LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG TẢN VĂN Y PHƯƠNG - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------@&?--------

HOÀNG THỊ KIỀU TRANG

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG TẢN VĂN Y PHƯƠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học : TS. Lê Thị Bích Hồng

HÀ NỘI - 2014

1


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn Bản sắc văn hóa dân tộc trong tản văn Y
Phương tôi đã nhận rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS Lê Thị Bích
Hồng, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà thơ Y Phương đã nhiệt tình giúp đỡ,
khuyến khích tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Ban
Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, Tổ bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, động viên chúng tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, những người

Tiến… luôn ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của mình, Hứa
Vĩnh Sước – Y Phương là một trong số những nhà thơ như vậy. Người trai Tày sinh
ra và lớn lên ở làng Hiếu Lễ, dưới chân núi Bo Păn ở gần biên giới Việt – Trung,
thuộc huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) nổi lên như một gương mặt thơ tiêu biểu,
xuất sắc, một phong cách riêng, độc đáo cho vùng văn hóa dân tộc miền núi vừa đậm
đà bản sắc “người đồng mình”, vừa rộng mở giao hòa với vùng văn hóa rộng lớn để
hợp lưu thành con sông văn chương Việt Nam.
Là một trong những cây bút tiêu biểu của dân tộc Tày, cầm bút từ những năm
chiến tranh lửa đạn khốc liệt cho tới bây giờ, Y Phương vẫn miệt mài trên từng con
chữ, lao động sáng tạo không ngừng để hôm nay là “ông chủ” sở hữu một “gia tài”
không nhỏ văn chương gồm thơ và tản văn. Các tác phẩm của anh đã góp phần đưa
văn học của các dân tộc thiểu số đến gần hơn với độc giả và trở thành một bộ phận
không thể thiếu đóng góp vào thành tựu chung của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Là nhà thơ dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trên quê hương Cao Bằng, Y Phương
luôn cháy bỏng một khát khao đem đến cho bạn đọc một cái nhìn chân xác nhất về
cảnh sắc thiên nhiên và con người quê hương anh, cũng như cuộc sống và con người
của đồng bào Tày ở Cao Bằng nói chung và vùng quê Trùng Khánh nói riêng. Chính

4


vì vậy, đọc tác phẩm nào của anh, độc giả sẽ cảm nhận được chất “miền núi” thấm
sâu và lan tỏa trên từng con chữ, câu văn.
1.3 Tản văn trong những năm gần đây bắt đầu được sự công nhận từ góc độ giới
chuyên môn. Dường như “Tản văn Việt Nam hiện đại – một thể loại bị lãng quên”
(Trần Đình Sử) đang có sự hồi sinh và ngày càng chứng tỏ thế mạnh cũng như sự
hấp dẫn của mình với nhiều cây bút như: Tản mạn trước đèn của Đỗ Chu, Nhân
trường hợp chị Thỏ bông của Thảo Thảo, Tản văn Nguyễn Ngọc Tư… Tản văn
Kung fu người Co Xàu, đặc biệt tản văn Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao
quắm của Y Phương nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam… Đọc tản

vì anh đã kết hợp truyền thống văn hóa của quê hương mình với mọi miền quê của
đất nước” [68, 272].
Tác giả Tạ Duy Anh đánh giá Y Phương là “Người gảy khúc đàn trời để viết
những bài ca vút lên từ đất, ca ngợi xứ sở đã nuôi ông thành thi sĩ” [7, 293].
TS Chu Văn Sơn nhận thấy sự gắn kết sâu sắc của Y Phương với cội nguồn xứ
sở: “Sự tha thiết với xứ sở dân tộc mình chính là nhịp tim thầm kín, bền vững nhất
trong từng bài thơ Y Phương, là cốt lõi của giọng hát Y Phương” [60, 264].
Theo Trúc Thông, “Y Phương không yêu dân tộc mình ở đầu lưỡi, lạm dụng
chất dân tộc. Qua tất cả những cảnh huống sinh hoạt vật chất và tinh thần hiện
thực, những đam mê và đau khổ trần trụi, những chìm lặng không sao nói hết và
những sự thật cuộc đời… Y Phương tiếp tục phát hiện về dân tộc mình” [76, 273].
Trần Mạnh Hảo nhận thấy cái chất Y Phương “Nhẩn nha sống – nhẩn nha thơ”
để “nhìn cuộc đời bằng đôi mắt thơ ngây của hoa lá dân tộc mình, rung động bằng
trái tim suối nguồn và tư duy bằng sừng đá”. Trần Mạnh Hảo còn nhận ra sự thống
nhất trong những mặt đối lập “thơ Y Phương bình dị, chân chất, hồn nhiên, giấu cất
mà he hé lộ thiên, lặng lẽ mà bùng nổ, như chính cuộc đời ông, con người ông” [23,
303].

6


Nhiều bài viết về thơ Y Phương đăng trên báo chí: Phạm Quang Trung thừa
nhận:“Y Phương trước sau nhất quán một xác tín nghề nghiệp” [80].
Lê Thị Bích Hồng đã phát hiện ra Y Phương thời kỳ đầu cầm bút không thể
đứng ngoài “dàn đồng ca” thời ấy, nhưng điều quan trọng “người con làng Hiếu Lễ”
đã bứt phá, vượt thoát rất nhanh khỏi “tiếng nói chung” để khẳng định một lối đi
riêng, một phong cách cá nhân với một gia tài thi ca “săn chắc, vạm vỡ, nhưng mềm
mại, tinh tế mang hồn làng”: “Thời kỳ đầu, thơ anh vẫn không thể khác giọng thơ
chung hào sảng vốn đã chi phối cả một thế hệ sáng tác: “Câu hát thiêng liêng lắm
chứ-Hát bây giờ còn để hát mai sau”... Nhưng chỉ sau các tập “Lửa hồng một góc”,

Phương” (Lê Thị Huệ, Đại học Vinh, 2009); “Ngôn từ nghệ thuật trong thơ Y
Phương” (Nguyễn Thúy Hằng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011); “Bản sắc Tày
trong thơ Y Phương và Dương Thuấn” (Nguyễn Thị Thu Huyền, Đại học Thái
Nguyên, 2009)... Luận án tiến sĩ “Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay” (Đỗ Thị Thu
Huyền, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2013) nghiên cứu các nhà thơ Tày,
trong đó có thơ Y Phương.
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về tản văn Y Phương
Là nhà thơ Tày thành danh, liên tiếp trong hai năm 2009-2010, Y Phương ra
mắt bạn đọc hai tập tản văn Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm (Nhà
xuất bản Phụ nữ ấn hành) và tản văn Kung fu người Co Xàu (Nhà xuất bản Hội nhà
văn ấn hành năm 2010) đã thu hút nhiều độc giả và giới nghiên cứu phê bình.
Nhận xét về tập tản văn Y Phương, Lâm Tiến viết “Mỗi tản văn của Y Phương
như một lát cắt, một tầng vỉa làm lộ dần chiều sâu văn hóa của quê hương, của dân
tộc. Y Phương không phải chỉ kể lại, tả lại những sự vật, những hiện tượng mà đi
sâu phân tích ý nghĩa cội nguồn của nó, đẩy những sự kiện, tình huống đi đến tận
cùng để từ đó khám phá, phát hiện tâm hồn, tính cách dân tộc, nói rộng ra là ngọn
nguồn, chiều sâu văn hóa của dân tộc” [66].

8


Tuy Hòa cho rằng “Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm không khác
gì những bài thơ mà Y Phương từng tin cậy “Câu hát thiêng liêng lắm chứ/ Hát bây
giờ còn để lại mai sau”… Tản văn Y Phương không chinh phục người đọc bằng ánh
mắt sắc sảo, mà bằng cái nhìn đầy âu yếm” [27].
Lê Thị Bích Hồng nhận thấy tản văn của Y Phương là “Chiếu nghỉ giữa
khoảng thơ”, là thời điểm tác giả vịn câu nói của cổ nhân người Tày: "Chỗ nào còn
nước thì làm ruộng, hết nước thì làm rẫy", anh vượt qua cảm giác lống loáng, rỗng
ruột đến với tản văn như phút “nghỉ ngơi” hiếm hoi [28].
Lê Thị Bích Hồng khi viết “Người đàn ông sinh ra ở làng Hiếu Lễ” đã khẳng

Kung fu người Co Xàu ( Nhà xuất bản Hội nhà văn 2010). Ngoài ra, để hiểu đầy đủ
bản sắc dân tộc trong tản văn Y Phương, chúng tôi khảo sát mở rộng sang một số các
tập thơ và trường ca của anh như: Đàn then, Tiếng hát tháng Giêng, Chín tháng. Đò
trăng, Thơ Y Phương, Thất Tàng lồm (Ngược gió)…
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp dưới đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
-Phương pháp thống kê- phân loại.
- Phương pháp liên ngành (văn hóa học, dân tộc học...).
- Phương pháp đối chiếu so sánh.
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại.
5. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn của chúng tôi góp phần xác định vị trí, những đóng
góp của tản văn Y Phương trong tản văn hiện đại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Qua khảo sát, phân tích tác phẩm của Y Phương (đặt trong
so sánh liên ngành), chúng tôi mong muốn được góp thêm một tiếng nói khẳng định
việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống.

10


6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao
gồm ba chương:
Chương 1: Quan niệm về thể loại, một số vấn đề chung về bản sắc văn hóa
dân tộc và vị trí của tản văn trong văn nghiệp Y Phương (trang).
Chương 2: Bản sắc văn hóa dân tộc nhìn từ phương diện nội dung tư tưởng
trong tản văn Y Phương (trang).
Chương 3: Bản sắc văn hóa dân tộc nhìn từ phương diện nghệ thuật (trang).


văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả
phong cách, khắc họa nhân vật. Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất
chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh
nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân. Tản văn là loại văn tự
do, dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, đặc biệt là thể hiện nổi bật chính kiến và
cá tính tác giả, có truyền thống lâu đời và sức sống mạnh mẽ”. [22, 293-294].
12


Trong bài tản văn trên báo văn nghệ 2011, tác giả Nguyễn Thị Lan cho rằng
tản văn là một thể loại văn học độc lập:“Tản văn có những đặc điểm khác với những
thể loại khác. Tản văn là những bài viết tản mạn tương đối tự do; về dung lượng khá
ngắn gọn, hàm súc; về kết cấu: có sự linh hoạt tất cả các phương thức, phương tiện
biểu hiện nghệ thuật; về nội dung: thường biểu hiện đời sống theo kiểu chấm phá và
đặc trưng quan trọng nhất là thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân của người viết; về
mặt thẩm mỹ: tản văn đứng giữa thơ và truyện ngắn”.
1.2. Một số vấn đề chung về bản sắc văn hóa dân tộc
1.2.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
Theo nghĩa chung nhất, văn hoá được xem là toàn bộ những hoạt động sáng tạo
của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại tạo thành những chuẩn mực giá trị, thị hiếu và truyền thống, gọi chung là hệ giá trị - xã hội, một thành tố cơ bản
làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân tộc.
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “Văn hóa”.
Trong cuốn Từ điển bách khoa Xô viết: “Văn hóa là một tổng thể các giá trị
vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra và phát triển theo lịch sử, khác với
các đối tượng tự nhiên” [70, 16].
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng:“Văn hóa là mối quan hệ giữa
thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại
trong biểu tượng” [54, 17.]
GS - Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm xác định cụ thể: “Văn hóa là một hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình

đã tạo nên những nét đặc sắc, riêng có ở cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong con
người Việt Nam.
Bản sắc văn hóa Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều với lịch sử đấu
tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản sắc đó không phải là một

14


hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới được hình thành, bồi tụ
trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hóa.
Văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cộng
đồng ấy có một đặc thù riêng. Như vậy, văn hóa mang bản sắc dân tộc. Và yếu tố
dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc là
cái "hồn", là sức sống nội sinh, là “thẻ căn cước” của mỗi dân tộc, để phân biệt dân
tộc này với dân tộc khác, từ đó nó có thể biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện
của mình trong quá trình giao lưu và hội nhập.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định: “Bản sắc là những nét
riêng biệt, độc đáo của một dân tộc thể hiện trong nền văn hóa, nghệ thuật trong
phong tục tập quán, trong đời sống muôn màu của dân tộc” [17, 11].
Trong cuốn Cơ sở văn hóa, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Bản sắc là sự lan
tỏa tự nhiên trong sắc thái tư duy ngôn ngữ, trong tâm hồn, trí tuệ, trong phong tục,
cung cách, hành vi, ứng xử, trong lề thói, tập tục, trong văn chương, nghệ thuật, và
trong toàn bộ các giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của con người. Bản sắc
dân tộc trong mọi sắc thái là sự lan tỏa một cách tự nhiên không ai gò ép được,
nhưng nó phải gắn liền với ý thức dân tộc và tự khẳng định qua thử thách của thời
gian, nếu không qua giao lưu và mở rộng văn hóa, bản sắc sẽ bị biến đổi, mất đi
những gì tinh túy nhất của dân tộc. Do đó các nhà nghiên cứu trên thế giới đã từng
đưa ra những ý kiến thống nhất gọi bản sắc văn hóa dân tộc là một thứ căn cước,
một chứng minh thư của riêng một dân tộc” [82, 78].
Theo GS Trần Đình Sử: “Bản sắc dân tộc là thuộc tính độc đáo của một nền

của một cá nhân nghệ sĩ. Mà cá nhân người nghệ sĩ đó lại thuộc về một cộng đồng,
một dân tộc nhất định. Mỗi tác phẩm văn học ít nhiều đều mang dấu ấn riêng về văn
hóa, phong tục tập quán hay tâm lí, tính cách đặc trưng của dân tộc mình. Vậy tính
dân tộc được xem như là một thuộc tính xã hội của văn học, là một “thuộc tính tất
yếu của việc sáng tạo”.
16


Bàn về tính dân tộc trong trong văn học, nhà nghiên cứu người Nga A. Tôn xtôi
cho rằng: “Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hương đất đai, trong tiếng
mẹ đẻ mỗi từ dường như có hai lần ý nghĩa nghệ thuật…”. Quan điểm đó rất đúng
bởi vì tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ, nhưng
đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giai cấp mà
họ đang sống. Vậy nên bản sắc văn hóa dân tộc luôn thấm đẫm trong từng câu chữ,
trong cách cảm cách nghĩ của mỗi nhà văn, nhà thơ. Và cũng chính đặc thù của đời
sống dân tộc đã mang lại cho văn học của dân tộc ấy một bản sắc riêng độc đáo
được bảo tồn lưu giữ qua nhiều thế hệ” [44].
1.2.2 Khái quát về văn hóa dân tộc Tày
Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, là cư dân
đông nhất ở vùng núi phía Bắc và chiếm tỉ lệ cao so với các dân tộc thiểu số khác.
Theo số liệu điều tra dân số công bố năm 2001 của Tổng cục Thống kê, dân tộc Tày
có 1.477.514 người, “cư trú trên một địa bàn rộng lớn miền thượng du Việt Bắc,
Đông Bắc… Vùng người Tày cư trú thường xen kẽ các dân tộc Mông, Dao, Nùng,
Sán Chay, Giáy” [14, 284].
Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Sử sách còn ghi rõ ngay từ buổi bình
minh của lịch sử, thế kỷ thứ II trước công nguyên, liên minh bộ lạc Âu Việt (Tày,
Nùng) đã cùng liên minh với bộ lạc Lạc Việt (Việt, Mường) dưới sự chỉ huy của thủ
lĩnh An Dương Vương Thục Phán, đã có đủ sức mạnh đánh bại quân Tần xâm lược
và thành lập Vương quốc Âu Lạc. Âu Lạc chính là nhà nước đầu tiên xuất hiện trên
vũ đài lịch sử Việt Nam với tiến trình lịch sử lâu đời của mình, dân tộc Tày chẳng

đình bằng tre, trúc, mây; đục đẽo đá làm cối giã, cối xay; rèn sắt, dao… Họ biết
trồng bông, làm sa quay, làm khung cửi dệt vải, và nhất là có kỹ thuật nhuộm tạo ra
loại vải màu đen rất đặc trưng (màu chàm) để may quần áo, làm màn, mặt chăn. Đặc
biệt là những tấm thổ cẩm được dệt với nhiều hoa văn đẹp, độc đáo làm mặt chăn,
mặt địu…
18


Do nông lâm thổ sản và tiểu thủ công nghiệp phong phú, cộng thêm nhu cầu
trao đổi, buôn bán của mọi người dân, nên ở vùng có người Tày cư trú, chợ được mở
ở nhiều nơi. Chợ họp theo chu kỳ năm ngày một phiên. Các chợ bày bán sản phẩm
phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân. Trong ngày chợ phiên, nhiều hình thức văn
hóa đặc sắc mang đậm dấu ấn địa phương đã tạo nên văn hóa chợ độc đáo của các
dân tộc thiểu số vùng cao.
* Văn hóa tổ chức đời sống
Tục ngữ Tày có câu “vỉ noọng tam tó bấu táy vỉ noọng sỏ rườn” (anh em ruột
ở xa không bằng người dưng ở ngay bên cạnh) cũng giống câu tục ngữ Kinh “Bán
anh em xa mua láng giềng gần” để nói lên sự cố kết dân bản và sự đoàn kết trong
lao động sản xuất, chiến đấu để chống nạn trộm cướp, chống kẻ thù. Hơn thế, họ
luôn quan tâm, giúp đỡ, chia ngọt sẻ bùi lẫn nhau mỗi khi gia đình bạn bè có chuyện
vui buồn như tình làng nghĩa xóm “tắt lửa tối đèn có nhau” của các dân tộc khác.
Trong quan hệ với các dân tộc anh em, đồng bào có tập quán kết nghĩa anh em gọi là
“lạo tồng”, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt. Đồng bào Tày rất mến
khách “Khách đến nhà bao giờ cũng được tiếp đãi chu đáo. Khách đến làng, tuy
không quen biết, nhưng cũng được đồng bào chào hỏi thân mật” [41, 8].
*Văn hóa vật chất
Người Tày ăn cơm tẻ là chính. Mỗi ngày ăn ba bữa sáng, trưa và tối. Những
ngày lễ tết (dù là tết to hay tết nhỏ), cưới hỏi đồng bào thường ăn gà, vịt, ngan, lợn
và chế biến thành những món ăn măng đậm phong vị miền núi. Các loại bánh trái
làm trong ngày tết lễ hết sức phong phú, như: bánh chưng, bánh gai, bánh dợm, bánh

tóc, chít khăn vuông màu chàm theo kiểu chít vuông trước trán, các góc khăn thường
đính tua chỉ màu. Họ cũng hay đeo vòng cổ, vòng tay, chân và dây xà tích bằng bạc.
Do địa hình không bằng phẳng, nhiều núi đồi, khe suối nên phương tiện người
Tày dùng để đi lại, vận chuyển sản phẩm nông nghiệp thường bằng ngựa. Vật dụng
chứa mang vận chuyển thường bằng gánh đôi dậu, đôi xỏng và đôi cuôi. Tất cả
20


những vật dụng này đều do bàn tay người dân đan lát mà tạo thành. Dùng trâu kéo
và bè, mảng để chuyên chở cũng là một nét đặc sắc riêng của dân tộc Tày.
* Văn hóa tinh thần
Thanh niêm nam nữ Tày được tự do tìm hiểu qua các cuộc hội hè, hát lượn.
Nhưng để đi đến hôn lễ hay không lại do hai gia đình quyết định. Người Tày có
phong tục “Khai lục nhình” (bán con gái) nên lễ vật và tiền cưới nhà trai phải mang
đến nhà gái rất hậu hĩnh. Việc tiến hành hôn nhân phải qua rất nhiều khâu; đánh
tiếng (đi hỏi), lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt. Lễ cưới thể hiện rõ nhất nét đẹp văn hóa
của người Tày qua việc hát đối đáp sli lượn trong đám cưới. Đó là tiếng hát của ông
quan lang (người chủ đón dâu) và đại diện nhà gái để được lên nhà gái làm lễ tổ tiên
và đón dâu, đưa dâu về nhà chồng. Tiếng hát “quan lang” mang ý nghĩa cao quý bởi
nó thể hiện tình cảm trân trọng của nhà trai đối với nhà gái và ngược lại; đồng thời
nó cũng thể hiện văn hóa ứng xử của cả gia tộc nói riêng, tộc người nói chung thông
qua đại diện của hai gia đình. Đó còn là tiếng lượn của những người đến dự đám
cưới cất lên để mừng cho cô dâu chú rể, mừng cho gia chủ có được con dâu, con rể
thảo hiền, mừng cho cuộc sống mới… Tất cả các điệu si lượn đó đã tạo nên một
phần quan trọng trong đời sống văn nghệ của dân tộc Tày.
Người Tày là dân tộc theo tín ngưỡng đa thần. Các thần đều được gọi là ma
(phi), gồm phi phạ ở trên trời, phi đông ở trong rừng, phi pú pẩu là tổ tiên… Bên
cạnh quan niệm về các loại ma như trên, trong tâm thức của dân tộc này còn có lại
ma gà (phi cáy) ngự trị ở một số người. Đây là một loại ma ác, thường làm hại nên
người Tày rất ghét, sợ những ai bị mang tiếng là ma gà. Mỗi khi gia đình có việc

trang phục cổ truyền, sinh hoạt văn hóa trong đám cưới, ma chay, lễ hội là điều
không phải dễ dàng; Do đó việc phát hiện, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa
của từng dân tộc theo hướng ngày càng hiện đại nhưng vẫn giữ được dấu ấn riêng là
vấn đề ý nghĩa mang tính thời sự, cập nhật.
1.3 Cuộc đời và văn nghiệp Y Phương
22


1.3.1 Cuộc đời và văn nghiệp Y Phương
Tên khai sinh của Y Phương là Hứa Vĩnh Sước (các bút danh: Y Phương, Chu
Văn Păn, Hứa Hiếu Lễ) sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948 trong một gia đình nông
dân dân tộc Tày ở xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Thân phụ là
cụ Hứa Văn Cường biết chữ nho, làm thầy tào và chữa bệnh điên cứu người. Ngày
bé, cậu bé Vĩnh Sước hiếu động đã theo cha gõ trống, đánh não bạt cho đám ma.
Cậu cũng đã từng ước ao ước có được những phép thuật của thầy tào, học được
những bài thuốc của cha, nhưng cha nhìn thấy số mạng Vĩnh Sước không hợp nghề
đó “Con là người nóng tính, ham hố nhiều như tóc. Riêng hai điều đó không thể học
được để làm thày tào”. Cha tôn trọng thiên hướng bẩm sinh và bài học đầu tiên dạy
con là cách xử thế nhân văn:
“Không bao giờ quỳ gối và nói lời cong
Con phải sống thẳng băng như đường mực”.
Thân mẫu anh là bà Nông Thọ Lộc - một phụ nữ, tảo tần, đảm đang, tháo vát,
hiểu biết rộng, giàu đức hy sinh, luôn khích lệ con trai lòng can đảm, ý chí phấn đấu
vươn lên, quý trọng tinh thần tự chủ: "Tốc đin rà mạ tấc. Tốc đin than mạ mè" (Sống
tại đất mình thành ngựa đực. Sống ở nơi người là ngựa cái). Mẹ luôn răn dạy anh:
“Hãy giữ mình như giữ lửa-Cứ ngồi -Đừng sợ bóng người cong”; phải biết sống đẹp,
ngẩng cao đầu kiêu hãnh “Không bao giờ nhỏ bé được nghe con”. Ghi nhớ lời mẹ,
anh đã gửi thông điệp đó vào bài thơ “Nói với con” và cũng chính bài thơ được đưa
vào chương trình giảng dạy văn học lớp 9 đã đưa tên tuổi anh đến gần hơn với công
chúng, với giáo viên, học sinh, với những người yêu thơ…

đá. Núi đá vọng lại. Chúng tôi thân thiết nhau hơn sáu chục năm trời. Nay tôi đang
trở thành người già. Còn núi vẫn... non”. Núi non Cao Bằng – nơi thế kỷ XV là kinh
thành của nhà Mạc, nơi các ngọn núi từ thấp đến cao đều lao vút lên trời nhọn hoắt
đã góp phần hun đúc, dung dưỡng tố chất văn chương của anh.
Ngoài đá, bạn của anh là sách. Anh tâm sự “Tôi coi sách như bạn. Vì tôi
không có hứng thú ham chơi thả diều, đá bóng như nhiều bạn cùng lứa. Tôi cô đơn
và hay buồn, ngay từ khi còn ít tuổi". Từ những cuốn sách đầu tiên của cha, cậu bé

24


Vĩnh Sước đã mở rộng “thư viện nhỏ” của mình bằng nguồn sách bổ sung từ việc
dành dụm số tiền ít ỏi mẹ cho 5 xu mỗi sáng ăn quà để mua sách. Anh say mê đọc ở
bất cứ nơi đâu. Sách theo anh suốt cuộc đời, là hành trang không thể thiếu. Anh nhớ
sách như nỗi nhớ của người yêu nhớ người yêu. Những khi thấy lòng nao nao, hoang
hoảng, nhà thơ trốn vào “Thư viện sách” gia đình như một kẻ ẩn dật để được động
viên, được tiếp nguồn năng lượng [29].
Học hết cấp I, cấp II, đang học dở cấp III ở Trùng Khánh, lại là con một trong
gia đình chỉ có hai chị em, nhưng anh đã "lựa chọn thông minh" [29] với ý thức
"vượt lên số phận". Chàng trai làng Hiếu Lễ nhập ngũ năm 1968 ở Binh chủng Đặc
công, chiến đấu ở mặt trận miền Đông Nam Bộ. Sống chiến đấu cùng đồng đội,
chung chịu những ngày gian khổ, hứng bao mưa bom bão đạn tại vùng đất Lộc Ninh,
Bình Phước tưởng như không còn có kẽ hở, có thời gian nào cho thơ ca “len chân
tới”. Tưởng như thơ ca là thứ “xa xỉ”, “phù hoa” không phù hợp với trận mạc, chiến
trận. Như người cầm bút cùng thời, anh biết tạm gác những đam mê, biết cầm lòng
vậy, đành lòng vậy, nén lại “cái tinh tế cỏ hoa”, tạm thời chưa dám nghĩ đến thơ
phú… nhưng chính thời điểm cuộc chiến tranh khốc liệt của đế quốc Mỹ của những
năm 70 của thế kỷ XX ấy dường như đã “kích hoạt”, “châm ngòi”, dung dưỡng, tạo
nên một hồn thơ cho chàng lính trẻ đặc công. Khởi nghiệp con đường thi ca với cái
tên Hứa Vĩnh Sước và trình làng hai bài thơ đầu tiên Bếp nhà trời và Dáng một con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status