Tình hình xuất khẩu giày dép Việt Nam sang thị trường EU hiện nay - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước
Việt Nam . Chủ trương này đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VIII và trong Nghị quyết 01 NQ/TW của Bộ Chính Trị, với
mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa , hiện đại hóa
hướng về xuất khẩu . Để thực hiện được chủ trương của Đảng, cùng với việc đẩy
mạnh tiến trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa, chúng ta cần phải tăng cường
mở rộng thị trường xuất khẩu . Đây là việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay.
Liên Minh Châu Âu ( EU ) là một tổ chức khu vực lớn nhất thế giới hiện nay ,
có sự liên kết tương đối chặt chẽ và thống nhất , được coi là một trong ba siêu
cường có vị thế chính trị ngày càng tăng (đó là Mỹ ,EU ,Nhật Bản). Ra đời
năm 1951 với sáu nước thành viên (Pháp , Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và Luc xăm
bua ), ngày nay EU đã trở thành một tổ chức liên kết khu vực tiêu biểu nhất của
khối các nước tư bản chủ nghĩa. Sau hơn 50 năm phát triển và mở rộng , con số
thành viên của EU là 25 nước . Trong số những nước công nghiệp phát triển ,
EU gồm nhiều nước có tiềm lực kinh tế hùng mạnh vào loại hàng đầu thế giới
như Đức , Pháp, Italia ,Anh… Hiện nay, EU được coi là một tổ chức có tiềm
năng to lớn để hợp tác về mọi mặt, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và đầu
tư .
Việt Nam đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng đồng Châu
Âu (EC) vào ngày 22/10/1990, ký Hiệp định hợp tác với EU vào ngày 17/7/1995
. Các sự kiện quan trọng này chính là nhân tố thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế
Việt Nam –EU phát triển mạnh trên cả ba lĩnh vực ( thương mại ,đầu tư , viện
trợ ) , đặc biệt là thương mại . Do vậy, từ năm1995 hoạt động thương mại song
phương diễn ra sôi động hơn, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh
(37,4%/năm), trong đó mặt hàng giày dép chiếm một tỷ trọng lớn trong kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào EU . Thế nhưng cho đến nay,
thương mại nói chung và xuất khẩu giày dép Việt Nam sang EU nói riêng vẫn
chưa tương xứng với tiềm lực kinh tế của hai bên.
EU là thị trường lớn có vai trò quan trọng trong thương mại thế giới . Một
số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là những mặt hàng mà thị trường

vấn đề nhập khẩu của EU cũng được đề cập ở mức khái quát trong những khía
cạnh có liên quan.
Chương một:Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu
Chương hai: Tình hình xuất khẩu giày dép Việt Nam sang thị trường EU hiện
nay
Chương ba: Triển vọng về xuất khẩu giày dép Việt Nam sang EU trong thời
gian tới
Chương bốn: Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu giày dép Việt Nam vào EU giai
đoạn 2006 đến 2010.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Trưởng khoa –PGS.TS:Đỗ Đức Bình , trưởng
ban chiến lược –viện nghiên cứu thương mại TS: Trần Công Sách đã giúp đỡ em
hoàn thành đề tài này.
CHƯƠNG MỘT:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU
I.KHÁI NIỆM VÀ CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU
1.Khái niệm:
Xuất khẩu là hoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang
quốc gia khác. Xuất khẩu được coi là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài
ít rủi ro nhất và chi phí thấp.
2.Các hình thức xuất khẩu
2.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một quốc gia cho
các khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài.
Việc các quốc gia bán hàng sang thị trường quốc gia khác là hoạt động tham gia
thị trường quốc tế của quốc gia đó. Các công ty có kinh nghiệm thường trực tiếp
bán các sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài. Khách hàng của công ty
không chỉ đơn thuần là người tiêu dùng. Những ai có nhu cầu mua và tiêu dùng
sản phẩm của quốc gia đều là khách hàng của quốc gia.
2.2.Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hoá và dịch vụ của quốc gia

2.1. Vai trò của EU trong thương mại quốc tế
Thương mại tự do là một trong những mục tiêu chủ yếu của Liên Minh
Châu Âu ( EU ). Với hơn 600 triệu người, EU đã tạo ra một thị trường quan
trọng của thế giới , đẩy mạnh thương mại giữa 25 nước thành viên và phụ thuộc
nhiều vào thương mại quốc tế , nhiều hơn so với Mỹ.
Qua các việc làm thiết thực , EU đã có những đóng góp không nhỏ đối với
việc phát triển thương mại thế giới . Khối lượng thương mại ngày nay đã tăng
lên đáng kể so với 50 năm qua nhờ vào việc tiếp tục loại bỏ các hàng rào thuế
quan và phi thuế quan. Từ năm 1985-2005 , tỷ trọng thương mại chiếm trong
GDP thế giới đã tăng bốn lần so với thập kỷ trước và tăng gần ba lần so với
những năm 60.
Kim ngạch xuất khẩu của EU tăng lên hàng năm (1995: 1.463,13 tỷ USD,
1996: 1.532,37 tỷ USD , 1997: 1.572,51 tỷ USD , 1998: 1.632,42 tỷ USD ,
1999: 1.698,45 tỷ USD , 2000: 1.756,98 tỷ USD , 2001: 1.798,45 tỷ USD ,
2002: 1.843,65 tỷ USD , 2003: 1.876,94 tỷ USD , 2004: 1.883,59 tỷ USD ,
2005: 1.936,78 tỷ USD ), chiếm 24,47% kim ngạch thương mại toàn cầu giai
đoạn 1995-2005, trong khi đó của Mỹ và Nhật Bản là 19,89% và 11,4%.
Kim ngạch xuất khẩu của EU ngày càng tăng lên, chiếm khoảng 21,49%
kim ngạch xuất khẩu thế giới (1995-2005), con số này của Mỹ và Nhật Bản là
17,34% và 10,97%. Bên cạnh đó , kim ngạch nhập khẩu của EU cũng không
ngừng gia tăng , chiếm 20,13% thế giới còn con số của Mỹ và Nhật Bản là
21,34% và 9,96%(1995-2005).
Năm 2005 kim ngạch thương mại thế giới đạt 5.948,39 tỷ USD , trong đó
kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ là 1.974,55 tỷ USD , chiếm 21,54% kim
ngạch thương mại thế giới , kim ngạch xuất nhập khẩu của EU và Nhật Bản là
1.737,56 tỷ USD và 1.272,85 tỷ USD chiếm 20,36% và 11,67%. Như vậy , trong
năm 2005 Mỹ là nước có kim ngạch ngoại thương lớn nhất thế giới , tiếp theo là
EU và Nhật Bản .
Chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu và với vai trò nổi bật trong
tổ chức thương mại thế giới (WTO) , EU là một nhân tố quan trọng trong việc

triệu USD ,chiếm 45,76% FDI toàn cầu ; FDI của Mỹ và Nhật Bản là 401.632
triệu USD và 89.095 triệu USD , chiếm 29,91% và 7,36% FDI toàn cầu.
Ngày nay, các nước thành viên EU đều là các nước công nghiệp có nền
kinh tế phát triển mạnh đang tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm
lượng công nghệ cao , như điện tử tin học, viễn thông, công nghệ sinh học…
Do vậy, FDI của EU chủ yếu tập trung ở các nước phát triển , cụ thể : Mỹ chiếm
39,7% , Nhật Bản chiếm 32,1%, ASEAN chiếm 12,6% FDI của EU và 15,6%
FDI còn lại của EU đầu tư vào các nước Trung Cận Đông và Châu Phi.
3.Sự phù hợp của hàng hóa cần xuất khẩu của Việt Nam đối với nhu cầu
của thị trường EU .
Thị trường EU có nhu cầu lớn , rất đa dạng và phong phú về hàng hóa
nhất là mặt hàng giày dép ( kiểu dáng, mẫu mã, tính năng, tác dụng… ). Mặt
khác giày dép xuất khẩu của Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của
người tiêu dùng EU , đáp ứng được các tiêu chuẩn về kỹ thuật , vệ sinh môi
trường và các chỉ số khác của EU . Hơn nữa , thị trường EU có nhu cầu nhập
khẩu rất lớn và ổn định đối với mặt hàng giày dép , trong khi đó Việt Nam rất có
khả năng đáp ứng được các đơn hàng nhập khẩu lớn của EU ,đồng thời vẫn đáp
ứng được đúng thời điểm và chất lượng giày dép , đa dạng về chủng loại, đẹp về
mẫu mã. Do vậy, tăng cường xuất khẩu giày dép sang EU các doanh nghiệp
Việt Nam không những đảm bảo ổn định được sản xuất mà còn nâng cao được
trình độ và tay nghề của người lao động , mặt khác còn góp phần thay đổi cơ cấu
kinh tế của Việt Nam .
EU là thị trường có nhu cầu nhập khẩu lớn và khá ổn định những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhất là mặt hàng giày dép , đến hơn 80%
khối lượng giày dép xuất khẩu là xuất khẩu sang thị trường EU . EU là một thị
trường lớn có chính sách thương mại chung cho 25 nước thành viên và đồng tiền
thanh toán cho 11 nước thuộc EU -11. Khi xuất khẩu giày dép sang bất cứ thành
viên nào trong khối chỉ cần tuân theo chính sách thương mại chung và thanh
toán bằng tiền Euro( EU -11) ; không phức tạp như trước đây là phải tính giá
theo 11 đồng tiền bản địa và biểu thuế nhập khẩu , quy chế nhập khẩu rất khác

hơn nhiều. Đặc biệt đối với những sản phẩm của các nhà sản xuất không nổi
tiếng hay nói cách khác những sản phẩm có nhãn hiệu ít người biết đến thì rất
khó tiêu thụ trên thị trường này. Người tiêu dùng EU rất sợ mua những sản
phẩm như vậy, vì họ cho rằng sản phẩm của các nhà sản xuất không danh tiếng
sẽ không đảm bảo về chất lượng ,và an toàn cho người sử dụng, do đó không an
toàn đối với sức khỏe và cuộc sống của họ.
Thị trường EU về cơ bản cũng giống như thị trường một quốc gia. Do vậy
có 3 nhóm người tiêu dùng khác nhau: (1) nhóm có khả năng thanh toán ở mức
cao, chiếm gần 20% dân số của EU, dùng hàng có chất lượng tốt nhất và giá cả
cũng đắt nhất hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo; (2) nhóm có khả năng
thanh toán ở mức trung bình, chiếm 68% dân số, sử dụng chủng loại hàng hóa
kém hơn một chút so với nhóm một và giá cả cũng rẻ hơn; (3) nhóm có khả
năng thanh toán ở mức thấp, chiếm hơn 10% dân số, tiêu dùng những loại hàng
hóa có chất lượng và giá cả đều thấp hơn so với hàng của nhóm 2. Hàng hóa đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường này gồm cả hàng cao cấp lẫn hàng bình
dân phục vụ cho mọi đối tượng. Đối tượng tiêu dùng hàng Việt Nam là nhóm 2
và nhóm 3. Các đối thủ cạnh tranh chính của hàng Việt Nam là hàng Trung
Quốc và hàng của các nước ASEAN khác(Thái Lan, Indonexia, Malaixia,…)
Sở thích và thói quen tiêu dùng của người dân EU đang thay đổi rất nhanh cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Ngày nay, người tiêu
dùng EU cần nhiều chủng loại hàng hóa có số lượng lớn và những hàng hóa có
vòng đời ngắn. Không như trước kia họ chỉ thích sử dụng những sản phẩm đắt
tiền, chất lượng cao, vòng đời sản phẩm dài, hiện nay sở thích tiêu dùng lại là
những sản phẩm có chu trình ngắn hơn, giá rẻ hơn,và phương thức dịch vụ tốt
hơn. Tuy có sự thay đổi về sở thích và thói quen tiêu dùng như vậy nhưng chất
lượng hàng hóa vẫn là yếu tố quyết định đối với phần lớn các hàng hóa được
tiêu thụ trên thị trường này. Để xuất được hàng hóa vào thị trường EU, các
doanh nghiệp Việt Nam không những phải nắm vững nhu cầu thị trường ,thị
hiếu tiêu dùng và đảm bảo sản phẩm có sức cạnh tranh về chất lượng cũng như
giá cả ,mà còn phải thông thạo kênh phân phối và hệ thống pháp luật của EU,

doanh với các công ty xuyên quốc gia EU để trở thành các công ty con.
2.Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU
Để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng ,EU tiến hành kiểm tra các sản
phẩm ngay từ nơi sản xuất và có hệ thống báo động giữa các nước thành viên
,đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới. EU đã thông qua
những quy định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng về độ an toàn chung của
các sản phẩm được bán ra, các hợp đồng quảng cáo, bán hàng tận nhà, nhãn
hiệu… Các tổ chức chuyên nghiên cứu đại diện cho giớ tiêu dùng sẽ đưa ra các
quy chế định chuẩn quốc gia hoặc Châu Âu. Hiện nay, ở EU có 3 tổ chức định
chuẩn: Ủy ban Châu Âu về định chuẩn, Ủy ban Châu Âu về định chuẩn điện tử,
Viện định chuẩn viễn thông Châu Âu . Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được
trên thị trường này với điều kiện phải bảo đảm tiêu chuẩn an toàn chung của EU,
các luật và các định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản
phẩm được sản xuất ra từ những nước có những điều kiện sản xuất chưa ngang
bằng với tiêu chuẩn của EU.
Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ,EU tích cực tham gia chống nạn
hàng giả bằng cách không cho nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền.
Ngoài việc ban hành và thực hiện quy chế trên, EU đưa ra các Chỉ thị kiểm soát
từng nhóm hàng cụ thể về chất lượng và an toàn đối với người tiêu dùng .
3. Chính sách thương mại chung của EU
3.1. Chính sách thương mại nội khối
Chính sách thương mại nội khối tập trung vào việc xây dựng và vận hành
thị trường chung Châu Âu nhằm xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc
gia ,biên giới hải quan ( xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan ) để tự
do lưu thông hàng hóa ,sức lao động ,dịch vụ và vốn; và điều hòa các chính
sách kinh tế và xã hội của các nước thành viên.
Thị trường chung Châu Âu dựa trên nền tảng của việc tự do di chuyển 4
yếu tố cơ bản của sản xuất hàng hóa ,sức lao động ,dịch vụ và vốn.
+Lưu chuyển tự do hàng hóa : Để hàng hóa được tự do lưu thông trong thị
trường chung các nước thành viên EU đều nhất trí áp dụng những biện pháp sau

này có liên quan chặt chẽ tình hình phát triển kinh tế ,tiến trình nhất thể hóa
Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sản phẩm của Liên
Minh Châu Âu trên thị trường thế giới.
Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại ,EU đã thực hiện các
biện pháp :chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả.
Không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp chông cạnh tranh không lành
mạnh trong thương mại ,EU còn sử dụng các biện pháp để đẩy mạnh thương mại
với các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển. Đó là hệ thống ưu đãi
thuế quan phổ cập (GSP)-một công cụ quan trọng của EU để hỗ trợ các nước nói
trên. Bằng cách này ,EU có thể làm cho nhóm các nước chậm phát triển dễ dàng
thâm nhập vào thị trường của mình. Nhóm các nước chậm phát triển có thể được
hưởng ưu đãi cao hơn các nước đang phát triển .
4. Tình hình nhập khẩu giày dép của EU trong những năm gần đây
Liên Minh Châu Âu có nền ngoại thương lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, là
thị trường xuất khẩu lớn nhất và thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới. Hàng
năm EU nhập khẩu một khối lượng lớn hàng hóa từ các nước trên thế giới. Kim
ngạch nhập khẩu không ngừng gia tăng, từ 698,65 tỷ USD năm 1995 lên tới
987,45 tỷ USD năm 2005. Kim ngạch nhập khẩu của EU chiếm tỷ trọng 48,76%
trong tổng số kim ngạch xuất nhập khẩu của EU hàng năm.
Các thị trường nhập khẩu chủ yếu của EU: Mỹ chiếm 19,65% tổng kim
ngạch nhập khẩu , Nhật Bản chiếm 9,75%, Trung Quốc chiếm 5,02%, khối
NAFTA chiếm 22,15%, khối ASEAN chiếm 6,5%, khối OPEC chiếm 7,75%...
Các số liệu cho thấy nhập khẩu hàng hóa từ các nước đang phát triển vào EU
đang gia tăng và có chiều hướng nhập nhiều hàng chế tạo. Trung Quốc ,các thị
trường mới nổi ở Châu Á và Mỹ La Tinh đóng góp khá lớn vào sự phát triển của
thị trường này. EU nhập khẩu các mặt hàng nông sản ,khoáng sản ,giày dép
,thủy hải sản và hàng dệt may chủ yếu từ các nước đang phát triển ;còn nhập
khẩu máy móc và thiết bị từ các nước phát triển. EU là thị trường nhập khẩu lớn
thứ hai thế giới sau Mỹ, nhu cầu nhập khẩu hàng năm của EU là rất lớn. EU
nhập khẩu rất nhiều các mặt hàng nông sản, khoáng sản, thủy hải sản và dệt

liệu của EU thì gần như 100% sản phẩm da dày của ta được xuất vào EU. Theo
số liệu của hải quan Việt Nam thì chỉ xấp xỉ 50% (do Hải quan thống kê thị
trường theo khách hàng, không thống kê theo điểm đến cuối cùng). Còn theo
Tổng công ty Da Giày Việt Nam thì tỷ trọng của EU trên 80%.
Dù tính theo cách nào thì tỷ trọng xuất khẩu vào EU cũng vẫn vượt 50%. Việt
Nam là một trong năm nước có số lượng giày dép tiêu thụ nhiều nhất ở thị
trường EU do giá rẻ,chất lượng và mẫu mã chấp nhận được với loại sản phẩm
chủ yếu là giày thể thao. Nếu căn cứ theo số liệu của Tổng công ty Da Giày thì
năm 1998 Việt Nam đã xuất khẩu sang EU khoảng 180 triệu đôi, chiếm 21,5%
tổng khối lượng giày dép nhập khẩu vào EU. Theo quy định của EU, khi sản
phẩm của một nước đạt 25% tổng mức nhập khẩu hàng năm của họ thì sản phẩm
đó của nước đó sẽ không được hưởng các ưu đãi về thuế nhập khẩu nữa.
Lượng giày dép của Việt Nam xuất khẩu vào EU trong hai năm 1995-1996 tăng
rất nhanh, vượt cả hàng dệt may. Năm 1997 Ủy Ban Châu Âu đã tiến hành xem
xét khả năng hạn chế nhập khẩu (bằng định ngạch hoặc đánh thuế chống bán
phá mặt hàng này theo kiến nghị của nhiều nhà sản xuất giày dép của EU). Sở dĩ
như vậy là vì EU có nghi ngờ trong giày dép xuất khẩu sang đó có một số lượng
lớn xuất xứ từ các nước khác. Điều này có tác động bất lợi nhất định đối với
việc sản xuất mặt hàng giày dép trong nước. Đến năm 1998, lượng giày dép
mang xuất xứ Việt Nam nhập khẩu vào EU đã tăng tới mức báo động và EU đã
chính thức đề nghị ta phối hợp kiểm soát tình hình này. Dù lý do nào đi chăng
nữa thì việc Việt Nam không thẩm tra được lượng hàng mang xuất xứ từ Việt
Nam nhập khẩu vào EU đã gây ra những rắc rối cho hoạt động xuất khẩu của ta.
Nếu EU áp dụng hạn ngạch đối với mặt hàng giày dép thì sẽ rất bất lợi cho
ngành da giày Việt Nam và sẽ trở thành một tiền lệ xấu cho các mặt hàng khác.
Sau khi phái đoàn kiểm tra của phía EU sang làm việc tại Việt Nam đã xác minh
được phần lớn những trường hợp mà họ nghi ngờ là không đúng, chỉ có rất ít
trường hợp trong đó doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về
xuất xứ của EU. Thực chất vấn đề là ở chỗ: để được hưởng chế độ GSP và
không bị hạn ngạch giày dép , một số thương nhân nước ngoài đã làm giả giấy

Việt Nam sẽ không thể giành phần thắng trong cạnh tranh với các sản phẩm
cùng loại của Trung Quốc và các nước ASEAN khác.
Bảng 1:xuất khẩu giày dép Việt Nam sang EU giai đoạn 1995-2000
Chỉ tiêu 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ tăng
bình quân /
Năm
Số lượng(triệu
đôi)
Giá trị(triệuECU)
Tỷ trọng trong
tổng KNXK giày
dép (%)
14,3
26
59,8
35,2
119
81,4
65,8
271
80,69
74
380
80,5
92,8
520
76,6
120
851

đặt hàng từ các nước trong Liên Minh Châu Âu ít dần. Trong xu thế cạnh tranh
mạnh mẽ hiện nay, da giày Việt Nam gần như bó tay bất lực khi không còn giữ
được hợp đồng của các bạn hàng. Các doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường
quốc tế nhất là thị trường EU, trong khi thị trường xuất khẩu có những đòi hỏi
rất cao, đặc biệt là tiêu chuẩn về lao động và người lao động . Có một số đối tác
nước ngoài từ chối đơn hàng do các doanh nghiệp sử dụng công nhân dưới tuổi
lao động . Lượng đơn hàng bị chuyển dịch đã lên tới 40% và con số này sẽ tăng
lên, nếu các doanh nghiệp không có những điều chỉnh và chọn lựa hợp lý về mặt
tiêu chuẩn. Lợi thế về giá nhân công rẻ cũng mất dần. Từ đầu năm đến nay,
lượng đơn hàng của loại giày vải đã giảm sút rất mạnh và đến nay thì các doanh
nghiệp giày vải đã không còn đơn hàng. Các doanh nghiệp không tìm được
khách hàng EU, lại bị lệ thuộc vào các đối tác nước ngoài trong việc bao tiêu
sản phẩm . Nhiều doanh nghiệp đầu tư phát triển manh mún , không có quy
hoạch cạnh tranh thiếu lành mạnh. Các doanh nghiệp hầu như không theo kịp sự
phát triển của thị trường .
Ngành giày Việt Nam phải trực tiếp cạnh tranh với một đối thủ có nhiều tiềm
năng và lợi thế về sản xuất giày dép là Trung Quốc ;trong khi đó, nguồn vốn để
đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị sản xuất của hầu hết các doanh nghiệp thiếu.
Trong ngành da cũng tiềm ẩn nhiều khó khăn về tổ chức quản lý, cơ chế hoạt
động vốn đầu tư và vốn sản xuất kinh doanh…
Mọi người đều đồng ý là cơ chế kiểm soát mới mà EU đề nghị gây thêm trở
ngại cho doanh nghiệp.Không thể áp dụng ,hay là cần phải chấp nhận điều “ít
xấu hơn” do phát triển quá nhanh và bị gian lận.
EU vẫn là thị trường giày dép lớn nhất của Việt Nam chiếm hơn 80% tổng kim
ngạch xuất khẩu giày dép của nước ta ra thị trường thế giới.
Bảng hai: kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trường EU giai
đoạn 2001-2005 (đơn vị tính:1.000USD)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Anh 254.211 312.353 388.822 494.238 676.994
Đức 214.002 249.682 316.317 338.098 463.244

Nam ở mức 1,3 triệu đôi một năm. Lúc đó Pháp và Đức là hai nước có tiếng nói
quan trọng trong EU đã ủng hộ Việt Nam nên việc định ngạch không được
thông qua. Sau năm 2000,rất nhiều nước EU lại đặt vấn đề giới hạn số lượng
nhập khẩu từ Việt Nam với hai lý do chính: hàng Việt Nam tăng quá nhanh và
có gian lận thương mại .
Thách thức lớn và đã bắt đầu là cam kết CEPT/AFTA từ năm 2002-2006
sản phẩm giày dép nước ta phải đem vào danh mục giảm thuế chắc chắn sẽ ảnh
hưởng lớn đến ngành giày dép Việt Nam . Thách thức thứ hai là ,các doanh
nghiệp giày dép đang phải từng bước đối mặt với những yêu cầu ngày càng khắt
khe hơn của thị trường EU về các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn môi trường và sự
thay đổi thị hiếu tiêu dùng .
Nói tóm lại EU là một thị trường đầy tiềm năng, kim ngạch xuất khẩu
giày dép của Việt Nam vào EU cũng như các đồ da khác luôn luôn có chiều
hướng gia tăng. Tuy vậy, hiện nay nước ta mới chỉ khai thác được khoảng 63%
khả năng công suất xuất khẩu đồ da vào thị trường này. Chủ yếu sản phẩm giày
dép của Việt Nam xuất sang thị trường EU vẫn phải thực hiện qua các công ty
của Đài Loan, Hồng Kông, Singapo, Hàn Quốc. Phấn đấu tăng tỷ trọng xuất
nhập khẩu trực tiếp, nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm ,đáp
ứng nhu cầu thị hiếu mẫu mốt cũng như giá cả hấp dẫn để phát triển xuất khẩu
được nhiều mặt hàng da giày vào thị trường EU là một thực tế đầy thách thức
đối với các doanh nghiệp ngành da giày Việt Nam . Nhất là khi EU đã rút quy
chế ưu đãi GSP lại càng khó khăn hơn.
Trên thực tế quy mô sản xuất của ta còn nhỏ, trình độ quản lý thấp, lệ
thuộc nhiều vào mẫu mốt của nước ngoài và tới 70% sản phẩm của ta vẫn là gia
công xuất khẩu . Theo nhận định của Tổng công ty Da giày Việt Nam trong năm
qua, công tác đầu tư phát triển của toàn Tổng công ty cũng như của từng doanh
nghiệp chưa mạnh. Nhìn chung việc đầu tư còn tản mạn, chắp vá ,mới chú trọng
đến đầu tư trước mắt chưa có chương trình lâu dài cho tương lai. Nhiều doanh
nghiệp chưa chú trọng đúng mức đến đầu tư kỹ thuật. Việc triển khai ứng dụng
hệ thống quản lý sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9002 làm chưa tốt. Chưa có

đoạn 1995-2005. Điều này cho thấy thị trường EU là đối tác chính của sản phẩm
giày dép Việt Nam đi xuất khẩu .
-Việt Nam đã phát huy được lợi thế so sánh của mình trong việc tập trung
xuất khẩu một số mặt hàng có thế mạnh vào thị trường các nước EU, trong đó
đặc biệt là giày dép .Việt Nam hiện đã và đang đặt trọng tâm tiêu thụ mặt hàng
giày dép vào thị trường rộng lớn này . Đồng thời Việt Nam từng bước tự làm
tăng nhanh chất lượng sản phẩm để tạo ra những sản phẩm hàng hóa có khả
năng cạnh tranh trên thị trường EU.
- Việc khai thông thị trường EU đã đòi hỏi chúng ta phải phát triển cơ sở
vật chất và năng lực của ngành giày dép nói riêng và những ngành công
nghiệp ,nông nghiệp nói chung . Vai trò của ngành giày dép đã góp phần không
nhỏ trong việc tạo công ăn việc làm cho người lao động . Đồng thời ngành giày
dép –dệt may đã tạo cho sự chuyển đổi nhanh chóng về chất lượng sản phẩm
,mẫu mã và sự đổi mới không ngừng về sản phẩm làm ra. Nói chung ,cũng nhờ
đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp mà tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngày càng nhanh, đặc biệt là sự thay đổi lớn trong cơ cấu công nghiệp –nông
nghiệp –dịch vụ .
1.1.Nguyên nhân của những kết quả đạt được
Ngành giày dép nước ta có những yếu tố được coi là lợi thế cạnh tranh so
với các nước trong khu vực như: nguồn lao động giá rẻ, thích ứng nhanh với
công việc và tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật vào sản xuất …Vì vậy, vào những
năm đầu của thập kỷ 90, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp da giày
thế giới và khu vực , ngành công nghiệp da giầy Việt Nam đã tiếp nhận sự
chuyển dịch sản xuất từ các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan
,Hồng Kông…
Nhiều doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt thời cơ, tận dụng cải tạo cơ sở vật
chất sẵn có , đầu tư thêm máy móc, thiết bị thu hút các đối tác nước ngoài với
hình thức đa dạng như hợp tác sản xuất , gia công , mua bán thành phẩm. Và chỉ
sau vài năm ngành da giầy đã có sự phát triển lớn cả về quy mô cũng như sản
lượng, trình độ công nghệ cũng như khả năng thâm nhập thị trường quốc tế , trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status