Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận thốt nốt thành phố cần thơ hiện nay - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------------------

Nhan Ngọc Hà

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------------------

Nhan Ngọc Hà

Chuyên ngành :
Mã số
:

Quản lý Giáo dục
60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. TRẦN TUẤN LỘ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

cung cấp những thông tin, tài liệu và những đóng góp quý báu cho luận văn; các
cha mẹ học sinh và học sinh đã đóng góp cho tôi những ý kiến chân tình nhằm đem
lại ý nghĩa thực tiễn và khoa học cho luận văn.
Song, do trình độ và năng lực còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi
những thiếu sót. Tác giả kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến, phê bình của
quý Thầy – Cô, Hội đồng chấm, các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn chỉnh
hơn.
Tôi xin chân thành cám ơn tất cả!


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan, vừa là quá
trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển
để bảo vệ lợi ích quốc gia. Nhằm đi tắt đón đầu từ một đất nước kém phát triển thì
vai trò của GD và khoa học công nghệ càng có tính quyết định. GD phải đi trước
một bước, nâng cao dân trí, ĐT nhân lực, bồi dưỡng nhân tài nhằm thực hiện thành
công các mục tiêu của chiến lược phát triển KT-XH.
Ở nước ta, quá trình CNH-HĐH được tiến hành trong điều kiện tồn tại nhiều
hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường định
hướng XH chủ nghĩa. Sản xuất hàng hóa phát triển làm cho thị trường lao động mở
rộng, nhu cầu học tập tăng lên, mặt khác cũng làm thay đổi quan niệm về giá trị,
ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề, động cơ học tập, các mối quan hệ trong
nhà trường và ngoài XH.
Tình hình trên đòi hỏi ngành GD-ĐT phải ĐT ra những lớp người lao động
“Có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được ĐT, bồi dưỡng
và phát huy bởi một nền GD tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện
đại” [21, tr. 9]. Song song, nguồn nhân lực này phải là một đội ngũ lao động có
năng lực thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của cả nước cũng như ở từng
địa phương.

phố Cần Thơ hiện nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp QLHĐGDHN của HT các trường THPT quận Thốt
Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay.
4. Giả thuyết khoa học
Thực trạng công tác QLHĐGDHN của HT các trường THPT ở quận Thốt
Nốt hiện nay còn yếu kém. Do đó, chất lượng và hiệu quả GDHN cho HS chưa cao,
phần lớn các em chưa định hướng đúng trong việc lựa chọn ngành, nghề phù hợp
với năng lực bản thân. Nếu có những giải pháp đúng đắn và khả thi thì có thể nâng


cao chất lượng và hiệu quả công tác QLHĐGDHN của HT ở các trường THPT
trong quận Thốt Nốt.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận về công tác QL của HT các trường THPT nói chung,
công tác QLHĐGDHN của HT các trường THPT nói riêng.
5.2. Tìm hiểu thực trạng công tác QLHĐGDHN của HT các trường THPT quận
Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay. Phân tích nguyên nhân của thực trạng.
5.3. Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác QLHĐGDHN của HT các
trường THPT quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở phương pháp luận
6.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc
Mỗi trường THPT trong quận Thốt Nốt có những nét hoạt động đặc
trưng riêng về GDHN tùy thuộc vào hoạt động của bộ môn và ứng với điều kiện cụ
thể của từng trường. Vì vậy, việc đánh giá công tác QLHĐGDHN của quận phải
được xem xét trong mối quan hệ các nhiệm vụ GD chung của các trường THPT
trong quận. Ngoài ra, cũng phải xem xét mối tương quan trong công tác
QLHĐGDHN giữa các trường THPT trong quận, đồng thời cũng xem xét trong mối
tương quan với các hoạt động GD khác trong nhà trường để tìm ra những giải pháp

CBQL (3 HT, 6 Phó HT và các tổ trưởng chuyên môn và các bộ phận khác) ở 3
trường THPT trong quận Thốt Nốt. Việc xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến chủ yếu
dựa trên cơ sở lý luận, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn CBQL (HT, Phó HT) của 3
trường THPT trong quận Thốt Nốt về những vấn đề nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Tác giả đã xin ý kiến của các
chuyên gia: Thạc sĩ Trần Đình Lý – Giám đốc Trung tâm quan hệ doanh nghiệp và
QL sinh viên trường ĐH Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh; Giảng viên tư vấn HN
Nguyễn Đăng Lập của khoa tâm lý học trường ĐH Văn Hiến thành phố Hồ Chí


Minh; Giám đốc Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – HN thành phố Cần Thơ; Giám đốc
Trung tâm GD thường xuyên quận Thốt Nốt… nhằm đúc kết thêm cơ sở khoa học
và những kinh nghiệm thực tiễn về công tác QLHĐGDHN cho HSPT, đồng thời
mang lại ý nghĩa khoa học cho các giải pháp tăng cường công tác QLHĐGDHN của
đề tài.
6.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phép toán thống kê để xử lý số liệu thu thập được từ các
điều tra bằng bảng hỏi.
7. Giới hạn nghiên cứu
Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài được nghiên cứu chủ yếu về
thực trạng công tác QLHĐGDHN cho HS ở 3 trường THPT thuộc quận Thốt Nốt,
thành phố Cần Thơ hiện nay, trên cơ sở đó chỉ đề xuất một số giải pháp chung nhất
để tăng cường một bước công tác QLHĐGDHN của HT ở 3 trường này.
Đối với hai đối tượng HS và CMHS thì đề tài chỉ nghiên cứu ngẩu nhiên ở
100 HS khối 12 và 100 vị cha mẹ của những HS này ứng với mỗi trường THPT
trong quận Thốt Nốt.


Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT

tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ
quốc”, “GD THPT nhằm giúp cho HS… có những hiểu biết thông thường về kỹ
thuật và HN, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển,
tiếp tục học lên ĐH, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào lao động cuộc
sống”; ở Điều 28 cũng có ghi “… Nội dung GD phổ thông đảm bảo tính phổ thông,
cơ bản, toàn diện, HN và có hệ thống…”. Ở Nghị định quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật GD cũng đề cập đến nội dung HN và phân luồng
HS trong GD.
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo việc xây dựng chương trình GD THCS,
THPT theo mục tiêu quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 của Luật GD có chú
trọng việc đổi mới nội dung, phương pháp GD, cụ thể hóa chuẩn kiến thức, kỹ năng
GD kỹ thuật tổng hợp – HN. Đối với cấp THCS, các nội dung HN được lồng ghép
vào các môn học, đặc biệt là môn công nghệ; đối với cấp THPT các nội dung HN
được bố trí thành môn học cụ thể. Theo Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT ngày
23/7/2003 cũng đã đề cập về việc tăng cường GDHN cho HS. Quyết định số
16/2006/QĐ–BGD&ĐT ngày 5/6/2006 cũng đề cập về việc ban hành chương trình
GD phổ thông và trong chương trình GD phổ thông cũng có chương trình chuẩn
“HĐGDHN”.
Bên cạnh đó là những nghiên cứu của nhiều Nhà GD và các chuyên gia phần
lớn tập trung nghiên cứu về xu hướng chọn nghề, hứng thú nghề nghiệp, định
hướng và tư vấn nghề nghiệp cho HS việc ĐT chuyên gia tư vấn HN hay một số
vấn đề chung nhất về công tác HN. Chẳng hạn như đề tài: “Nghiên cứu một số đặc
điểm tâm lý HSPT trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và bước đầu xây dựng bộ
trắc nghiệm HN và chọn nghề” của Quang Dương ở Viện Nghiên cứu GD-ĐT phía
Nam, thành phố Hồ Chí Minh 1998. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tâm
lý chọn nghề của HS lúc này chủ yếu cũng có hướng chọn nghề nhằm chạy đua vào
các trường ĐH và đa phần chọn nghề theo cảm tính.
Vấn đề QLHĐGDHN cho HSPT trong những năm qua cũng đang là mối quan
tâm nghiên cứu của rất nhiều Nhà khoa học, Nhà GD và các Nhà QLGD như:



tương lai của HS. Ở đây đề tài chưa đề cập đến nhiệm vụ của CMHS trong việc
GDHN và chưa có sự phối hợp GD của nhà trường với gia đình để HN cho các em.
Nhìn chung, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ
về công tác QLHĐGDHN nói chung và rất ít công trình nghiên cứu về công tác
QLHĐGDHN của HT các trường THPT nói riêng. Hiện tại, ở Cần Thơ chưa có
công trình nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng công tác QLHĐGDHN của HT các
trường THPT trong quận Thốt Nốt một cách hoàn chỉnh.
1.2. Một số khái niệm và lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
trong trường THPT
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Có nhiều quan niệm tiếp cận khác nhau:
Theo Từ điển Tiếng Việt căn bản (1998) của Nhà xuất bản GD, QL là tổ
chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan. [ 44, tr. 583]
Theo F.W.Taylor: “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần
làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo Kozlova O. V. và Kuznelsov I. N: “QL là sự tác động có mục đích
đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá
trình sản xuất”.
Theo Glushkov A. A. và Eitingon V. N: “QL là một hoạt động đa diện
phức tạp, bảo đảm sự phối hợp có chủ định, sự ăn nhịp của lao động XH”.
Cũng vậy, Tereebnenko. V. I. cho “QL tập hợp các biện pháp phối hợp
nhằm đạt mục đích xác định”.
QL là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân
nhằm đạt được các mục đích của nhóm. [45, tr. 29]
QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số
tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường
nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định làm cho nó phát triển đến
mục đích đã định. [25, tr. 28]



1.2.1.3. Khái niệm quản lý trường học
QL trường học là QL vi mô, nó là một hệ thống con của QL vĩ mô:
QLGD, QL trường học là một chuổi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ
thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư phạm của chủ thể QL đến tập thể GV và
HS, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng
cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá
trình này vận hành tối ưu tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến. [28, tr. 16]
1.2.1.4. Khái niệm giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: “HN là hệ thống
các biện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân
trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân
với nhu cầu XH”
Xét trên bình diện XH: HN là hệ thống tác động của XH về GD học, y
học, XH học, kinh tế học… nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp
hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu
nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân. [8, tr. 42]
HN là quá trình dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho
họ phát huy được hết năng lực lao động trong thế giới đó, có được cuộc sống thỏa
mãn với lao động nghề nghiệp.
Xét trên bình diện trường phổ thông: HN là một hình thức hoạt động dạy
của thầy và hoạt động học của trò. Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, HN được
coi như là công việc của tập thể GV, tập thể sư phạm có mục đích GD HS trong
việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân
tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các
ngành sản xuất trong XH. [8, tr. 43]
GDHN là một hệ thống các biện pháp GD nhằm chuẩn bị cho HS sớm có
ý thức chọn ngành, nghề vừa phù hợp với nguyện vọng cá nhân vừa phù hợp với sự
phân công lao động XH ngay từ khi còn học ở trường phổ thông. [4, tr. 29]

- Nhu cầu về thị trường lao động.


- Thông tin nghề nghiệp và cơ sở ĐT.
- Năng lực bản thân, hoàn cảnh và truyền thống nghề nghiệp gia đình.
- Lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp
THCS và THPT.
Những nội dung được thể hiện thành những chủ đề trong chương
trình. Trong một số chủ đề, HS phải lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề
sau khi tốt nghiệp THCS và THPT. Nội dung chương trình lớp 9 giúp HS có được
những kiến thức cơ sở; nội dung chương trình lớp 10, 11 giúp các em tìm hiểu
thông tin nghề nghiệp cụ thể; nội dung chương trình lớp 12 tập trung vào tìm hiểu
thông tin ĐT và hướng phát triển kinh tế nhằm giúp cho việc quyết định chọn nghề.
[10, tr. 13]
1.2.2.3. Phương hướng chủ yếu của nội dung hướng nghiệp hiện nay
a). Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc lựa chọn nghề của
thanh thiếu niên, học sinh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Một trong những mục đích chính của công tác HN là điều chỉnh
hướng chọn nghề của thế hệ trẻ cho phù hợp với những yêu cầu phát triển của kinh
tế. Vì thế, trong công tác HN Nhà GD luôn đòi hỏi thanh thiếu niên, HS phải trả lời
được câu hỏi: “Nghề định chọn có nằm trong những nghề mà XH đang cần phát
triển hay không?”
Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH, cơ
cấu kinh tế sẽ chuyển đổi theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công
nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc nội. Xu hướng chọn nghề của thanh thiếu
niên, HS phải phù hợp với xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của
HN. Chính điều này đã đặt ra trong GD phải thông tin chính xác về yêu cầu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế để thế hệ trẻ có cơ sở cân nhắc định hướng chọn nghề cho bản
thân. Và vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải được nhà trường quan tâm như là
một định hướng chuẩn bị cho HS ra trường.

học hỏi liên tục và ĐT suốt đời.


Nền sản xuất hiện nay đang thừa hưởng thành quả của cuộc cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại. Với vòng đời của công nghệ rút ngắn, các sản
phẩm có mặt hàng trên thị trường không thể kéo dài hàng năm, mà là hàng tháng,
hàng tuần. Các doanh nghiệp buộc phải nâng cao tính cạnh tranh trên cơ sở nâng
cao năng lực làm chủ những công nghệ mới. Lẽ sống của các doanh nghiệp là đổi
mới công nghệ, mở rộng thị trường. Trong điều kiện này, hệ thống trường học, bệnh
viện, nhà in, nhà xuất bản, các nhà hát, thư viện, câu lạc bộ…cũng thay đổi về nội
dung và hình thức hoạt động theo nhịp độ đổi mới công nghệ.
HN trong giai đoạn hiện nay phải chỉ ra hướng phát triển của các nghề
theo hướng ứng dụng những tri thức mới, những công nghệ mới và vẽ nên viễn
cảnh phát triển của nghề. Đây là chỗ khó của HN và cũng là lẽ tồn tại của HN. HS
chỉ thấy được thực trạng của nghề trong hiện tại, không thấy được những biến đổi
mau lẹ của nội dung, hình thức, phương pháp công tác trong nghề bằng những công
nghệ mới, không mường tượng được con đường hiện đại hoá của nghề nên khó có
thể quyết định việc lựa chọn lĩnh vực lao động sau khi rời trường học.
d). Hướng nghiệp chuẩn bị con người năng động thích ứng với thị
trường
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế đã đặt ra cho công tác HN những yêu
cầu mới như cùng với việc giới thiệu nghề cụ thể cho HS còn phải cho HS thấy
rằng, thiếu năng lực sáng tạo sẽ không bảo đảm được sức cạnh tranh trên thị trường.
Song song, trong quá trình làm một nghề, người lao động còn phải tăng tính thích
ứng của mình với những thay đổi lớn lao của thị trường hàng hoá, có những trường
hợp còn phải có năng lực chuyển sang nghề khác. Đây là tinh thần mới của HN.
Trong thời đại mới, do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ, rất nhiều thành tựu khoa học mới được ứng dụng rộng rãi
trong đó có công nghệ thông tin. Việc “máy tính hoá” các hoạt động nghề nghiệp và
phổ cập Internet đang ngày càng bức bách buộc người lao động phải nắm chắc việc

Việc dạy và học các môn khoa học XH có nhiều ý nghĩa chuẩn bị cho
HS đi vào các lĩnh vực XH như: công tác GD, công tác Đoàn - Đội, công tác báo trí,
thư viện, xuất bản, công tác trong lĩnh vực điều khiển, QL, lãnh đạo.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status