nghiên cứu triết học để nâng cao năng lực cầm quyền của đảng trong điều kiện hiện nay - Pdf 12



Nghiên cứu triết học
ĐỂ NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẦM QUYỀN CỦA
ĐẢNG TRONG ĐIỀU
KIỆN HIỆN NAY

của Người là hoàn toàn đúng đắn, cả trong giai đoạn Đảng lãnh đạo giai cấp
công nhân và nhân dân lao động đấu tranh giành chính quyền cũng như trong
điều kiện Đảng Cộng sản đã trở thành một Đảng cầm quyền.
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, Đảng là tổ chức chính trị tiên tiến
và cách mạng, là lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam, là đại
biểu cho lợi ích của toàn thể nhân dân Việt Nam. Sự ra đời và bước lên vũ đài
chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đã chấm dứt giai đoạn khủng
hoảng đường lối của cách mạng nước ta; hơn thế, dưới sự rèn luyện trực tiếp
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam liên tục
giành được những thắng lợi to lớn: từ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách
mạng, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á đến phát động
các cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc;
từ sự lựa chọn và kiên trì giữ vững định hướng phát triển đất nước theo chủ
nghĩa xã hội đến chủ động tiến hành công cuộc đổi mới và tích cực tham gia
hội nhập quốc tế, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá cao, ổn định và liên tục trong nhiều năm được cộng đồng
thế giới đánh giá cao
Chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu vĩ đại mà Đảng và nhân dân ta
đã giành được. Những thành tựu đó là sự xác nhận của thực tiễn về năng lực
cầm quyền của Đảng; đồng thời, cũng là cơ sở để chúng ta đặt trọn niềm tin
vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, phải
thừa nhận rằng, so với trước đây, bối cảnh quốc tế và điều kiện lịch sử hiện
nay đã có những biến chuyển nhanh chóng: trật tự thế giới đang thay đổi do sự
sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, toàn cầu hoá và
hội nhập quốc tế trở thành một xu thế tất yếu, xu thế đối đầu được thay bằng
xu thế đối thoại và hợp tác giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, sự
bùng nổ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực lượng
sản xuất xã hội phát triển mạnh mẽ và hình thành nên giá đỡ cho sự hiện thực
hoá từng bước của kinh tế tri thức
Trong điều kiện như vậy, xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân và mục tiêu

học thuyết của các ông không phải là cái gì đó đã xong xuôi; trái lại, nó luôn
cần được bổ sung và phát triển. Vì thế, bên cạnh việc kiên định những nguyên
tắc và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
chúng ta cần tiếp thu có chọn lọc những giá trị tư tưởng của nhân loại, phù hợp
với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Đồng thời, cũng cần phải cảnh giác
tránh khuynh hướng nhân danh "đổi mới, cải tổ" đi đến phủ định những giá trị
của lý luận khoa học và cách mạng ấy - một sai lầm mà Đảng Cộng sản và
Công nhân ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã mắc phải nhưng
không thể sửa chữa và phải trả giá bằng sự mất đi vị thế đảng cầm quyền.
Tính khoa học còn thể hiện trong sự phân định chức năng của Đảng. Đảng
Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất thực hiện sự lãnh đạo toàn diện đối
với Nhà nước và toàn xã hội, không chia sẻ quyền lãnh đạo cho bất kỳ một lực
lượng chính trị nào khác. Đó là một vấn đề có tính nguyên tắc. Điều này góp
phần quan trọng trong việc tạo nên sự ổn định và thống nhất trong đời sống
chính trị của xã hội. Tuy nhiên, để vừa đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là tuyệt
đối, vừa thể hiện tính khoa học trong phương thức cầm quyền, cần thiết phải
có sự phân định rõ ràng chức năng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính
trị - xã hội khác trong hệ thống chính trị nước ta. Về vấn đề này, quan điểm
của Đảng đã được xác định một cách rõ ràng, đó là "Đảng lãnh đạo Nhà nước
bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá
thành Hiến pháp, pháp luật; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc
tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước;
trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản
lý đất nước và xã hội"(1). Như vậy, trong quan hệ với Nhà nước, chức năng
của Đảng là "lãnh đạo" và phát huy vai trò của Nhà nước, chứ không phải là
"bao biện, làm thay" Nhà nước hoặc các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, Đảng "không bao biện, làm thay" Nhà nước không
có nghĩa là Đảng phó mặc, không can dự vào công việc quản lý nhà nước.
Với tư cách Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo toàn diện
đối với xã hội thông qua đường lối, chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn

dân phải luôn được củng cố, bởi sức mạnh của Đảng chính là bắt nguồn từ sức
mạnh của quần chúng nhân dân. Đồng thời, dân chủ còn là một nguyên tắc
trong sự phát triển nội tại của Đảng. Tính chất này được thể hiện tập trung trên
hai khía cạnh: dân chủ trong sinh hoạt đảng và dân chủ trong phương thức
hoạt động của Đảng. Nhận thức sâu sắc vai trò của thực hành dân chủ đối với
một Đảng nắm trọng trách cầm quyền, Đảng ta đã xác định phải phát huy dân
chủ trong sinh hoạt đảng, từ chi bộ, cấp uỷ ở cơ sở đến Ban Chấp hành Trung
ương, trong công tác cán bộ cũng như trong việc xây dựng và hoàn thiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đương nhiên, thực hiện dân chủ
không có nghĩa là tự do vô kỷ luật, vô tổ chức; đồng thời, phải chống dân chủ
hình thức, dân chủ cực đoan hoặc mưu toan lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ,
mất đoàn kết Dân chủ phải gắn liền với pháp luật, kỷ cương để đảm bảo sự
lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, đảm bảo sự đồng thuận xã hội và mọi hoạt động
diễn ra một cách có tổ chức, cùng hướng tới mục tiêu chung vì "dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng phải kịp thời nắm bắt được tâm lý, nhu cầu và
nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân nhằm xây dựng những
chương trình hành động thiết thực, hợp "ý Đảng lòng dân"; từ đó, tập hợp và tổ
chức nhân dân thực hiện, đưa chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng vào cuộc sống, từng bước biến mục tiêu lý tưởng thành hiện thực
sinh động. Có thể nói, phát huy dân chủ chính là một biện pháp tích cực để
Đảng không những được củng cố và phát triển về mặt tổ chức, mà còn được
tăng cường về mặt trí tuệ - một phẩm chất quan trọng và cần thiết đối với
Đảng cầm quyền. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà tình hình thế giới có nhiều
diễn biến phức tạp, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường vừa có mặt tích cực, vừa
tiềm ẩn những mặt tiêu cực , thì nhân tố trí tuệ của Đảng cầm quyền càng trở
nên quan trọng hơn bao giờ hết. Như chúng ta đã thấy, toàn cầu hoá và kinh tế
thị trường mang lại những cơ hội thuận lợi, đồng thời đặt ra nhiều thách thức
đối với sự phát triển của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc có tận
dụng, tranh thủ được mặt tích cực, thuận lợi cũng như có tránh được nguy cơ

lớn của dân chủ đối với một Đảng giữ trọng trách đảng cầm quyền, nên trong
suốt quá trình lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh
rằng, trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm
chỉnh tự phê bình và phê bình.
Như vậy, thực hiện cầm quyền một cách dân chủ là phương thức để nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng Cộng sản; đồng thời, dân chủ hoá
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với tư cách Đảng cầm quyền và hạt nhân của
hệ thống chính trị lại là yếu tố căn bản, là tiền đề tiên quyết để thực hiện dân
chủ hoá toàn bộ đời sống xã hội - một khuynh hướng phát triển tích cực, tiến
bộ của xã hội hiện đại.
3. Cầm quyền theo pháp luật. Pháp luật, như chúng ta đã biết, là một hệ thống
các quy tắc xử sự chung do nhà nước - người đại diện cho toàn xã hội xây
dựng và ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội và được
bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước nhằm duy trì sự ổn
định và trật tự xã hội. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp
công nhân và toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Pháp luật còn là thước đo trong mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực, ví dụ
như quan hệ giữa đảng cầm quyền với các cơ quan nhà nước, giữa đảng cầm
quyền với các tổ chức xã hội. Với tư cách Đảng cầm quyền, thông qua đường
lối chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, nhân dân
chế định, xây dựng và thực thi một hệ thống pháp luật đúng đắn. Nói cách
khác, pháp luật thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng thành ý chí chung
của Nhà nước, của toàn xã hội.
Một đặc điểm quan trọng của pháp luật là tính bắt buộc chung, không có ngoại
lệ, đối với mọi người trong xã hội. Pháp luật thể hiện ý chí và quyền lực của
nhân dân, mà quyền lực của nhân là tối cao. Nghĩa là không có ai có thể đứng
trên pháp luật hoặc không có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện những quy định
của pháp luật khi chúng đang có hiệu lực. Sau khi pháp luật được ban hành,
mọi công dân và các đơn vị, tổ chức trong xã hội đều phải triệt để tuân thủ và
chấp hành nghiêm chỉnh. Do vậy, ngoài chức năng lãnh đạo Nhà nước và toàn

năng lực, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, vi phạm pháp luật
của Nhà nước. Sự thoái hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống;
tệ quan liêu, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên
diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi ; còn thiếu
những quy chế cụ thể bảo đảm phát huy dân chủ. Việc đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng (6).
Có thể nói, để làm tròn trọng trách lịch sử của mình trước dân tộc và nhân dân
trong điều kiện mới, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam là vấn đề đặc biệt quan trọng và cấp thiết. Thiết nghĩ, cầm quyền một
cách khoa học, cầm quyền một cách dân chủ và cầm quyền theo pháp luật là
những phẩm chất, đặc trưng nổi bật cần có, là yếu tố đảm bảo sự thành công
đối với một đảng giữ vai trò Đảng cầm quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam./.

(*) Tiến sĩ, Trưởng phòng Biên tập – Trị sự, Tạp chí Triết học, Viện Triết học,
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 51 - 52.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr. 282.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 45.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 21.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Sđd., tr.278.
(6) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.262 -272.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status