1
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA CHÍNH TRỊ HỌC
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NĂM HỌC 2015
Đề tài:
THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lưu Thúy Hồng
Sinh viên thực hiện:
Hứa Huy Hoàng (Chủ nhiệm)
Phùng Thu Hương
Cù Thị Vân
Phan Thị Nga
Nguyễn Thị Hoa
Lớp: Chính sách công K32
`
HÀ NỘI, 10 – 2015
2
MỤC LỤC
THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG
LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM............................................45
Là một quốc gia trong cộng đồng quốc tế lại đang trong quá trình
chuyển đổi kinh tế, Việt Nam đang phải đấu tranh quyết liệt với tình trạng
ngày càng khó kiểm soát của tham nhũng. Tình hình tham nhũng ở Việt Nam
hiện nay là nghiêm trọng, với những biểu hiện vừa tinh vi lại phức tạp. Hàng
loạt vụ án về tham nhũng được phát hiện, điều tra và xử lý như: Vụ án tham
nhũng tại Đơn vị quản lý dự án về Giao thông vận tải (PMU 18) đầu năm
2006, vụ hối lộ quan chức Việt Nam của Công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình
Dương - Nhật Bản năm 2008, Vụ liên quan đến Tổng công ty Công nghiệp
Tàu thủy (Vinashin) gần cuối năm 2010, Vụ liên quan đến Tổng Công ty
Hàng hải Việt Nam (Vinalines) năm 2012 ...
Nếu như trước đây, tham nhũng chủ yếu xảy ra trong các lĩnh vực kinh
tế, thì ngày nay vấn nạn này đã lan sang các lĩnh vực vốn được coi trọng về
đạo lý như lĩnh vực y tế, thực hiện chính sách an sinh xã hội và đặc biệt là
giáo dục. Sự tồn tại của tham nhũng trong ngành giáo dục và đào tạo - vốn là
một lĩnh vực quốc sách của Việt Nam đã và đang trở thành mối quan ngại rất
2
đáng chú ý. Theo một khảo sát tiến hành năm 2012 cho thấy, người dân Việt
Nam nhận thức trong 13 ngành và tổ chức được đưa ra để khảo sát mức độ
tham nhũng thì ngành giáo dục xếp vị trí thứ 6. Hành vi tham nhũng tồn tại ở
tất cả các cấp bậc trong hệ thống giáo dục. Tham nhũng từ các chi phí không
chính thức; từ “các khoản hoa hồng” được trích từ những hợp đồng xuất bản
sách giáo khoa, xây dựng trường, lớp hay việc cung cấp trang thiết bị giảng
dạy; hiện tượng dạy thêm, học thêm tràn lan cũng như việc phụ huynh và học
sinh hối lộ để nhận được điểm tốt, được tuyển sinh vào các trường, lớp theo
nguyện vọng; mua bán bằng cấp, chứng chỉ giả trên thị trường … đã được ghi
nhận trong nhiều nghiên cứu quốc gia và quốc tế.
Nhận thức được tính chất nguy hiểm của tham nhũng trong xã hội nói
lực không chỉ được hoạch định chuẩn xác, đúng đắn mà việc thực thi chính
sách và đánh giá chính sách công đó phải được thực hiện đầy đủ và có trách
nhiệm. Vậy quá trình thực thi chính sách phòng, chống tham nhũng trong lĩnh
vực giáo dục, đào tạo (một chính sách công quan trọng và nhạy cảm) ở Việt
Nam đã thực sự thành công hay còn nhiều hạn chế, liệu những hạn chế đó có
phải là nguyên nhân của tình trạng phát triển chưa có điểm dừng của tham
nhũng ở Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo ngay cả khi đã có chính
sách hợp lý. Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng việc thực thi chính
sách phòng chống tham nhũng của Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo vì thế trở thành một đề tài cần có sự quan tâm sâu sắc của các nhà nghiên
cứu chính sách công; quản lý giáo dục và luật học.
Ngoài ra việc nghiên cứu quá trình thực thi chính sách chính sách
phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo ở Việt Nam cũng
là yêu cầu cần thiết liên quan đến chuyên ngành học Chính sách công. Đây là
công trình phân tích chính sách công thực tiễn đầu tiên của sinh viên chuyên
ngành chính sách công tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Thông qua quá
trình phân tích việc thực thi chính sách phòng, chống tham nhũng trong lĩnh
4
vực giáo dục và đào tạo của Việt Nam, nhóm tác giả với tư cách là sinh viên
khóa thứ 2 chuyên ngành Chính sách công trực thuộc Khoa Chính trị học có
cơ hội đươc phân tích tổng hợp các kiến thức thực tiễn, thực hành các kiến
thức lý luận từ các môn học chuyên ngành Chính sách công như Phân tích
chính sách công, Thực thi chính sách công, Tham nhũng chính sách... Đồng
thời, nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần phục vụ tích cực cho việc học tập và
hệ thống lại một cách khoa học các kiến thức liên quan đến quá trình đánh giá
giai đoạn thực thi trong chu trình chính sách công.
Xuất phát từ yêu cầu thiết thực đó, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài:
các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật) xuất bản năm 2011 nhằm cung cấp, nâng cao nhận thức, trách nhiệm
và xây dựng thái độ ý thức tự giác cho cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên
- lực lượng tự giác, tích cực nhất trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng từ
những kiến thức cơ bản về tham nhũng, quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ
Chí Minh về phòng, chống tham nhũng, các nhóm giải pháp đưa ra thực hiện
ngăn chặn vấn nạn này.
TS. Đinh Văn Minh chủ biên cuốn Tài liệu tham khảo về phòng, chống
tham nhũng, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2013
đưa ra những kiến thức, nâng cao hiểu biết và ý thức của toàn xã hội về tác
hại, nguyên nhân của tham nhũng cùng những nỗ lực đối phó với tệ tham
nhũng của Đảng và Nhà nước Việt Nam đồng thời đưa ra kinh nghiệm có
được của một số quốc gia và vùng lãnh thổ về phòng, chống tham nhũng.
Cuốn Sổ tay công tác phòng, chống tham nhũng do Viện Khoa học
Thanh tra thuộc chính phủ biên soạn (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự
thật) năm 2013 cung cấp những kiến thức cơ bản để nhận biết và đấu tranh
với các hành vi tham nhũng; đồng thời, nêu rõ vai trò, tránh nhiệm của các cơ
quan và toàn xã hội cùng giải pháp cho công tác phòng, chống tham nhũng.
6
Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có các công trình nghiên
cứu khác như của Tổ chức Hướng tới Minh bạch đã phối hợp cùng một nhóm
các nhà nghiên cứu độc lập thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung
ương (CIEM) để nghiên cứu tổng thể về các hình thức, nguyên nhân và tác
động của tham nhũng trong giáo dục trong Báo cáo Tham nhũng toàn cầu
năm 2012: Giáo dục (công bố ngày 1/10/2013). Trong nội dung bản báo cáo
liên quan đến thực trạng tại Việt Nam đã được xây dựng dựa trên những cuộc
phỏng vấn sâu các đối tượng là giáo viên, phụ huynh học sinh và các nhà
quản lý giáo dục tại Hà Nội và các vùng ngoại ô cũng như các kết quả nghiên
Nhiệm vụ
- Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực thi chính sách phòng,
chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam.
- Phân tích thực trạng (thành tựu và hạn chế) quá trình thực thi chính sách
phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong thời gian qua.
- Đề xuất những giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện chính sách
phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo của Việt Nam
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động thi hành chính sách công về phòng, chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chủ yếu xung quanh trong
phạm vi theo căn cứ quy định việc thực thi chính sách phòng, chống tham
nhũng ở Việt Nam và thực hiện cụ thể trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Tập
trung trọng tâm ở một số nội dung cơ bản và quan trọng trong thực thi chính
sách phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo hiện nay.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu bắt đầu khi Luật phòng,
chống tham nhũng được sửa đổi, bổ sung và chính thức được Quốc hội thông
8
qua, triển khai thực hiện (tại Đại hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 ngày 29 tháng 11
Chính sách công là một khái niệm quan trọng gắn với hoạt động chính
trị của nhà nước, được sử dụng cực kỳ rộng rãi trong cuộc sống chính trị xã
hội hiện đại. Theo tiến trình lịch sử những quan điểm về chính sách công
được các nhà khoa học, các chuyên gia đưa ra trên những cách tiếp cận hay
luận giải khác nhau về nó.
Thuật ngữ “chính sách” có bắt nguồn trong tiếng Hy Lạp cổ là Politeria
với nghĩa là “cơ quan nhà nước”, sau đó du nhập vào tiếng Pháp cổ với nghĩa
là quản lý hành chính quốc gia, đến thế kỷ XIV mới xuất hiện trong tiếng
Anh. Thuật ngữ “chính sách” dần được để chỉ phương thức hành động của
một chủ thể hay tổ chức nhất định khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giải
quyết những vấn đề chính sách nảy sinh thuộc phạm vi, thẩm quyền điều hành
của mình. Còn đề cập đến trong tiếng Việt, “chính sách” là từ Hán Việt, trong
đó “chính” nghĩa là trị vì quốc gia, còn “sách” là phương pháp. Như vậy, khái
niệm “chính sách” bản thân nó khi ra đời đã là phạm trù của nhà nước hay
quốc gia [19].
Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là
“một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền,
đảng, nhà cai trị, chính khách…”.Cùng vấn đề này, một số học giả phương
Tây đưa ra quan điểm của mình như Harold D. Lasswell và A. Kplan cho
rằng: chính sách là những kế hoạch lớn chưa đựng mục tiêu, giá trị và chiến
10
lược”. Với Thomas R. Dye định nghĩa: “Chính sách công là tất cả những gì
Chính phủ quyết định thực hiện hoặc không thực hiện”. David Easton cho
rằng “chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà
trong đó phân phối thực hiện các giá trị” [19].
Nghiên cứu về vấn đề này các nhà học giả Việt Nam cũng đưa ra các
quan điểm khác nhau xuất phát từ góc độ tiếp cận khác nhau. PGS,TS Nguyễn
(vấn đề chính sách) tới việc định hình, hoàn chỉnh, thi hành, kiểm nghiệm,
sửa đổi hoặc huỷ bỏ nó…[20]
Có nhiều cách chia các giai đoạn trong quy trình chính sách công, Harold
Laswell năm 1956 đã đưa ra 7 giai đoạn của quy trình chính sách gồm:
1. Intelligent (Nhận biết, thu thập, xử lý thông tin).
2. Promotion (Vận động ủng hộ cho một phương án).
3. Prescription - course of action (Cụ thể hoá phương án được chọn
thành các quy định hành động).
4. Invocation (Quy định rõ thưởng phạt, chế tài của chính sách).
5. Application (Chính sách được thực thi trong thực tế).
6. Termination (Chính sách hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ).
7. Appraisal (Đánh giá hiệu lực, hiệu quả của chính sách).
Bên cạnh đó nhà khoa học Gary Brewer năm 1974 lại đưa ra 6 giai đoạn:
1. Invention/ Initiation (Phát hiện sáng kiến chính sách).
2. Estimation (Dự đoán rủi ro, chi phí, lợi ích của các phương án
giải quyết vấn đề chính sách).
3. Selection (Chọn một trong các phương án, trở thành chính sách
công).
4. Implementation (Thực hiện chính sách).
5. Evaluation (Đánh giá chính sách).
6. Termination plethora (Chính sách hết hiệu lực).
Mặc dù các quan điểm về quy trình chính sách có sự khác nhau về chi
tiết, song trên phương diện tổng thể có thể nhận thấy ba giai đoạn chủ yếu
trong quy trình chính sách là [20]:
12
Thứ nhất, giai đoạn hoạch định chính sách là giai đoạn đầu tiên có vị trí
quyết định đối với toàn bộ quy trình chính sách. Giai đoạn hoạch định chính
quyết vấn đề chính sách. Từ chính mục đích của chính sách là tạo ra các thay
đổi trên thực tiễn do đó thực hiện hay thực thi tốt là yêu cầu tất yếu cho thành
công của chính sách.
Theo đó, khái niệm thực thi chính sách công trong đề tài được hiểu là:
giai đoạn bao gồm các hoạt động biến các ý đồ chính sách, quyết định chính
sách được thông qua thành những kết quả thực tế thông qua hành động có tổ
chức của cơ quan nhà nước có trách nhiệm hướng tới các mục tiêu cụ thể đã
đề ra [20]. Nghiên cứu về thực thi chính sách công chính là hoạt động nghiên
cứu về các giai đoạn, các mối quan hệ, sự tác động chi phối cũng như kết quả,
hiệu quả trong tổ chức thực hiện, phối hợp, duy trì, bổ sung, điều chỉnh, cũng
như kiểm tra đánh giá quá trình thực thi chính sách trên thực tiễn. Đây cũng
chính là hoạt động chính mà đề tài nghiên cứu tập trung tiến hành.
1.1.1.3. Quan niệm về tham nhũng
Tham nhũng được hiểu một cách thông thường là những hành vi lợi
dụng những điều kiện có lợi sẵn có mà vụ lợi, trục lợi cho mục đích cá nhân.
Do vậy, ngay từ trong xã hội cộng sản nguyên thủy khi bắt đầu xuất hiện hiện
tượng dư thừa của cải từ sản xuất lao động giản đơn khiến xuất hiện hành vi
tư hữu - chiếm của cải sản xuất chung thành của cải riêng bản thân đã bắt đầu
hình thành lòng tham và hành động tham nhũng, đặc biệt khi xã hội có sự
phân chia giai cấp và tổ chức thành nhà nước. Ngày nay, tham nhũng trở
thành một hiện tượng phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Quan niệm về tham nhũng được đưa ra với nhiều quan điểm khác nhau
trên thế giới tùy thuộc vào góc độ tiếp cận cũng như nghiên cứu. Ở phương
Tây, thuật ngữ tham nhũng bắt nguồn từ tiếng La tinh Rumpese với nghĩa là
bẻ gãy, vi phạm hoặc sai lệch [22]. Trong tiếng Anh, tham nhũng được gọi là
Corruption với nghĩa đồi bại, trụy lạc, thối nát, ăn hối lộ... nhằm chỉ các quan
14
vào thực tiễn, mà chính bản thân hoạt động này là hoạt động phức tạp cần
thiết có các điều kiện quy định khả năng thực hiện như sau [20]:
- Thứ nhất, về tính rõ ràng và nhất quán của mục tiêu chính sách :
Bởi thực thi chính sách là giai đoạn tiếp nối và chịu sự quy định của giai
đoạn hoạch định chính sách do đó tính đúng đắn và sự phù hợp với thực tế
khách quan trong quá trình hoạch định là điều kiện giúp cho thực thi
chính sách được tiến hành nhanh chóng và ít có sự điều chỉnh. Chính mục
tiêu chính sách được giai đoạn hoạch định xây dựng là yếu tố để các chủ
thể và đối tượng thực hiện xây dựng kế hoạch, phương hướng hoạt động
cho phù hợp. Mục tiêu chính sách cần đáp ứng yêu cầu về tính rõ ràng, cụ
thể, cần phải đo lường được hoặc có thể lượng hóa trên thực tế đáp ứng
tính khả thi trong thực hiện và đặc biệt không được mâu thuẫn với những
mục tiêu của các chính sách khác.
- Thứ hai, phải có đủ các nguồn lực cần thiết: Đây là những yếu tố
tham gia vào quá trình thực hiện chính sách có vai trò đảm bảo cho việc
tạo nên những biến đổi cần thiết của chính sách. Các nguồn lực rất phong
phú và đa dạng về hình thức biểu hiện, bao gồm những tiền đề vật chất và
tinh thần đảm bảo thực hiện chính sách. Có thể thấy các nguồn lực cơ bản
cần thiết cho thực hiện chính sách là: về tổ chức, về nhân lực, về kinh phí
và về vật lực, thông tin.
Về tổ chức đó là những cơ cấu lập ra nhằm thực hiện một số nhiệm vụ
hay chức vụ được hợp thức hóa. Đó có thể là một cơ quan, một bộ, ban,
ngành hay các doanh nghiệp, công ty... thực hiện từ chính vai trò là công cụ
của quản lý, tổ chức giúp cho chính sách được vận hành và thực hiện trên
thực tế.
Về nhân lực là nhân tố con người bao gồm những cá nhân lãnh đạo,
quản lý và các cá nhân chịu trách nhiệm tham gia vận hành, tổ chức thực
17
1.1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách công
Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách trên thực tế luôn chịu tác
động và ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan. Các nhân tố này có thể tạo
ra những biến đổi thúc đẩy hoặc cản trở kết quả thực hiện chính sách. Do đó
để tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt
động tổ chức thực thi chính sách một cách thuận lợi, cần thiết phải phân loại
các yếu tố tác động một cách thích hợp. Tùy theo mục đích, yêu cầu của
người tổ chức thực thi chính sách mà tiến hành phân loại các yếu tố ảnh
hưởng theo những cách khác nhau.
Nhìn chung, hiện nay các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi
chính sách công cơ bản có thể được phân chia theo nguyên nhân tác động
thành các nhóm sau đây [21]:
a. Nhân tố khách quan: Là những nhân tố xuất hiện và tác động đến
tổ chức thực thi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản
lý. Những nhân tố khách quan chủ yếu bao gồm:
- Tính chất của vấn đề chính sách công: Là yếu tố gắn liền với mỗi
vấn để chính sách, nó tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng
chính sách và tổ chức thực thi chính sách. Tính chất của vấn đề chính sách là
sự quy định về đặc tính, đặc điểm riêng của vấn đề chính sách hay chính là sự
quy định về yêu cầu giải quyết vấn đề chính sách. Đây là yếu tố khách quan
có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chính sách cũng như tổ chức thực
thi chính sách trên thực tế nhằm đáp ứng tính chất quy định của vấn đề chính
sách cần giải quyết.
- Môi trường thực thi chính sách công: Là không gian chứa đựng toàn
bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như
các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội; các điều kiện vật chất kỹ
thuật trong nền kinh tế; bầu không khí chính trị; xã hội trật tự; quan hệ quốc
19
sách theo hướng có lợi hoặc bất lợi, theo chiều tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt
động thực hiện chính sách.
- Đặc tính của đối tượng chính sách: Là những tính chất đặc trưng mà
các đối tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên
qua quá trình vận động mang tính lịch sử. Những đặc tính này thường có liên
quan đến tính tự giác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền
thống… Đặc tính gắn liền với mỗi đối tượng thực thi chính sách, nên các chủ
thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi gợi hay kiềm chế nó để có được kết
quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực thi chính sách.
b. Nhân tố chủ quan: Là những nhân tố xuất hiện và tác động đến tổ
chức thực thi chính sách từ bản thân bên trong, tuân theo ý muốn của chủ thể.
Trong tổ chức thực thi chính sách thì những nhân tố chủ quan chủ yếu bao gồm:
- Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi
chính sách công: Quy trình thực thi chính sách được coi là những nguyên lý
khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống. Việc tuân thủ quy trình cũng là
một nguyên tắc hành động của các nhà quản lý. Mỗi bước trong quy trình đều
có ví trí, ý nghĩa to lớn đối với các quy trình thực thi chính sách. Việc tuân thủ
đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi giúp cho sự vận hành
chính sách trên thực tế sẽ nhanh chóng và dễ dàng cũng như đảm bảo tính
khoa học của hoạt động chính sách.
- Năng lực thực thi chính sách của cán bộ - công chức trong bộ máy
quản lý nhà nước: Là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ
chức thực thi chính sách công. Năng lực thực thi của cán bộ - công chức là
thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, về năng lực
thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ
động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong tương lai. Các cán
chính sách trong quy trình chính sách thành một hệ thống. Trong quá trình
chính sách như đã đề cập ở trên thì giai đoạn thực thi chính sách có vị trí đặc
21
biệt quan trọng đồng thời là giai đoạn hiện thực hóa chính sách vào đời sống.
Do đó thực thi chính sách có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công hay
thất bại của một chính sách. Vậy nên khi tiến hành tổ chức thực hiện chính
sách các chủ thể thực thi cũng cần nắm vững và tuân thủ theo quy trình vận
hành riêng của nó để đảm bảo tính khoa học, thích ứng điều kiện thực tiễn.
Đối với chính sách phòng, chống tham nhũng là một loại chính sách cụ
thể của chính sách công ngoài việc chịu tác động của các điều kiện và nhân tố
ảnh hưởng thì nó cũng cần đảm bảo thực hiện công tác tổ chức thực thi chính
sách công chung. Theo đó quy trình trong tổ chức thực hiện chính sách bao
gồm các bước như sau:
1.1.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công
Tổ chức thực thi chính sách công là quá trình phức tạp, diễn ra trong
một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, lên chương trình để
các cơ quan nhà nước khi tham gia thực hiện có thể triển khai thực hiện một
cách chủ động [21]. Chính vì vậy trước khi thực hiện thông qua bộ máy tổ
chức, nhân sự, chính sách trên văn bản sẽ được chủ thể tổ chức thực hiện xây
dựng một cơ cấu định trước về vai trò, sự phối hợp giữa các bộ phận đảm
nhiệm những chức trách nhất định nhằm thực hiện mục tiêu chung. Việc xác
định, xây dựng kế hoạch này đảm bảo cho mục tiêu chính sách sẽ được thực
hiện hóa thông qua những cơ chế, biện pháp đã được lên kế hoạch trước. Đảm
bảo tính thực tế của bộ máy tổ chức cũng như môi trường mà chính sách tồn
tại khi thi hành.
Kế hoạch triển khai thực thi chính sách công bao gồm kế hoạch về tổ
chức, điều hành, phân công phối hợp giữa các bộ phận thực hiện; kế hoạch dự
thi chính sách gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì
các cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo
lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách. Đồng thời chủ động
điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Trong một chừng mực