THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA VIETCOMBANK TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP - Pdf 73

1
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
VIETCOMBANK TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
2.1. Thực trạng về kinh tế Việt Nam trong thời gian vừa qua.
Ngày 31/12, Tổng cục Thống kê đã công bố số liệu thống kê kinh tế - xã
hội năm 2008. Theo Tổng cục thống kê, mặc dù năm 2008 kinh tế xã hội
nước ta diễn ra trong bối cảnh hình hình thế giới và trong nước có nhiều biến
động phức tạp khó lường song nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, quyết liệt
của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự nỗ lực cố gắng và chủ động khắc phục
khó khăn của các Bộ, Ngành, địa phương, các tập đoàn, doanh nghiệp, các cơ
sở sản xuất và của toàn dân nên kinh tế -xã hội nước ta năm 2008 từng bước
vượt qua khó khăn, thách thức, kinh tế có bước tăng trưởng khá, lạm phát
được kiềm chế, an sinh xã hội được bảo đảm, nhiều vấn đề xã hội bức xúc đã
tiếp tục được giải quyết có hiệu quả.
• Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính
tăng 6,23 so với năm 2007. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay
tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 và mục tiêu kế hoạch điều
chỉnh là tăng 7% nhưng trong bối cảnh tài chính thế giới khủng hoảng kinh tế
của nhiều nước suy giảm mà nền kinh tế nước ta vẫn đạt tốc độ tăng tương
đối cao như trên là một cố gắng rất lớn.
• Giá tiêu dùng năm 2008 diễn biến phức tạp, khác thường so với xu hướng giá
tiêu dùng các năm trước. Giá tăng cao ngay từ quý I và liên tục tăng lên trong
quý II, III những các tháng quý IV liên tục giảm. Nhưng nhìn chung giá tiêu
dùng vẫn ở mức cao, giá tiêu dùng tháng 12/2008 so với 12/2007 tăng 19,89%
và giá tiêu dùng bình quân năm 2008 so với năm 2007 tăng 22,97%.
• Tổng thu chi ngân sách Nhà nước năm 2008 tăng 22,3% so với năm 2007 và
bằng 118,9% dự toán năm. Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2008 bằng
2
97,5% mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm.
• Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2008 theo giá thực tế đạt 637,3 nghìn tỷ
đồng, bằng 43,1%GDP và tăng 22,2% so với năm 2007. Vốn đầu tư trực tiếp

và các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm...), thanh toán quốc
tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước
ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện
trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ)... Ngoài ra, VCB còn tham mưu cho
Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý
quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các
nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính
phủ, Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập
lại VCB theo mô hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số
90/QĐ-TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ.
NHTMCP Ngoại Thương là ngân hàng cổ phần được thành lập sau khi
cổ phần hóa, chuyển đổi Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam từ Ngân hàng
thương mại Nhà nước sang Ngân hàng thương mại cổ phần theo quyết định số
138/GP-NHNN ngày 23 thàng 5 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần số 0103024468
ngày 2 tháng 6 năm 2008.
Ngân hàng được thành lập nhằm thực hiện các giao dịch ngân hàng bao
gồm huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức
và cá nhân; cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân
trên cơ sở tính chất và khả năng nguồn vốn của ngân hàng; thực hiện các
4
nghiệp vụ thanh toán và ngân quỹ và các dịch vụ ngân hàng khác được
NHNN cho phép.
VCB có trụ sở chính đặt tại số 198 Trần Quang Khải – Quận Hoàn Kiếm
– Hà Nội. Tính đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2008, ngân hàng có 1 Hội sở
chính, 1 Sở Giao dịch, 60 chi nhánh các tỉnh và thành phố trên cả nước, 1
Trung tâm đào tạo, 2 công ty con ở trong nước, 1 công ty con ở nước ngoài, 4
công ty liên doanh, 3 công ty liên kết và 1 văn phòng đại diện tại Singapore.
Tổng số cán bộ thực tế đến ngày 31/12/2008 là 8.994 người.

(1) Công tác huy động vốn.
Ngay từ khi mới thành lập, Vietcombank luôn xác định công tác huy động
vốn là 1 nhiệm vụ chiến lược quan trọng, thường xuyên và lâu dài trong hệ
thống chiến lược kinh doanh của mình. Chính vì thế những năm gần đây ngân
hàng luôn làm tốt công tác huy động vốn, thực hiện vượt mức kế hoạch đề ra
đối với Vietcombank đảm bảo cung cấp 1 nguồn vốn dồi dào, chủ động đáp
ứng nhu cầu vốn của ngân hàng. Hơn thế nữa, còn là nguồn cung ứng vốn
điều hòa thường xuyên và ổn định, góp phần nâng cao khả năng luân chuyển
và điều hòa vốn cho cả hệ thống ngân hàng Việt Nam. VCB đã sử dụng nhiều
hình thức huy động vốn như: huy động tiền gửi của dân cư bao gồm tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi của tổ chức kinh tế bằng cả VNĐ
và ngoại tệ, kết hợp việc ph công cụ nợ mà chủ yếu là kỳ phiếu với các mức
lãi suất cạnh tranh. Nhờ thế, VCB đã không ngừng tăng vốn của mình về cả
quy mô lẫn chất lượng.
6
Hiện nay, Vietcombank đã thực hiện huy động vốn tiền gửi tiết kiệm bằng cả
VNĐ và ngoại tệ dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn. Đây vẫn được
coi là hình thức huy động truyền thống và chủ yếu đối với ngân hàng, kết hợp việc
áp dụng một chính sách lãi suất huy động linh hoạt và phù hợp với từng thời kỳ,
chia thành nhiều kỳ hạn khác nhau phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng, đưa ra
các phương thức huy động mới, không ngừng tiếp thị, củng cố nâng cao uy tín,
hình ảnh của mình trên thị trường trong nước. Ngân hàng đã tạo được niềm tin đối
với công chúng gửi tiền, biểu hiện là vốn tiền gửi của dân cư không ngừng tăng
lên. Điều này được thể hiện tại phụ lục 2.4 và phụ lục 2.5.
Năm 2005: tổng tiền gửi của khách hàng là 107.722.420 triệu đồng.
Năm 2006: 121.500.342 triệu đồng, tăng 13.777.922 triệu đồng (≈+12,79%).
Năm 2007: 155.252.092 triệu đồng, tăng 33.751.750 triệu đồng (≈+22,78%).
Năm 2008: 176.032.870 triệu đồng, tăng 20.780.778 triệu đồng (≈+13,39%).
Theo số liệu phụ lục 2.4, ta thấy nguồn vốn huy động của Vietcombank vẫn
tiếp tục tăng trưởng trong những năm gần đây với mức tăng trưởng khá cao: năm

Trên 12
tháng
Trần lãi suất 7,0% 8,0% 7,8% 8,0%
Tùy theo tình hình lãi suất trên địa bàn, mà HSC/SGD/Chi nhánh được phép
công bố và thỏa thuận mức lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng bằng
đồng Việt Nam của tổ chức kinh tế và dân cư cao hơn mức lãi suất nêu trên, song
không cao hơn lãi suất của các ngân hàng lớn trên cùng địa bàn. Và yêu cầu các chi
nhánh lưu ý rà soát các hợp đồng có lãi suất huy động từ 12,75%/năm trở lên để
đàm phán với khách hàng nhằm điều chỉnh giảm lãi suất huy động theo nguyên tắc
linh hoạt vừa duy trì được mối quan hệ tiên gửi với khách hàng vừa đảm bảo chi
phí huy động hợp lý. Có lẽ chính vì thế mà Vietcombank vào năm 2008 vẫn giữ
một khối lượng lớn tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng mình.
 Xét về tỷ trọng nguồn vốn tiền gửi theo nguồn huy động.
8
Năm 2005, tiền gửi tiết kiệm chiếm 96,04% trong tổng vốn huy động.
Trong đó, tiền gửi của dân cư chiếm 91,47%, còn của tổ chức tín dụng chiếm
4,57%.
Năm 2006, tiền gửi tiết kiệm chiếm 93,26% trong tổng vốn huy động. Trong
đó, tiền gửi của dân cư giảm xuống 83,92%, còn của tổ chức tín dụng tăng lên
9,34%.
Năm 2007, tiền gửi tiết kiệm chiếm 97,97% trong tổng vốn huy động. Trong
đó, tiền gửi của dân cư lại giảm còn 86,65%, của tổ chức tín dụng tăng 11,32%.
Năm 2008, tiền gửi tiết kiệm chiếm 98,36% trong tổng vốn huy động. Trong
đó, tiền gửi của dân cư tiếp tục giảm 86,08%, còn của tổ chức tín dụng tiếp tục
tăng lên 12,28%.
Như vậy, trong cơ cấu tiền gửi tiết kiệm xét về tiền gửi huy động theo thành
phần kinh tế thì tiền gửi của dân cư chiếm đại đa số nguồn vốn huy động của ngân
hàng, còn nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế khác chỉ chiếm một phần nhỏ.
Tuy nhiên, tỷ trọng của nguồn vốn huy động từ dân cư đang ngày một giảm đi và
nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế ngày một tăng lên ( Năm 2005: 4,57%,

tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn qua các năm và có xu hướng giảm dần. Chỉ
riêng có năm 2006, năm mà thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển một
cách thăng hoa nhất, thì hòa chung với thời cuộc, Vietcombank cũng huy động
nguồn vốn từ dân cư bằng việc phát hành các giấy tờ có giá. Và chính vì vậy, lý
giải tại sao năm 2006, việc huy động nguồn vốn từ việc phát hành giấy tờ có giá lại
tăng mạnh. Năm 2006, huy động nguồn vốn từ việc phát hành giấy tờ có giá lên
đến: 8.778.783 triệu đồng, tăng 4.340.757 triệu đồng (≈+97,81%). Việc tăng này
10
chủ yếu là do Vietcombank phát hành chứng chỉ tiền gửi ( tăng 4.775.965 triệu
đồng ≈+415,58%) và trái phiếu tăng vốn ( tăng 49.049 triệu đồng ≈+3,7%), tuy
nhiên việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu lại giảm ( giảm -484.257 triệu đồng ≈-
24,65%).
Ngoài năm 2007, thì nguồn vốn huy động bằng hình thức này của
Vietcombank qua các năm có xu hướng giảm dần ( Năm 2005: 4.438.026 triệu
đồng, 2007: 3.221.058 triệu đồng, 2008: 2.922.013 triệu đồng). Dấu hiệu này cho
thấy, huy động bằng kỳ phiếu và trái phiếu giẩm đáng kể, do trong năm,
Vietcombank đã giao chỉ tiêu cho HSC/SGD/ chi nhánh giảm nhiều việc huy động
bằng hình thức này so với năm trước, giảm vốn huy động bằng phát hành công cụ
nợ ngắn hạn là kỳ phiếu với chi phí sử dụng vốn cao, và phải nhằm thực hiện
những mục đích cụ thể, có kế hoạch rõ ràng.
Như vây, nhìn chung qua thực tế có thể thấy dầu hiệu đáng mừng là nguồn
vốn của Vietcombank tăng trưởng khá nhanh và ổn định, phần nào cho thấy khả
năng tài chính của ngân hàng đã được nâng cao. Tuy vậy, xét một cách tổng thể thì
năng lực tài chính của Vietcombank mặc dù có hơn rất nhiều các ngân hàng trong
nước, nhưng so với thị trường ngoài nước năng lực tài chính của Vietcombank vẫn
còn rất nhỏ bé và nhiều hạn chế. Dù sao đi nữa, việc cố gắng mở rộng quy mô vốn
huy động của Vietcombank như vậy cũng là một cố gắng không nhỏ.
(2) Quy mô vốn vay
Nguồn vốn vay của Vietcombank thấp hơn nhiều so với quy mô vốn huy động
của mình, bởi Vietcombank thực hiện mở rộng quy mô vốn huy động thay vì đi

3
Đặc biệt trong năm 2007, nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác là 0
đồng, làm tổng nguồn vốn vay chỉ còn 12.685.256 triệu đồng.
Nguồn vốn vay của Vietcobank huy động không đồng đều qua các năm (phụ
lục 2.8), có năm thì huy động mạnh như năm 2006, tổng nguồn vốn vay là
19.249.065 triệu đồng, tăng 16.626.207 triệu đồng (≈+633,9%). Và nguồn vay này
tăng chủ yếu là do tăng do các khoản nợ Chính phủ và NHNN tăng: 16.609.757
triệu đồng (≈+9675,34%).
Sang đến năm 2007 và 2008 thì việc huy động vốn vay lại giảm mạnh so với
năm 2006. Năm 2007 giảm -6.563.809 triệu đồng (≈-34,1%), năm 2008 tăng nhẹ
1.074.627 triệu đồng (≈+8,47%). Các khoản nợ Chính phủ và NHNN qua 2 năm
2007-2008 đều giảm, còn nguồn vốn vay các tổ chức tín dụng năm 2007 giảm
mạnh giảm 100% do không thực hiện vay mượn các tổ chức tín dụng trong năm
nay, và đến năm 2008 lại thực hiện vay mượn lại các tổ chức tín dụng khác nên đã
là nguồn vốn vay tăng nhẹ 8,47%. Vietcombank đã không thực hiện vay vốn từ các
tổ chức hay NHNN mà với quy mô vốn huy động dồi dào của mình, ngân hàng đã
hoạt động kinh doanh, không phải chịu áp lực trả lãi vốn vay, tăng hiệu quả kinh
doanh của mình.
12
Tuy nhiên, với tình hình vốn vay không đồng đều qua các năm của VCB, ta
có thể thấy rằng việc định hướng cho chiến lược kinh doanh của VCB trong việc
vay vốn không được chú trọng lắm. Việc vay vốn được hay không VCB có vẻ như
không thực hiện được theo kế hoạch định ra, mà mang tính chất chiến thuật. Do
vậy mà những con số thể hiện chênh lệch vốn vay của VCB mới không đông đều
như vậy. Chắc hẳn không bao giờ VCB lại đặt ra một kế hoạch dài hạn cho cơ cấu
vốn của mình một cách không đồng đều như vậy.
(3) Quy mô vốn tự có.
Thực tế, các ngân hàng Việt Nam hiện nay có quy mô vốn nhỏ và tỷ lệ an
toàn vốn thấp đang là một điểm yếu của hệ thống ngân hàng. Số liệu thu thập đến
năm 2006 cho thấy, khối NHTM Nhà nước có vốn điều lệ cao nhất, đứng đầu là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status