Những chuyển biến trong tiểu thuyết ma văn kháng thời kì đổi mới - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

-----------------------

NGUYỄN THỊ THANH MAI

NHỮNG CHUYỂN BIẾNTRONG
TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
THỜI KÌ ĐỔI MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2008


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
-------------------------

NGUYỄN THỊ THANH MAI

NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG
TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
THỜI KÌ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC


chục cuốn tiểu thuyết có giá trị đáng được nghiên cứu một cách nghiêm túc.
Đặc biệt những năm 80, khi đất nước chuyển từ bao cấp sang cơ chế thị
trường, một số tiểu thuyết của ông như Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn,
Đám cưới không có giấy giá thú... thu hút sự chú ý của độc giả và các nhà nghiên
cứu, phê bình. Đã có rất nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét, tranh luận gay gắt cần
được tiếp tục phân tích, lý giải xác đáng.
Hai giai đoạn sáng tác của Ma Văn Kháng có dấu mốc rõ nét mà khi nghiên
cứu một mặt ta sẽ hiểu đúng hơn những đóng góp của ông, mặt khác ta sẽ thấy
được sự chuyển biến của các nhà văn khác trong sự vận động của văn học.
Một số tác phẩm của ông được chuyển thể thành phim, được đưa vào
chương trình giảng dạy ở phổ thông như Mùa lá rụng trong vườn, Người giúp
việc, Xa phủ ... Do đó, luận văn sẽ góp phần tìm hiểu, khẳng định vị trí của nhà
văn trong văn học hiện đại Việt Nam.
Mục đích của luận văn là tìm hiểu, phân tích một cách có hệ thống hai
chặng đường sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong sự vận động phát triển
của tiểu thuyết Việt Nam để thấy được những đóng góp của nhà văn đối với tiểu
thuyết Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới.

2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là tiểu thuyết của Ma Văn Kháng. Nhưng
trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào những tác
phẩm sau đây:

Đồng bạc trắng hoa xòe
Vùng biên ải
Gặp gỡ ở La Pan Tẩn


Mưa mùa hạ
Mùa lá rụng trong vườn


Với những tác phẩm viết về cuộc sống con người miền núi, nhà văn được
nhận định là người có công khai phá đề tài miền núi, đã thành công trong việc
phản ánh hiện thực, làm bật lên hình ảnh cao đẹp, sự hi sinh hết mình của các cán
bộ miền xuôi trong công cuộc giải phóng vùng biên ải, những con người miền núi
thuần hậu mang trong mình nỗi cay đắng tủi nhục, chịu áp bức, bóc lột, phong tục
lạc hậu, sự hèn kém mê muội... và trên hết là một dân tộc bị áp bức luôn khao khát
tự do. Những bài viết giới thiệu, đánh giá, nhận xét của các nhà nghiên cứu, phê
bình về những tác phẩm này khá nhiều, được đăng rải rác trên các báo, tạp chí như
Hoàng Tiến, Trần Đăng Suyền, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Ngọc Thiện...
Bút pháp miêu tả đặc sắc, hấp dẫn là lời nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu
đối với các tiểu thuyết về miền núi. Nhà văn Hoàng Tiến đã nhận xét rằng
(ĐBTHX) mang một bút pháp đặc sắc, hấp dẫn lôi cuốn người đọc:
Bút pháp trong Đồng bạc trắng hoa xòe thường dùng theo lối vẽ long
trong mây. Con rồng đẹp cứ giấu mình trong mây chỉ lộ ra những khúc lượn vàng
son có hạn, nhưng cho người xem vẫn nhận được đủ cái vóc dáng mạnh mẽ, thanh
thoát của toàn bộ con rồng, lối “uống rượu sớm mai”. Độ rượu đủ để ngây ngất,
quá nửa là say, dưới một chút coi là chưa uống. Biết dừng lại để gây ngây ngất
mới là người biết uống rượu[102].
Điều đó có nghĩa là tác phẩm hay, xuất sắc ở những nốt nhấn, và những nốt
nhấn ấy được đặt đúng chỗ, đúng thời điểm nên trong tổng thể nó đã tạo nên vẻ
đẹp toàn diện cho một tác phẩm tương đối đồ sộ. Tác phẩm có ý nghĩa lớn khi nhà
văn đã tái hiện được một giai đoạn lịch sử mà: “Lần đầu tiên được đưa vào trong
tiểu thuyết”[102], đã đốt lên những đốm lửa cách mạng trên vùng núi non trùng
điệp.
Tiểu thuyết (VBA) nối tiếp cuốn (ĐBTHX) được Trần Đăng Suyền đánh
giá là đã thành công trong việc khắc họa tính cách người Hmông và “Ngòi bút
giàu chất thơ của Ma Văn Kháng khi chấm phá những cảnh vật đã vẩy hồn mình
vào đấy khiến cho cảnh vật hiện lên lung linh màu sắc, lộng lẫy rực rỡ, khi vui khi
buồn đều như nhuốm thêm màu sắc tâm trạng của con người ”[77]. Bên cạnh đó



dư luận. Nhiều ý kiến đánh giá khác nhau càng khẳng định chỗ đứng của nhà văn
trong việc khám phá bản chất cuộc sống con người trong giai đoạn mới.

 Sau “Mùa lá rụng trong vườn”: tiểu thuyết về đề tài thành
thị:
Trước những năm 80, văn học Việt Nam bao trùm khuynh hướng sử thi,
cảm hứng lãng mạn ngợi ca. Nhưng từ sau những năm 80, trước nhu cầu “Đổi mới
tư duy tiểu thuyết” mỗi nhà văn phải tự chuyển mình. Một cuộc bứt phá lớn tạo đà
cho hàng loạt các nhà văn tâm huyết khẳng định mình. Ma Văn Kháng là một nhà
văn dồi dào năng lực sáng tạo, một trong những tác giả đã cố gắng đổi mới tư duy,
tìm một hướng đi mới trong sáng tạo nghệ thuật giai đoạn này.
Với bề dày kinh nghiệm, sự từng trải chiêm nghiệm cuộc đời một cách sâu
sắc và hòa trong không khí đổi mới của văn học nhà văn đã cho ra đời những tác
phẩm có giá trị cao, tác động mạnh vào con người, xã hội giai đoạn đầy biến động.
Tuy có những sự trùng lặp ở nhiều tác phẩm, những lời triết lý, chiêm nghiệm gây
cảm giác nặng nề cho người đọc, những cái kết còn bỏ lửng... nhưng những thành
công đã lấn át tất cả những hạn chế ấy.
Khi thâm nhập vào đề tài về cuộc sống con người thành thị, các nhà nghiên
cứu đã nhận thấy một sự chuyển biến đáng nể phục ở con người này. Bên cạnh
những ý kiến đánh, giá nhận xét sự thành công của tác phẩm thì nhiều nhà nghiên
cứu phê bình còn khẳng định Ma Văn Kháng đã có những cách tân lớn góp phần
cho sự phát triển của văn học, thể hiện rõ thái độ và trách nhiệm lương tâm của
một người cầm bút trước những cái xấu trong cuộc sống. Tiêu biểu có Trần Bảo
Hưng, Hồ Anh Thái, Bích Thu, Nguyễn Thị Huệ, Vân Thanh...
Tiểu thuyết đầu tiên trong giai đoạn này là (MMH). Tác phẩm được Vân
Thanh đánh giá cao vì “Đã thể hiện cách nhìn, thái độ của các nhân vật trước
những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Lương tâm, lẽ sống của mỗi người đều bị
thử thách... trước lưới bủa vây của tệ nạn tiêu cực, trong vòng bức bách của vấn

mẻ, nhưng muốn thoát ly truyền thống, phá vỡ tất cả cũng sẽ dẫn tới bi kịch” [30].
Ở tác phẩm này, với cách nhìn mới về con người nhà văn đã thể hiện thành
công kiểu nhân vật có đời sống nội tâm phong phú, tính cách đa chiều, hấp dẫn


như Lý: “Hình tượng nhân vật khá độc đáo, hấp dẫn. Lý là nhân vật độc đáo hấp
dẫn nhất. Con người này hễ có mặt ở dâu là có khả năng làm cho nơi ấy có không
khí, sinh động hẳn lên”[30]. Những con người ấy chỉ vì dục vọng lại gặp những
nhân tố kích thích nên mới dần bị tha hóa. Vì thế bao trùm toàn tác phẩm là cái
nhìn nhân hậu vị tha của nhà văn.
Sức hấp dẫn của tiểu thuyết này còn ở chỗ: bên cạnh việc làm nổi bật
những nhân vật tha hóa về nhân phẩm thì nhà văn đã đưa ra được “Những hình
ảnh rất đẹp của truyền thống văn hóa và đạo đức dân tộc. Chị Hoài, cô Phượng,
Vân, bà lang Chí... là những tấm lòng trong sáng ngọt ngào, ấm áp, chan chứa
nghĩa tình”[30]. Đồng ý với nhận định này, Trần Cương cho rằng các nhân vật
như chị Hoài, Phượng, Vân... tuy nhà văn dành ít số trang nhưng: “Là những
trang viết cảm động. Nâng niu trân trọng và đồng cảm sâu xa từ trong mỗi việc
làm, mỗi ý nghĩ, mỗi hành vi nho nhỏ ở những nhân vật này, ngòi bút của tác giả
đã tỏ ra tinh tế, làm gia tăng chất nhân văn vốn đã là nền tảng của tác phẩm
này”[11].
Khi tiểu thuyết (ĐCKCGGT) ra đời -1989 một lần nữa tác phẩm của ông lại
được đưa ra để xem xét. Có nhiều sự khen chê, đánh giá khác nhau. Báo văn nghệ
đã phải tổ chức một hội thảo riêng về tác phẩm này.
Phải khẳng định rằng Ma văn Kháng đã dũng cảm khi đặt bút lật xới mặt
trái của xã hội trong một môi trường vẫn được xem là trong sạch nhất. Phải chăng
xuất phát từ sự bức xúc của một nhà giáo từng đứng trên bục giảng nay thấy quá
nhiều những cái xấu, sự bất công nên nhà văn đã mạnh dạn lên tiếng phê phán gay
gắt vào nơi vốn được coi là chốn thiêng liêng cao cả, vào hình ảnh của những
người thầy vốn được coi trọng đề cao. Nhưng thực chất cuốn sách không chỉ bó
hẹp ở phạm vi một ngôi trường, ở những người thầy mà nó còn mang ý nghĩa sâu

hội.
Có lẽ Ma Văn Kháng hợp với loại truyện phanh phui, mổ xẻ, bức xúc trước
thực trạng xuống cấp của xã hội. Sau gần mười năm, năm 1998 nhà văn lại cho ra
đời một tiểu thuyết nổi đình đám: (NDNL). Cuốn tiểu thuyết này đã có sự cách tân
vượt bậc về nghệ thuật thể hiện.


Bích Thu phát hiện ra sự cách tân trong tác phẩm thể hiện ở cốt truyện lỏng
lẻo, mơ hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại và do đó “Tiểu thuyết vừa là tiếng nói
của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ...”[100]. Có thể xem đây
là sáng tạo của nghệ thuật lắp ghép, truyện lồng trong truyện tạo ra sức lôi cuốn
cho bạn đọc. Bên cạnh đó, tác phẩm có sự thâm nhập của các thể loại khác vào
trong tiểu thuyết như thơ, huyền thoại, cổ tích, điển tích... Nó là nhân tố làm giãn
cốt truyện, tạo ra tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết. Hình thức này xuất hiện
trong nhiều tiểu thuyết khác của Ma Văn Kháng.
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Thiện, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng giai
đoạn này: “Đã đạt đến trình độ điêu luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và
độc thoại, giọng điệu linh hoạt, khi gấp gáp, sôi nổi, cuồn cuộn, tung phá, lúc lại
thong thả, mềm mại, đằm thắm, hiền hòa, đã trở thành một thực thể sống động có
sức sống mạnh mẽ”[95]. Ma Văn Kháng đã thành công trong việc khám phá chiều
sâu tâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ, coi nó như một thứ ngôn ngữ độc thoại
đặc biệt để giải mã thế giới vô thức của con người, xây dựng lên những bi kịch cá
nhân, đưa con người trở về với cuộc sống đời thường, với những khát vọng hạnh
phúc.
Khắc phục những phiến diện trong quan niệm về con người trong văn học
giai đoạn trước, Nguyễn Thị Huệ cũng đã nhận ra nhiều kiểu loại nhân vật trong
sáng tác của Ma Văn Kháng: “Phong phú, đa dạng hơn, phức tạp hơn không chỉ
có công nông binh mà còn có tầng lớp thị dân, đặc biệt là nhân vật trí thức đã như
một ám ảnh khôn nguôi, một trăn trở day dứt, một ma lực có sức hút lớn đối với
ngòi bút của Ma Văn Kháng”[28]. Không chỉ đánh giá cao những con người phức

Trong chương này, luận văn đi vào khái quát sơ lược hai chặng đường vận
động của tiểu thuyết Việt Nam (1945- 1985) và (từ sau 1985 tới nay), sơ lược hai
chặng đường tiểu thuyết của Ma Văn Kháng cùng dấu mốc chuyển biến để có cái
nhìn khái quát về tiểu thuyết nói chung, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nói riêng.
Lý giải nguyên nhân dẫn tới sự chuyển biến trong tiểu thuyết của ông và
khẳng định vai trò, đóng góp của nhà văn trong văn học Việt Nam.

Chương 2: Sự chuyển biến về nội dung cảm hứng trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới.


Chương hai tìm hiểu những chuyển biến trong việc khám phá hiện thực,
quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng ở hai
chặng đường sáng tác.

Chương 3: Sự chuyển biến về hình thức nghệ thuật trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới.
Chương ba sẽ đi sâu vào những chuyển biến, cách tân trong kĩ thuật thể loại
tiểu thuyết của Ma Văn Kháng.


Chương 1
HAI CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG TRONG SỰ VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN
CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 TỚI NAY
1.1. Hai chặng đường của tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 tới 1985:
1.1.1. Chặng đường 1945 - 1985:
Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công đã giải phóng dân tộc ta khỏi
ách nô lệ. Nhưng khi vừa giành được chủ quyền thì cũng là lúc toàn dân tộc lại

phẩm vừa mang tính thời sự nóng hổi, vừa có diễn biến tâm lý, hành động của các
nhân vật.
Một loạt những tác phẩm được đánh giá cao về nội dung cũng như nghệ
thuật ra đời đáp ứng được yêu cầu: Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Sống mãi
với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Trước giờ súng nổ (Lê Khâm), Người mẹ cầm
súng (Nguyễn Thi), Hòn đất (Anh Đức), Vùng mỏ (Võ Huy Tâm), Cao điểm cuối
cùng (Hữu Mai)...
Nhận xét về sự đa dạng về phong cách thể hiện của tiểu thuyết giai đoạn
này, Giáo Sư Phan Cự Đệ viết:
Nguyễn Đình Thi chúng ta có được vẻ đẹp nhẹ nhõm, thanh thoát, trong
sáng, ở Nguyên Hồng là cái xù xì gân guốc, phong phú đến mức rập rạp. Trong
nhà văn Tô Hoài có cái hóm hỉnh, thông minh, tinh tế và thơ mộng. Văn của
Nguyễn Khải có cái tỉnh táo, sắc sảo đầy tính chất phát hiện. Nguyễn Huy Tưởng
có cái đôn hậu, ấm áp điểm vẻ huy hoàng, tráng lệ, cái dân gian mà hiện đại của
Nguyễn Thi, hiện đại mà cổ kính của Nguyễn Tuân, hùng tráng thi vị của Nguyễn
Trung thành, trữ tình thiết tha đến độ say đắm của Anh Đức, cái trí tuệ hài hòa
cân đối đến mức cổ điển của Phan Tứ[15, tr.40].
Tất cả đã tạo nên bức tranh phong phú, đa dạng cho văn học giai đoạn này.
Văn học 30 năm chiến tranh có thể coi là một biên niên sử mà ở đó ta
không chỉ quan sát được số phận dân tộc mà còn thấu hiểu số phận của mỗi cá


nhân. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đánh giá rằng “Văn học cách mạng 1945 1975 là một giai đoạn lịch sự không lặp lại của văn học dân tộc. Nó là một hiện
tượng nghệ thuật sáng ngời, là chiếc cầu nối liền văn minh dân tộc từ quá khứ,
hướng tới tương lai”[81].
Sau 1975, chiến tranh kết thúc thắng lợi văn học bước sang thời kì hậu
chiến. Tuy văn học vẫn “trượt theo quán tính của giai đoạn trước”[65] nhưng đã
diễn ra sự vận động ở chiều sâu với những suy tư, trăn trở, tìm tòi âm thầm mà
quyết liệt ở những nhà văn có trách nhiệm với ngòi bút của mình. Nhiều tác giả
tiếp tục hướng vào đề tài chiến tranh cách mạng nhưng với những lý giải mới về

sự kiện: Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện
mọi mặt của đất nước, tạo đà cho văn học nghệ thuật đổi mới, phát triển toàn diện
trên nền những gì đã đạt được; nghị quyết 05 của bộ chính trị đã chỉ rõ: “Văn học
nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa”[8],
cuộc gặp gỡ giữa tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với anh em văn nghệ sĩ... thực sự
đã thổi một luồng gió mới cho văn học, tác động tới cách nghĩ, cách nhìn của giới
văn nghệ sĩ.
Quan điểm của Đảng ta về văn học: “Văn học là cuộc sống, là sự đấu tranh
của các nhà văn cho một cuộc sống tươi đẹp, đấu tranh bằng tác phẩm văn
học”[8] do đó các nhà văn cần “Phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ
thuật phát triển lên một bước”[8]. Văn xuôi trước sự nghiệp xây dựng xã hội chủ
nghĩa mở ra trên nhiều lĩnh vực, đang tìm cách tiếp cận với mọi vấn đề của cuộc
sống. Trên tinh thần “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, nhận thức lại hiện
thực”, “Tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật. Bởi vì sự thật luôn
luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính” [72], Đảng đã tạo điều kiện cho các
nhà văn tự “cởi trói” cho chính mình, thoát khỏi một giai đoạn văn học ngập tràn
cảm hứng ngợi ca.
Thời buổi kinh tế thị trường, văn chương càng mang nặng trọng trách. Văn
chương cần khai phá, đào sâu, phát hiện chính xác hơn những mẫu người mới,
những suy nghĩ cảm nhận mới, lên tiếng cảnh báo về sự xuất hiện của những cái
xấu, cái ác đang tồn tại và sự cần thiết phải bênh vực, bảo vệ phẩm giá của con
người... Làm được điều này là nhờ vào tính dân chủ trong văn học. Năm 1986 đã


đặt dấu mốc cho sự phát triển của văn học, đưa văn học tiếp tục bước những bước
đi vững chắc, mạnh mẽ hơn. Khuynh hướng “nhận thức lại hiện thực” với cảm
hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản đã lan rộng. Thời xa vắng của Lê
Lựu được coi là tác phẩm khơi dòng cho khuynh hướng này. Bên cạnh đó là Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Huớng, Tướng về
hưu của Nguyễn Huy Thiệp...

Văn xuôi có sự tìm tòi đổi mới linh hoạt, biến đổi trong nghệ thuật trần
thuật, ngôn ngữ đến giọng điệu, có sự tham gia trực tiếp của nhân vật kể chuyện,
sự thay đổi liên tục, sự phối hợp nhiều giọng điệu, nhiều điểm nhìn. Mối quan hệ
giữa tác phẩm - người đọc - nhà văn bình đẳng, đối thoại và dân chủ. Trong nhiều
sáng tác, nhà văn giữ vai trò làm chủ rồi trao quyền cho nhân vật tự đối đáp, kể, tả.
Phương thức trần thuật này giúp cho nhà văn có điều kiện xâm nhập vào thế giới
bên trong, phần sâu kín nhất của con người để làm rõ, nổi bật tâm trạng, khắc họa
nội tâm của họ như: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y
Ban), Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng)...
Mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật được thay đổi từ điểm trùng khít giữa
tác giả và nhân vật sang độc lập tức nhân vật có một điểm nhìn độc lập khác với
điểm nhìn của tác giả. Đây là mối quan hệ bình đẳng đối thoại tạo nên tính chất đa
thanh điệu của tác phẩm. Bên cạnh đó có sự xuất hiện của dòng ý thức độc thoại
nội tâm, phân thân, hóa thân, giấc mơ, huyền thoại, con người cô đơn, tự thú, sám
hối, hồi tưởng...
Mô hình kết thúc có hậu truyền thống không còn. Nhà văn thường đưa ra
những cái kết khác nhau như kết thúc không có hậu, những kiến giải, sự suy ngẫm
của người đọc... hay để cho người đọc tự phán quyết, tự đưa ra cách kết thúc cho
riêng mình.
Những năm gần đây văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng chưa có bước
đột phá như giai đoạn trước nhưng cũng đã có những thử nghiệm, sáng tạo mới về
nghệ thuật tạo được sự chú ý cho độc giả, báo hiệu bước chuyển mới cho văn học
với các cây bút như: Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Việt Hà...




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status