ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ LIÊN
THANH TRA VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ LIÊN
THANH TRA VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh
HÀ NỘI - 2014
TRẺ EM VÀ THANH TRA VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
1.1.
Khái niệm trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em
7
1.1.1. Khái niệm về trẻ em
7
1.1.2. Quyền trẻ em
9
1.1.3. Bảo vệ quyền trẻ em
12
1.1.4. Hệ thống bảo vệ trẻ em
13
1.2.
13
Pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em
1.4.1. Mô hình thanh tra viên vì trẻ em (Ombudsman for Children)
36
1.4.2. Hoạt động thanh tra vì trẻ em của tổ chức phi chính phủ (NGO)
37
1.4.3. Những kinh nghiệm về thanh tra quyền trẻ em trên thế giới có
38
thể được áp dụng ở Việt Nam
Chương 2:
THỰC TRẠNG THANH TRA VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ
42
EM HIỆN NAY Ở NƢỚC TA
2.1.
Tổ chức và hoạt động của thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em ở
42
Việt Nam
2.1.1. Giai đoạn 1990-2008
54
2.3.
56
Những hạn chế, bất cập trong thanh tra quyền trẻ em hiện nay
2.3.1. Hạn chế từ các quy định pháp luật
56
2.3.2. Hạn chế về nhận thức
74
2.3.3. Hạn chế về mô hình tổ chức của Thanh tra Lao động - Thương
77
binh và Xã hội
2.3.4. Hạn chế về nguồn nhân lực của thanh tra ngành Lao động -
79
Thương binh và Xã hội
2.3.5. Hạn chế về thẩm quyền của thanh tra Lao động - Thương binh
84
90
3.1.2. Bảo đảm nguyên tắc pháp chế, kỷ luật, kỷ cương trong hoạt
91
động của thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
3.1.3. Xuất phát từ những tồn tại, thiếu sót của hoạt động thanh
92
tra về bảo vệ quyền trẻ em
3.1.4. Phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính
92
3.2.
93
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra về bảo vệ
quyền trẻ em
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật
93
3.2.2. Hoàn thiện, đổi mới tổ chức Thanh tra Lao động - Thương
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Tổng hợp kết quả tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải
47
bảng
2.1
quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em
từ 2011-2013
2.2
Tổng hợp kết quả thanh tra việc chấp hành quy định của
49
pháp luật đối với người lao động chưa thành niên tại
doanh nghiệp của Thanh tra Bộ từ 2011-2013
2,3
Tổng hợp kết quả thanh tra việc chấp hành quy định của
50
sách, pháp luật nhằm tạo một hành lang pháp lý cho công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em. Do đó, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta
trong những năm qua có nhiều chuyển biến đáng khích lệ, các quyền của trẻ em đã
và đang được cải thiện về nhiều mặt [17].
Trẻ em tự mình không thực hiện được các quyền mà phải dựa vào người
lớn. Việc thực hiện quyền trẻ em chủ yếu phụ thuộc vào trách nhiệm của gia đình,
nhà trường, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân. Mặc dù đã có sự nỗ
lực rất lớn của các cấp, các ngành song sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em đang
đứng trước những thách thức cam go, nhất là các yếu tố nảy sinh do mặt trái của
nền kinh tế thị trường mang lại. Khoảng cách giàu, nghèo, phân biệt về giới giữa
các gia đình, giữa các vùng vẫn có xu hướng gia tăng làm cho nhiều trẻ em rơi vào
cảnh thất học, nhiều trẻ em phải xa gia đình để kiếm sống; các áp lực về kinh tế, xã
hội, lối sống thực dụng hay sự suy đồi của đạo đức làm tăng thêm nguy cơ trẻ em
lang thang, trẻ em bị buôn bán, bị xâm hại tình dục, bị bóc lột sức lao động, bị bạo
hành cả trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội.
Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ với khoảng hơn 25 triệu trẻ em, chiếm
khoảng gần 29% dân số. Trong đó, số trẻ mồ côi không nơi nương tựa và số trẻ em
bị bỏ rơi là 126.248; số trẻ em khuyết tật là 326.327; số trẻ em là nạn nhân chất
độc hóa học là 22.559; số trẻ nhiễm HIV/AIDS là 5.704 em; trẻ em làm việc xa
gia đình là 6.056, số trẻ em bị tai nạn thương tích là 13.594... [5], [47], [48].
Chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dân số với nhiều nhóm đối tượng trẻ em cần sự bảo vệ
đặc biệt, trong khi đó, hệ thống bảo vệ, chăm sóc còn nhiều yếu kém, lạc hậu, kiến
thức, trách nhiệm của những người chăm sóc trẻ em của gia đình và cộng đồng
chưa bắt kịp thời tốc độ phát triển dẫn đến năng lực bảo vệ trẻ em trong gia đình,
cộng đồng và những người chăm sóc trẻ em bị giảm sút; hệ thống quản lý nhà nước
về bảo vệ quyền trẻ em liên tục điều chỉnh; mạng lưới cán bộ, cộng tác viên, tình
nguyện viên tham gia công tác bảo vệ quyền trẻ em không ổn định nên việc cập
nhật kiến thức và kỹ năng bảo vệ quyền trẻ em rất hạn chế; công tác kiểm tra, giám
và thực tiễn, đề ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác thanh tra về bảo vệ quyền
trẻ em nói riêng, đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ trẻ em nói chung hiện nay ở nước
ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước đây, đã có một số nghiên cứu chuyên khảo về lĩnh vực bảo vệ quyền
trẻ em như: "Pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia (1994); "Những điều cần biết về quyền trẻ em", của Vũ Ngọc Bình, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia (1996); Bộ tài liệu về lao động trẻ em của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2009); Bộ tài liệu thanh tra về lao động trẻ em - Thanh tra
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012)... Một số công trình nghiên cứu về
công tác thanh tra như: "Nâng cao năng lực hệ thống thanh tra ngành Lao động Thương binh và Xã hội", Đề án của Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và
Xã hội (2013); "Các công ước quốc tế về lao động trẻ em và những vấn đề đặt ra
đối với Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Hoàng Phương (2010);
"Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc
tế", Luận văn tiến sĩ Luật học, của Trần Thắng Lợi (2012). Hay một số bài viết:
"Luật pháp quốc tế về quyền tham gia của trẻ em", Tạp chí Lao động - xã hội
(2013); "Nâng cao nhận thức trong bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em", Tạp chí
Gia đình - Trẻ em (2014)…
Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm, các nghiên cứu mới chỉ mang tính chất
chuyên đề, nghiên cứu chủ yếu về một vài nhóm quyền trẻ em, hoặc nghiên cứu ở
tầm vĩ mô về hệ thống thanh tra ngành nói chung mà chưa có một nghiên cứu toàn
diện, đầy đủ thuộc lĩnh vực thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em. Vì vậy, việc nghiên
cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác thanh tra về bảo vệ quyền trẻ em, từ
đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của thanh tra về
bảo vệ quyền trẻ em nói riêng và thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã
hội là rất cần thiết.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Ngọc Bình (2000), Các văn bản quốc tế về bảo vệ trẻ em, Nxb Chính trị
bí thư Trung ương về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05/11/2012 của
Bộ Chính trị về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm
sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, Hà Nội.
18. Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên) (2010), Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước,
Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội.
19. Hội đồng phối hợp công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của Chính phủ
(2011), "Pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em", Đặc san tuyên
truyền pháp luật, (2).
20. Chu Mạnh Hùng (2003), “Công ước quyền trẻ em năm 1989 - cơ sở cho việc
bảo vệ quyền trẻ em”, Luật học, (3), tr. 31-34.
21. Trần Thị Kim Liên (2011), "Trẻ em và quyền trẻ em - Những vấn đề lý luận và
thực tiễn", Hội thảo khoa học: Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Trường
Đại học An Giang tổ chức.
22. Liên hợp quốc (1924), Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ của về quyền trẻ em.
23. Liên hợp quốc (1959), Tuyên bố (thứ hai) của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.
24. Liên hợp quốc (1974), Tuyên bố của Liên hợp quốc về bảo vệ phụ nữ và trẻ em
trong tình trạng khẩn cấp và xung đột vũ trang.
25. Liên hợp quốc (1989), Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
26. Liên hợp quốc (1990), Tuyên bố của Liên hợp quốc về sự sống còn, bảo vệ và
phát triển của trẻ em.
48. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (2011), Báo cáo của tổ chức phi
chính phủ cho báo cáo định kỳ lần thứ ba, thứ tư của Chính phủ Việt Nam về
thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Hà Nội.
49. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2008), Tài liệu tập huấn
công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong điều kiện hội nhập kinh tế, Hà Nội.
50. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012), Bộ tài liệu tập huấn
thanh tra về lao động trẻ em, Hà Nội.
51. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012), Danh sách hàng hóa
được sản xuất bởi lao động trẻ em và lao động cưỡng bức theo quy định của Đạo
luật tái phê chuẩn về bảo vệ nạn nhân buôn bán người (TVPRA) và Sắc lệnh
(E.O.) 13126 do Bộ Lao động Hoa Kỳ công bố năm 2012, (Tài liệu dịch tham
khảo), Hà Nội.
52. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2013), Báo cáo khảo sát về
tăng độ tuổi của trẻ em, Hà Nội.
53. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010 - 2013), Báo cáo tổng
kết công tác thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2010,
2011, 2012, 2013, Hà Nội.
54. Tổ chức Lao động quốc tế (1973), Công ước quốc tế số 138 về độ tuổi lao
động tối thiểu.
55. Tổ chức Lao động quốc tế (1999), Công ước quốc tế số 182 về xóa bỏ các hình
thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.
56. Trường Cán bộ thanh tra (2012), Giáo trình Nghiệp vụ công tác thanh tra, Nxb
Giao thông vận tải, Hà Nội.
57. Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (1997), Việt Nam và các văn kiện quốc tế
về quyền trẻ em, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
58. Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (1998), Công tác thanh tra và việc phát
huy quyền trẻ em, (Tài liệu tham khảo nội bộ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
59. Nguyễn Khắc Viện (Chủ biên) (1994), Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà