Tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam sang các nước Châu Á - Pdf 38

Chuyên đề Kinh tế Phân tích tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam
sang một số nước Châu Á giai đoạn 2007 – 2009
PHẦN GIỚI THIỆU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ngày nay với nền kinh tế phát triển theo hướng toàn cầu hóa, việc người lao động ra
nước ngoài làm việc theo một tổ chức hay cá nhân tự tìm kiếm việc làm là hiện tượng
phổ biến như một tất yếu của xã hội. Giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động
đã trở thành một lĩnh vực hoạt động đem lại lợi ích kinh tế - xã hội quan trọng cho
nhiều quốc gia. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi giải quyết vấn đề việc làm và thất
nghiệp đang là một bài toán hóc búa đối với các nền kinh tế. Vì vậy tìm kiếm mọi biện
pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm nói chung, xuất khẩu lao động nói riêng đều
đang được Chính phủ các nước đang phát triển chú trọng.
Ở Việt Namvới số dân gần 86 triệu người, trong đó lực lượng lao động chiếm 60%,
tỷ lệ thất nghiệp khoảng 4.66% (2009) lực lượng lao động nên sức ép của tình trạng
thiếu việc làm là rất lớn.
Vấn đề giải quyết việc làm không chỉ được thực hiện ở thị trường trong nước mà phải chú
trọng đến thị trường ngoài biên giới. Chính vì thế, Chính phủ đã có những đánh giá đúng tầm
quan trọng của công tác xuất khẩu lao động trong vấn đề giải quyết việc làm, từ đó đã có
những định hướng đúng đắn: "Đẩy mạnh dịch vụ xuất khẩu lao độngvà các dịch vụ thu ngoại
tệ khác với sự tham gia của các thành phần kinh tế". Trong thực tế những năm gần đây, xuất
khẩu lao độngđem lại nguồn thu ngoại tệ khá lớn, tuy nhiên cũng đã bộc lộ nhiều khiếm
khuyết. Để nâng cao hiệu quả cũng như hạn chế những khó khăn về hoạt động xuất khẩu lao
động, em chọn đề tài Phân tích tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam sang một số nước
Châu Á cụ thể là Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản giai đoạn 2007 – 2009.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
2.1. Mục tiêu chung:
Phân tích thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam. Đồng thời, đề ra những
biện pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm thông qua xuất khẩu lao động.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích thực trạng của việc xuất khẩu lao động Việt Nam sang một số nước
Châu Á cụ thể là Đài Lan, Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1. Một số khái niệm về hoạt động xuất khẩu lao động:
1.1. Nguồn lao động:
Là nguồn lực về con người bao gồm số lượng dân cư trong độ tuổi lao động và có
khả năng lao động. Nguồn lao động là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia
vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần được huy động vào
quá trình lao động. Nguồn lao động bao gồm những người từ độ tuổi lao động trở lên (ở
nước ta là từ 15 tuổi trở lên).
1.2. Lao động:
Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự
nhiên phù hợp với lợi ích của mình. Lao động là sự vận dụng sức lao động trong quá trình
tạo ra của cải vật chất, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất.
1.3. Xuất khẩu lao động:
Xuất khẩu lao động: (Export of Labour) là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực
hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp
đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
Lao động xuất khẩu: (Labour Export), là bản thân người lao động, có những độ tuổi
khác nhau, sức khỏe và kỹ năng lao động khác nhau, đáp ứng được những yêu cầu của
nước nhập khẩu lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, xuất khẩu lao độnglà một hoạt động kinh tế đối ngoại,
mang đặc thù của xuất khẩu nói chung. Thực chất xuất khẩu lao độnglà một hình thức di
cư quốc tế. Tuy nhiên, đây chỉ là sự di cư tạm thời và hợp pháp.
1.4. Thị trường lao động quốc tế:
Thị trường lao động: một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường trong nền kinh
tế thị trường phát triển. Ở đó diễn ra quá trình thoả thuận, trao đổi, thuê mướn lao động
giữa hai bên, bên sử dụng và bên cho thuê lao động.
Thị trường lao động trong nước: một loại thị trường, trong đó mọi lao động đều có
thể tự do di chuyển từ nơi này đến nơi khác, nhưng trong phạm vi biên giới của một quốc

cập. Nhiều nước trên thế giới coi trọng xuất khẩu lao động, xuất khẩu lao động vừa ích
nước vừa lợi nhà, vì nó là mong muốn không chỉ của Chính phủ mà là của mọi người lao
động. Trên góc độ lợi ích kinh tế, hoạt động xuất khẩu lao động được xem xét theo 3 chủ
thể tham gia đó là Người lao động, Doanh nghiệp xuất khẩu lao động và Nhà nước.
GVHD: Lê Thị Diệu Hiền 4 SVTH: Đỗ Thị Ngọc Duy
Chuyên đề Kinh tế Phân tích tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam
sang một số nước Châu Á giai đoạn 2007 – 2009
- Lợi ích của người lao động: Người lao động đi làm ở nước ngoài bình quân thu
nhập bằng 10 - 15 lần so với thu nhập trong nước. Với số tiền tích luỹ được, nhiều người
lao động không chỉ xóa được nghèo mà còn có khả năng đầu tư vào sản xuất kinh doanh,
phát triển sản xuất, ổn định kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm mới góp phần giải quyết việc
làm cho nhiều lao động khác khi tái hòa nhập cộng đồng.
- Lợi nhuận của Doanh nghiệp xuất khẩu lao động: Doanh nghiệp xuất khẩu lao
độnglà nơi tạo ra lợi ích cho người lao động và hiệu quả kinh tế quốc dân cho Nhà nước.
Thông thường, khi hoàn thành tổ chức xuất khẩu lao động nhận được một khoản chi phí
dịch vụ từ tiền lương cơ bản của người lao động khoản từ 10 - 18% tuỳ theo ngành nghề.
- Lợi ích của Nhà nước: xuất khẩu lao động được coi là một hướng giải quyết việc
làm cho người lao động và thu ngoại tệ về cho đất nước. Doanh thu từ xuất khẩu lao động
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của những đơn vị hoạt động ở lĩnh vực này. Theo
báo cáo của một số doanh nghiệp tỷ suất lợi nhuận bình quân trên doanh thu của hoạt động
xuất khẩu lao động đạt khoảng 15 - 20%.
4.2. Lợi ích về mặt xã hội:
Xuất khẩu lao động đã tạo việc làm cho hàng vạn người lao động, góp phần giải
quyết việc làm cho toàn xã hội đặc biệt là lực lượng thanh niên, giải quyết tình trạng ứ
đọng lao động, giải quyết về sức ép việc làm cho đất nước, giảm được các tệ nạn xã hội do
người lao động không có việc làm gây nên " nhàn cư vi bất thiện".
Người lao động đi làm việc ở nước ngoài được nâng cao trình độ chuyên môn kỹ
thuật, ngoại ngữ, tiếp thu được những công nghệ tiên tiến, tác phong làm việc công nghiệp,
hình thành nên đội ngũ lao động có trình độ tay nghề chuyên môn cao, đây là điều kiện để
đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước khi họ trở về.

Chuyên đề Kinh tế Phân tích tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam
sang một số nước Châu Á giai đoạn 2007 – 2009
1.3 Hạn chế về khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam ở nước ngoài và
sức ép về việc làm trong nước:
a) Sức cạnh tranh của hàng hóa sức lao động Việt Nam còn kém hơn các nước
khác.
Sức khỏe của lao động Việt Nam chưa đủ đáp ứng yêu cầu của một số ngành nghề
như đi biển, công nghiệp xây dựng.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp, trong số 21,2 triệu lao động nông nghiệp trong
độ tuổi lao động trên cả nước, có 20,7 triệu người (chiếm 97,65%) chưa qua đào tạo và
không có chứng chỉ chuyên môn; người có bằng sơ cấp, công nhân kỹ thuật chiếm 1,26%;
bằng trung cấp chiếm 0,87%; tỷ lệ lao động có bằng CĐ, ĐH chỉ chiếm 0,22% (trong khi
tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Hàn Quốc là 48%; Nhật Bản: 64,4%; Thái Lan: 58,2%). Cơ
cấu đào tạo giữa đại học, cao đẳng, trung học và công nhân kỹ thuật rất bất hợp lý. Hiện là
1 -1,6 - 3,6; (các nước khác là 1-4-10). Còn theo đánh giá của Tổ chức BERI về sức cạnh
tranh của lao động theo thang điểm 100, thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý,
20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động
và 32 điểm về chất lượng lao động. So với 59 nước, Việt Nam đứng thứ 48
1
.
Lao động tuy cần cù, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật và công nghệ, có khả năng
sáng tạo, song tính kỷ luật còn yếu, tác phong và văn hoá công nghiệp còn thấp (40
điểm/100 như đã nói ở trên).
b) Sức ép về việc làm trong nước:
Dân số trẻ về lâu dài là một thế mạnh, song trước mắt sẽ bất lợi về kinh tế, do bình
quân số người phải nuôi dưỡng (trẻ em) trên một lao động cao hơn các nước khác, gây trở
ngại trong việc giải quyết việc làm và làm quá tải hệ thống giáo dục, y tế, cũng như các
dịch vụ xã hội khác.
Số dân trong độ tuổi lao động ở Việt Nam vẫn đang có xu hướng tăng. Theo dự báo,
năm 2000 chiếm khoảng 55%, đến năm 2005 chiếm khoảng 59,1% và năm 2010 chiếm

này lại nằm ở nguồn nhân lực của chúng ta.
Từ năm 2006 đến nay, ngành xuất khẩu lao động của Việt Nam đã có những tín
hiệu đáng mừng. Tính đến cuối năm 2009, theo số liệu tổng hợp của Cục Quản lý lao động
GVHD: Lê Thị Diệu Hiền 8 SVTH: Đỗ Thị Ngọc Duy
Chuyên đề Kinh tế Phân tích tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam
sang một số nước Châu Á giai đoạn 2007 – 2009
ngoài nước, tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam tại tất cả các thị trường là 73.028
người.
Lượng xuất khẩu lao động tại các thị trường
Đơn vị: người
2007 2008 2009
Chênh lệch
2008/2007 2009/2008
Nhật Bản 5.517 6.142 5.456 625 -686
Hàn Quốc 12.187 18.141 7.578 5.954 -10.563
Đài Loan 23.640 31.631 21.667 7.991 -9.964
Malaysia 26.704 7.810 2.792 -18.894 -5.018
Khác 5.982 11.355 35.525 5.373 24.170
Tổng 84.625 94.988 73.028 10.363 -21.960
Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước
Năm 2008 tăng so với năm 2007 là 10.363 người (khoảng 10,9%) và so với 2009
giảm 21.960 người (khoảng 30,07%). Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, lượng lao động xuất khẩu năm 2009 đã
giảm so với những năm trước. Đặc biệt ở những thị trường xuất khẩu lao động lớn nhất
của Việt Nam như Đài Loan tuyên bố giảm 24.000 công nhân và người giúp việc nước
ngoài, Hàn Quốc giảm ¾ hạn ngạch lao động nước ngoài, đầu năm 2009 Malaysia cũng
tuyên bố cấm nhập khẩu lao động nước ngoài do quá phụ thuộc vào lao động nhập cư
2
.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều công ty phá sản, nền kinh tế đình trệ thì con số trên đã thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status