng chục năm, có khi sau 20 40 năm hoạt động trong khi điều kiện tài nguyên nước và mục tiêu, nhiệm vụ hoạt
động của công trình cùng một số đặc trưng đã có những thay đổi lớn. Ở nhiều hồ
chứa, việc tích nước, xả nước vào những thời kỳ nhất định thường chưa tuân thủ
đúng quy trình vận hành đã được phê duyệt, chưa theo đúng thiết kế, thậm chí vi
phạm nghiêm trọng việc vận hành bảo đảm nguồn nước tối thiểu cho hạ lưu, không
bảo đảm dòng chảy môi trường, không bảo đảm đời sống bình thường của một
dòng sông. Tình trạng cạn kiệt nguồn nước ở hạ lưu sông Hồng cuối những năm
gần đây là những ví dụ rõ nhất về vấn đề này.
2.3.5 Những bất cập trong quản lý TNN và việc khai thác, sử dụng TNN
thiếu hợp lý.
- Những bất cập chính trong quản lý tài nguyên nước
Những bất cập chính trong quản lý tài nguyên nước hiện nay là: Chưa thực sự
theo phương pháp quản lý tổng hợp và bền vững theo lưu vực sông mà vẫn theo địa
Nhóm 3 – QLTN&MTK55
Trang 25