LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
em. Các số liệu và tài liệu sử dụng trong khóa luận là trung thực
và có nguồn dẫn cụ thể, các kết luận trong khóa luận là kết quả
của quá trình nghiên cứu một cách nghiêm túc của em.
Sinh viên
Ngô Thuỳ Dung
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT
XHCN Xã hội chủ nghĩa
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng Trung Ương
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHVN Ngân hàng Việt Nam
NHNT, VCB Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
KH Khách hàng
KHKT Khoa học kỹ thuật
BIS Ngân hàng thanh toán quốc tế
CAR Capital Adequacy Ratio: Hệ số đủ vốn
ROA Tỷ suất lợi nhuận/ tổng tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận/ vốn chủ sở hữu
ROAA Tỷ suất lợi nhuận/ Tổng tài sản bình quân
ROEA Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn chủ sở hữu bình quân
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
AMC Asset management company: Công ty quản lý tài sản
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Cheabol Tập đoàn kinh tế lớn
TS Tài sản
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
Hệ thống NHTM VN cũng không nằm ngoài bối cảnh này. Không thể có
một NHTM khoẻ mạnh trong một nền kinh tế còn nhiều vấn đề. Hiệu quả của
hoạt động ngân hàng phản ánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, của
nền kinh tế. Chính vì vậy mà thách thức lớn của nền kinh tế Việt Nam trong
hội nhập kinh tế quốc tế, trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư... cũng
1
chính là những thách thức của ngành ngân hàng, của hệ thống NHTM - "kênh
truyền dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế".
Nhận thức được tính cấp thiết đó, trong thời gian thực tập tại Sở giao
dịch chính của Vietcombank tại 31- 33 Ngô Quyền, em đã cố gắng tìm hiểu
thực tiễn hoạt động của ngân hàng thông qua phân tích tình hình tài chính của
VCB trong thời gian gần đây nhằm tìm hiểu những giải pháp nhu cầu năng
lực tài chính cho VCB trong điều kiện hội nhập. Vì vậy, em chọn đề tài: “
Giải pháp nhu cầu năng lực tài chính cho Vietcombank trong điều kiện hội
nhập” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tài chính của NHTM.
Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm
việc vận dụng phương pháp tư duy lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu của khoa học quản lý kinh tế - tài
chính như phương pháp thống kê chọn lọc, đối chiếu so sánh từ đó tổng hợp
và phân tích đối tượng cần nghiên cứu.
4. Kết cấu.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, khóa luận có bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về năng lực tài chính của
ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng về năng lực tài chính của Vietcombank trong
điều kiện hội nhập.
nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và dịch vụ thanh toán.
1.1.2. Chức năng và vai trò của NHTM.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa, NHTM thực hiện các chức năng sau:
Chức năng là trung gian tín dụng.
Đây là chức năng cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong việc thúc đẩy nên kinh tế hàng hóa phát triển. Thực hiện chức
năng này, NHTM thực sự là “cầu nối” giữa những người có tiền nhàn rỗi
muốn cho vay với những người thiếu vốn cần vay. NHTM góp phần tạo lợi
ích công bằng cho cả 3 bên trong quan hệ: Người gửi tiền, Ngân hàng và
người vay tiền.
Đối với người gửi tiền: Phát huy tối đa hiệu suất sinh lời từ đồng vốn
tạm thời nhàn rỗi hay nhận được các phương tiện thanh toán tiện ích,
an toàn từ ngân hàng.
Đối với NHTM: Sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi
suất cho vay, lãi suất huy động hay hoa hồng môi giới.
Đối với người vay: Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh
doanh, chi tiêu hay thanh toán.
Khi thực hiện chức năng làm trung gian tín dụng, NHTM đa huy động
triệt để các vốn nhàn rỗi, điều hòa từ nơi thừa đến nơi thiếu. Kích thích quá
trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất của
các doanh nghiệp.
Chức năng làm trung gian thanh toán.
4
Những người có
đồng tiền nhàn
rỗi
NHTM
Những người
cần vốn
Nhận tiền
Khi NHTM cho vay hoặc mua chứng khoán trong dân chúng thì NHTM
5
mở rộng thu hút tiền gửi và nhờ hoạt động trong hệ thống mà các NHTM đã
tạo ra bút tệ. Một NHTM đơn độc không thể mở rộng tiền gửi mà chỉ cho vay
trong số tiền dự trữ của mình. Vì vậy nghiệp vụ tạo tiền chỉ thực hiện thông
qua hợp đồng của toàn hệ thống.
Nghiệp vụ tạo tiền của NHTM có ý nghĩa toàn diện khá to lớn. Các
khoản tiền mới tạo ra thật sự thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở
nguồn vốn mới tạo ra, không phải trên cơ sở nguồn vốn tiền gửi ban đầu.
Chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia.
Hệ thống NHTM mặc dù mang tính chất độc lập nhưng nó luôn luôn
chịu sự quản lý chặt chẽ của NHTƯ về mọi mặt. Đặc biệt NHTM phải luôn
tuân theo các quyết định của NHTƯ về việc thực thi chính sách tiền tệ.
Để ổn định giá trị của đồng tiền về mặt đối nội và đối ngoại, lượng
tiền cung ứng cho lưu thông phải phù hợp với giá trị hàng hóa lưu
thông. để làm được điều này NHTƯ sử dụng các công cụ của chính
sách tiền tệ để điều hòa khối lượng tiền tệ trong lưu thông và bắt buộc
các NHTM phải chấp hành. Như vậy NHTM là chủ thể đóng vai trò
quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ .
Để gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, tín dụng phát ra từ các NHTM
phải mang lại hiệu quả, việc thu hút vốn nươc ngoài thông qua các
ngân hàng thương mại cũng phải được sử dụng đúng mục đích, yêu
cầu của nền kinh tế...
Tín dụng NHTM trên cơ sở cho vay mở rộng sản xuất, phát triển
ngành nghề, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần
thực hiện các mục tiêu và chính sách xã hội cho Nhà nước.
Từ 4 chức năng chủ yếu trên của NHTM, ta rút ra được vai trò của
NHTM như sau:
☻ NHTM là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
6
hữu của ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn của ngân hàng (khoảng dưới 10%) song lại là điều kiện pháp ký
bắt buộc đối với 1 ngân hàng khi mới thành lập, vì vốn tự có là yếu tố
quyết định sức mạnh tài chính của 1 ngân hàng. Một mặt, vốn tự có là
cơ sở để ngân hàng tiến hành mọi hoạt động kinh doanh. Mặt khác,
nó được coi là “tấm đệm chốn đỡ rủi ro” khi ngân hàng gặp khó khăn
đặc biệt là nguy cơ mất khả năng thanh toán có thể dẫn ngân hàng tới
phá sản.
Vốn tự có bao gồm:
Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng
do pháp luật quy định.
Vốn điều lệ: là vốn do cổ đông đóng góp và được ghi vào trong điều
lệ hoạt động của ngân hàng và theo quy định phải bằng vốn pháp
định.
Vốn tự có bổ sung: vốn tự có của các NHTM không ngừng tăng lên
theo thời gian thông qua nguồn vốn bổ sung gồm:
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Với mục đích tăng cường vốn điều lệ
ban đầu, là vốn được trích từ lợi nhuận hàng năm để bổ sung vốn
pháp định. Luật của Việt Nam quy định hàng năm phải tính 5% lợi
nhuận ròng để lập quỹ này, còn mức tối đa do NHTƯ quy định.
Quỹ dự trữ đặc biệt: Dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt
động kinh doanh của ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Đây cũng
là loại vốn được tính từ lợi nhuận để bù đắp rủi ro trong quá trình
hoạt động. Hàng năm ngân hàng phải trích 10% trên lợi nhuận ròng
cho tới khi bằng vốn pháp định.
8
Ngoài các quỹ trên, còn có phần lợi nhuận được phân bổ hay các quỹ
nghiệp vụ khác như: quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ phúc
lợi, khen thưởng, khấu hao…
Một ngân hàng có vốn tự có lớn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, bởi
Nhận tiền gửi của cá nhân hay tổ chức và phát hành các công cụ nợ.
Quy mô vốn huy động thể hiện khả năng huy động của ngân hàng,
khối lượng vốn được ngân hàng sử dụng để kinh doanh, đầu tư. Một
ngân hàng có thể huy động được 1 khối lượng vốn lớn, dễ dàng, trong
1 thời gian ngằn hẳn ngân hàng đó phải có 1 tiềm lực tài chính đủ
mạnh, có uy tín và có khả năng ảnh hưởng lớn tới thị trường. Nhìn
vào quy mô vốn huy động, khách hàng phần nào thấy được quy mô
hoạt động của ngân hàng, đánh giá được phần nào uy tín và hình ảnh
về ngân hàng. Vốn huy động là vốn chính để ngân hàng tiến hành
kinh doanh, thực hiện cho vay và đầu tư trên thị trường tài chính để
kiếm lời. Chính vì thế, quy mô vốn huy động quyết định quy mô hoạt
động tín dụng, quy mô hoạt động đầu tư, tạo điều kiện gia tăng lợi
nhuận, bổ sung vốn tự có, góp phần củng cố và nâng cao năng lực tài
chính của ngân hàng.
c) Quy mô vốn đi vay.
Vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa NHTM và NHTƯ, hay giữa
các NHTM với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác. Các NHTM
sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi ngân hàng
đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ hoạt động. Nói cách
khác là ngân hàng tạm thời thiếu vốn khả dụng.
10
Quy mô vốn vay thể hiện khả năng vay vốn của ngân hàng, nó cũng
phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng bởi 1 ngân hàng mạnh có
thể chủ đọng vay được 1 khối lượng vốn cần thiết, dễ dàng hơn so với
các ngân hàng khác có năng lực tài chính yếu, từ đó có thể tận dụng
vốn đó để nắm bắt thời cơ kinh doanh hay đáp ứng nhu cầu vốn khả
dụng trong thanh toán, phòng ngừa rủi ro.
d) Quy mô vốn khác.
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo được 1
khoản vốn trong thanh toán: Vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài
Thông thường khi nhắc đến CAR, hệ số này được hiểu là CAR loại II. Tỷ lệ
này đã chỉ cho chúng ta thấy quy mô vốn chủ sở hữu của các ngân hàng càng
nhỏ thì càng hạn chế hoạt động các ngân hàng. Nếu các ngân hàng có quy mô
nguồn vốn nhỏ mà vẫn mở rộng hoạt động của mình đến mức làm cho hệ số
CAR bị thấp hơn mức tối thiểu thì rủi ro đối với hoạt động của ngân hàng sẽ
là rất lớn. Đây cũng chính là thực tế mà các NHTM Việt Nam đã phải đối mặt
trong suốt những năm qua. Việc tăng cường năng lực tài chính của các
NHTMNN Việt Nam để đáp ứng được yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn cũng như
để nâng cao năng lực cạnh tranh là 1 việc làm không hề đơn giản. Nó đòi hỏi
1 khối lượng vốn đầu tư khổng lồ so với tiềm lực tài chính còn rất hạn hẹp
của nền kinh tế Việt Nam.
g) Vòng quay của vốn:
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của các ngân
hàng là do năng lực quản trị tài chính hạn chế, đặc biệt trong việc hoạch định
nguồn tài trợ dài hạn và quản trị vốn ngắn hạn, thể hiện qua tình trạng thiếu
vốn, mất tính thanh khoản.
12
Vòng quay của vốn =
Vòng quay vốn càng cao thê hiện tốc độ luân chuyển vốn càng cao, hiệu
quả sử dụng vốn là tốt. Ngược lại, vòng quay vốn thấp chứng tỏ khả năng
luôn chuyển vốn chậm, ngân hàng sử dụng vốn không hiệu quả.
Khi được so sánh trong một khoảng thời gian, nó sẽ cho biết mức độ
ngân hàng có thể phát triển mà không cần phải đầu tư thêm vốn. Nhìn chung,
ngân hàng có biên lợi nhuận cao thì có vốn quay vòng thấp và ngược lại. Nó
còn được gọi là quay vòng vốn cổ đông (Equity Turnover).
1.2.2.2. Khả năng sinh lời.
Khả năng sinh lợi (profitability): là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều
kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng
sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng
sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện
vốn chủ sở hữu (ROE)…
Doanh số, cơ cấu cho vay và đầu tư: Đây là những chỉ tiếu phản ánh
tình hình, quy mô, khả năng cung ứng tín dụng đối với nền kinh tế, hiệu
quả sử dụng vốn của ngân hàng, từ đó quyết định kết quả kinh doanh, lợi
nhuận của ngân hàng. Một cơ cấu danh mục đầu tư và cho vay hợp lý và
bảo đảm an toàn giúp ngân hàng sử dụng có hiệu quả tối đa khối lượng vốn
khả dụng của mình.
Một ngân hàng có các chỉ tiêu thu nhập, lợi nhuận cao là cơ sở tốt để
ngân hàng nâng cao năng lực tài chính của mình, đảm bảo nền tảng vững chắc
và những điều kiện tốt nhất để ngân hàng phát triển và mở rộng quy mô trong
tương lai. Nếu ROA là thông số đo lường tính hiệu quả của quản lý, nó chỉ ra
khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng là tốt hay yếu kém trong quá trình
chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng thì ROE lại chỉ ra hiệu quả
14
sử dụng của 1 đồng vốn tự có có khả năng mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
cho ngân hàng, biểu thị tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông là cao hay thấp, có đủ
hấp dẫn các nhà đầu tư hay không?
1.2.2.3. Khả năng xử lý nợ đọng, nợ xấu ( nợ quá hạn, nợ khó đòi)
Khái niệm nợ xấu:
Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân
hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau:
“Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn),
nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).”
Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc
trên 90 ngày, đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các
ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch
toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Như vậy nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày và
khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa của VAS.
Còn theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc,
pháp luật, khoa học công nghệ… Đây được coi là nhân tố vĩ mô tác động gián
tiếp và có ảnh hưởng lớn đối với không chỉ riêng hoạt động của ngân hàng mà
tới toàn bộ mọi hoạt động của đời sống xã hội. Bất kỳ một sự thay đổi nào dù
là nhỏ nhất của môi trường này đều ít nhiều làm thay đổi hoạt động sản xuất
kinh doanh của nền kinh tế nói chung và đặc biệt là hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng nói riêng. Nó có thể mở ra những cơ hội đàu tư, kinh doanh,
tìm kiếm và gia tăng lợi nhuận, từ đó tạo cơ hội, điều kiện củng cố năng lực
tài chính, nâng cao vị thế cạnh tranh. Nhưng ngược lại môi trường khách quan
cũng hàm chứa rất nhiều rủi ro có thể làm tổn hại đến ngân hàng, thậm chí có
16
thể dẫn tới mất khả năng tài chính và buộc phải phá sản. Với ảnh hưởng quan
trọng như vậy đòi hỏi đặt ra với các ngân hàng là luôn luôn phải cập nhật,
nắm bắt kịp thời những thay đổi của các nhân tố khách quan để có thể chủ
động nắm bắt cơ hội hay đương đầu với rủi ro bằng chính khả năng của mình.
Nhân tố chủ quan: Đó chính là những yếu tố thuộc về bản thân ngân
hàng như trình độ tổ chức quản lý của đội ngũ nhà quản trị, chính sách, chiến
lược, cơ sở vật chất công nghệ, chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng, trình
độ và năng lực của đội ngũ nhân viên… của mỗi ngân hàng. Đây là những
nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp nhất, đóng vai trò quyết định đến kết quả hoạt
động kinh doanh, năng lực tài chính của ngân hàng. Bởi để kinh doanh tiền tệ
trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay ngoài các yếu tố “thiên thời
địa lợi” các ngân hàng còn cần phải có cho mình các yếu tố nhân lực, tài lực
và vật lực làm cơ sở tiền đề cũng như là đòn bẩy, lợi thế cạnh tranh để có thể
tồn tại, phát triển ổn định và bền vững. Vì thế để có một năng lực tài chính đủ
mạnh và không ngừng phát triển thì nhiệm vụ của mỗi một ngân hàng là phát
huy hết khả năng, sức mạnh về tài chính, công nghệ, và đặc biệt là nhân tố
con người về ý thức, vai trò của sự cần thiết phải củng cố và nâng cao hơn
nữa năng lực tài chính của ngân hàng.
1.2.4. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính.
NHTM là một loại hình tổ chức kinh doanh, một trung gian tài chính có
vụ trung tâm. Vì vậy môi trường hòa bình, hợp tác khu vực và quốc tế là vô
cùng quan trọng để thực hiện nhiệm vụ công nhiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước. Môi trường đó tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và
phát triển kinh tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo thế và lực cho nền kinh tế nước ta trên
18
thị trường quốc tế. Gia nhập tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế tạo vị thế
bình đẳng của nước ta với các nước trong tổ chức, từ đóng góp tiếng nói xây
dựng luật chơi chung đến việc hưởng quyền lợi của 1 thành viên và tham gia
giải quyết các tranh chấp thương mại theo nguyên tắc chung không phân biệt
đối xử.
Thúc đẩy đất nước đẩy mạnh đổi mới, hình thành đầy đủ, đồng bộ và
nhanh chóng hệ thống thể chế và luật pháp minh bạch, công khai, để dự đoán
về kinh tế thị trường.
Cơ hội phát triển kinh tế, nhất là mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút
đầu tư nước ngoài. Hội nhập, mở cửa thị trường, giảm thuế, dỡ bỏ hàng rào
phi thuế quan, tăng cường tiếp cân thị trường quốc tế là cơ hội để đẩy mạnh
xuất nhập khẩu.
Tiếp thu khoa học – công nghệ, kỹ năng quản lý và kinh doanh, góp
phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động,
sáng tạo.
Hội nhập cũng tạo ra cơ hội để chúng ta cải cách hệ thống giáo dục,
chiến lược đào tạo nhân lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đào tạo nhân
lực cho nền kinh tế mới. Hội nhập với nền kinh tế thị trường cũng tạo điều
kiện cho đào tạo và sử dụng nhân tài, có môi trường cho nhân tài phát triển.
Mọi nền kinh tế suy cho cùng sự hưng thịnh đều phụ thuộc chủ yếu vào nhân
tố con người. Vì vậy việc đào tạo và sử dụng nhân lực nhân tài có ý nghĩa
quyết định trong phát triển kinh tế của đất nước.
Thách thức.
Hội nhập tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức lớn