LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
em. Các số liệu và tài liệu sử dụng trong khóa luận là trung thực
và có nguồn dẫn cụ thể, các kết luận trong khóa luận là kết quả
của quá trình nghiên cứu một cách nghiêm túc của em.
Sinh viên
Ngô Thuỳ Dung
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT
XHCN Xã hội chủ nghĩa
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng Trung Ương
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHVN Ngân hàng Việt Nam
NHNT, VCB Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
KH Khách hàng
KHKT Khoa học kỹ thuật
BIS Ngân hàng thanh toán quốc tế
CAR Capital Adequacy Ratio: Hệ số đủ vốn
ROA Tỷ suất lợi nhuận/ tổng tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận/ vốn chủ sở hữu
ROAA Tỷ suất lợi nhuận/ Tổng tài sản bình quân
ROEA Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn chủ sở hữu bình quân
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
AMC Asset management company: Công ty quản lý tài sản
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Cheabol Tập đoàn kinh tế lớn
TS Tài sản
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
WB Ngân hàng thế giới
hoạt động ngân hàng phản ánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, của
nền kinh tế. Chính vì vậy mà thách thức lớn của nền kinh tế Việt Nam trong
hội nhập kinh tế quốc tế, trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư... cũng
1
chính là những thách thức của ngành ngân hàng, của hệ thống NHTM - "kênh
truyền dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế".
Nhận thức được tính cấp thiết đó, trong thời gian thực tập tại Sở giao
dịch chính của Vietcombank tại 31- 33 Ngô Quyền, em đã cố gắng tìm hiểu
thực tiễn hoạt động của ngân hàng thông qua phân tích tình hình tài chính của
VCB trong thời gian gần đây nhằm tìm hiểu những giải pháp nhu cầu năng
lực tài chính cho VCB trong điều kiện hội nhập. Vì vậy, em chọn đề tài: “
Giải pháp nhu cầu năng lực tài chính cho Vietcombank trong điều kiện hội
nhập” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tài chính của NHTM.
Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm
việc vận dụng phương pháp tư duy lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu của khoa học quản lý kinh tế - tài
chính như phương pháp thống kê chọn lọc, đối chiếu so sánh từ đó tổng hợp
và phân tích đối tượng cần nghiên cứu.
4. Kết cấu.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, khóa luận có bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về năng lực tài chính của
ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng về năng lực tài chính của Vietcombank trong
điều kiện hội nhập.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Vietcombank
trong điều kiện hội nhập.
Chức năng là trung gian tín dụng.
Đây là chức năng cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong việc thúc đẩy nên kinh tế hàng hóa phát triển. Thực hiện chức
năng này, NHTM thực sự là “cầu nối” giữa những người có tiền nhàn rỗi
muốn cho vay với những người thiếu vốn cần vay. NHTM góp phần tạo lợi
ích công bằng cho cả 3 bên trong quan hệ: Người gửi tiền, Ngân hàng và
người vay tiền.
Đối với người gửi tiền: Phát huy tối đa hiệu suất sinh lời từ đồng vốn
tạm thời nhàn rỗi hay nhận được các phương tiện thanh toán tiện ích, an toàn
từ ngân hàng.
Đối với NHTM: Sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi
suất cho vay, lãi suất huy động hay hoa hồng môi giới.
Đối với người vay: Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh
doanh, chi tiêu hay thanh toán.
Khi thực hiện chức năng làm trung gian tín dụng, NHTM đa huy động
triệt để các vốn nhàn rỗi, điều hòa từ nơi thừa đến nơi thiếu. Kích thích quá
trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất của
các doanh nghiệp.
Chức năng làm trung gian thanh toán.
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán NHTM cung cấp các phương
4
Những người có
đồng tiền nhàn
rỗi
NHTM Những người
cần vốn
Nhận tiền
gửi, ủy thác
đầu tư…
Cho vay,
trong số tiền dự trữ của mình. Vì vậy nghiệp vụ tạo tiền chỉ thực hiện thông
qua hợp đồng của toàn hệ thống.
Nghiệp vụ tạo tiền của NHTM có ý nghĩa toàn diện khá to lớn. Các
khoản tiền mới tạo ra thật sự thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở
nguồn vốn mới tạo ra, không phải trên cơ sở nguồn vốn tiền gửi ban đầu.
Chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia.
Hệ thống NHTM mặc dù mang tính chất độc lập nhưng nó luôn luôn
chịu sự quản lý chặt chẽ của NHTƯ về mọi mặt. Đặc biệt NHTM phải luôn
tuân theo các quyết định của NHTƯ về việc thực thi chính sách tiền tệ.
Để ổn định giá trị của đồng tiền về mặt đối nội và đối ngoại, lượng
tiền cung ứng cho lưu thông phải phù hợp với giá trị hàng hóa lưu thông. để
làm được điều này NHTƯ sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để điều
hòa khối lượng tiền tệ trong lưu thông và bắt buộc các NHTM phải chấp
hành. Như vậy NHTM là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực
hiện chính sách tiền tệ .
Để gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, tín dụng phát ra từ các NHTM
phải mang lại hiệu quả, việc thu hút vốn nươc ngoài thông qua các ngân hàng
thương mại cũng phải được sử dụng đúng mục đích, yêu cầu của nền kinh tế...
Tín dụng NHTM trên cơ sở cho vay mở rộng sản xuất, phát triển
ngành nghề, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện
các mục tiêu và chính sách xã hội cho Nhà nước.
Từ 4 chức năng chủ yếu trên của NHTM, ta rút ra được vai trò của
NHTM như sau:
☻ NHTM là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Hoạt động của NHTM là cung ứng tín dụng và làm trung gian thanh toán
cho các doanh nghiệp tiến hành hợp đồng sản xuất kinh doanh được thuận lợi.
6
Từ đó, góp phần quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
☻ NHTM là công cụ thực hiện chính sách của NHTW: Khi thực thi các
công cụ chính sách tiền tệ của NHTM thì mới có hiệu quả từ việc chấp hành
ro” khi ngân hàng gặp khó khăn đặc biệt là nguy cơ mất khả năng thanh toán
có thể dẫn ngân hàng tới phá sản.
Vốn tự có bao gồm:
Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do
pháp luật quy định.
Vốn điều lệ: là vốn do cổ đông đóng góp và được ghi vào trong điều lệ
hoạt động của ngân hàng và theo quy định phải bằng vốn pháp định.
Vốn tự có bổ sung: vốn tự có của các NHTM không ngừng tăng lên
theo thời gian thông qua nguồn vốn bổ sung gồm:
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Với mục đích tăng cường vốn điều lệ
ban đầu, là vốn được trích từ lợi nhuận hàng năm để bổ sung vốn pháp định.
Luật của Việt Nam quy định hàng năm phải tính 5% lợi nhuận ròng để lập
quỹ này, còn mức tối đa do NHTƯ quy định.
Quỹ dự trữ đặc biệt: Dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động
kinh doanh của ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Đây cũng là loại vốn
được tính từ lợi nhuận để bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động. Hàng năm
ngân hàng phải trích 10% trên lợi nhuận ròng cho tới khi bằng vốn pháp định.
Ngoài các quỹ trên, còn có phần lợi nhuận được phân bổ hay các quỹ
nghiệp vụ khác như: quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ phúc lợi, khen
thưởng, khấu hao…
Một ngân hàng có vốn tự có lớn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, bởi
nó là 1 nhân tố có khả năng tác động lớn tới tâm lý khách hàng khi lựa chọn
8
ngân hàng để thực hiện giao dịch và gửi tiền, từ đó tạo nên uy tín của ngân
hàng. Mặt khác, giá trị vốn tự có cũng chính là giới hạn mức thua lỗ tối đa mà
ngân hàng có thể chịu đựng được khi gặp phải rủi ro. Bởi vậy ngân hàng
muốn hoạt động an toàn nhất thiết phải duy trì được mức vốn đủ lớn, thể hiện
năng lực tài chính của mình là đủ mạnh.
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, cạnh tranh trên mọi lĩnh vực, sản
phẩm, dịch vụ. Ngân hàng nào có mức vốn tự có thấp sẽ dễ dàng gặp phải
để ngân hàng tiến hành kinh doanh, thực hiện cho vay và đầu tư trên thị
trường tài chính để kiếm lời. Chính vì thế, quy mô vốn huy động quyết định
quy mô hoạt động tín dụng, quy mô hoạt động đầu tư, tạo điều kiện gia tăng
lợi nhuận, bổ sung vốn tự có, góp phần củng cố và nâng cao năng lực tài
chính của ngân hàng.
c) Quy mô vốn đi vay.
Vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa NHTM và NHTƯ, hay giữa
các NHTM với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác. Các NHTM sẽ đi vay
vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi ngân hàng đã sử dụng hết
vốn khả dụng mà vẫn không đủ hoạt động. Nói cách khác là ngân hàng tạm
thời thiếu vốn khả dụng.
Quy mô vốn vay thể hiện khả năng vay vốn của ngân hàng, nó cũng
phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng bởi 1 ngân hàng mạnh có thể chủ
đọng vay được 1 khối lượng vốn cần thiết, dễ dàng hơn so với các ngân hàng
khác có năng lực tài chính yếu, từ đó có thể tận dụng vốn đó để nắm bắt thời
cơ kinh doanh hay đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng trong thanh toán, phòng
ngừa rủi ro.
10
d) Quy mô vốn khác.
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo được 1
khoản vốn trong thanh toán: Vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản
tiền gửi séc bảo chi, séc định mức và các khoản tiền phong tỏa do ngân hàng
chấp nhận hối phiếu thương mại. Các khoản tiền tạm thời được trích từ tài
khoản này nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng nên được coi là tiền nhàn rỗi.
Quy mô vốn khác thể hiện khả năng gia tăng vốn của ngân hàng trong
các hoạt động cung ứng dịch vụ, nó cũng phần nào nói lên chất lượng sản
phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung ứng.
e) Tỷ trọng từng loại vốn trong tổng nguồn vốn: Tỷ trọng của vốn tự có,
vốn huy động, vốn vay, vốn khác trong tổng nguồn vốn.
Cấu trúc vốn phân theo kỳ hạn là ngắn hạn, trung hay dài hạn, hoặc
của nền kinh tế Việt Nam.
g) Vòng quay của vốn:
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của các ngân
hàng là do năng lực quản trị tài chính hạn chế, đặc biệt trong việc hoạch định
nguồn tài trợ dài hạn và quản trị vốn ngắn hạn, thể hiện qua tình trạng thiếu
vốn, mất tính thanh khoản.
Vòng quay của vốn =
Vòng quay vốn càng cao thê hiện tốc độ luân chuyển vốn càng cao, hiệu
quả sử dụng vốn là tốt. Ngược lại, vòng quay vốn thấp chứng tỏ khả năng
luôn chuyển vốn chậm, ngân hàng sử dụng vốn không hiệu quả.
Khi được so sánh trong một khoảng thời gian, nó sẽ cho biết mức độ
ngân hàng có thể phát triển mà không cần phải đầu tư thêm vốn. Nhìn chung,
ngân hàng có biên lợi nhuận cao thì có vốn quay vòng thấp và ngược lại. Nó
12
còn được gọi là quay vòng vốn cổ đông (Equity Turnover).
1.2.2.2. Khả năng sinh lời.
Khả năng sinh lợi (profitability): là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều
kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng
sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng
sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện
vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả
năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản.
Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập
hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh
nghiệp nắm giữ. Nhìn chung, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng
được hai đòi hỏi cấp bách:
Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư).
Trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay.
Lãi thu được từ các hoạt động sinh lợi trong năm tài khoá có thể được
trích chia cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ (reserve). Nếu
tương lai. Nếu ROA là thông số đo lường tính hiệu quả của quản lý, nó chỉ ra
khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng là tốt hay yếu kém trong quá trình
chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng thì ROE lại chỉ ra hiệu quả
sử dụng của 1 đồng vốn tự có có khả năng mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
cho ngân hàng, biểu thị tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông là cao hay thấp, có đủ
hấp dẫn các nhà đầu tư hay không?
1.2.2.3. Khả năng xử lý nợ đọng, nợ xấu ( nợ quá hạn, nợ khó đòi)
Khái niệm nợ xấu:
Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân
hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là
14
những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ)
và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).”
Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc
trên 90 ngày, đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các
ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch
toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Như vậy nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày và
khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa của VAS.
Còn theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc,
“về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc
trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập
gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh
toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả
năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: quá
hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của
IAS đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới.
Một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính
quốc tế (IFRS) và IAS 39 vừa được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho
động nắm bắt cơ hội hay đương đầu với rủi ro bằng chính khả năng của mình.
Nhân tố chủ quan: Đó chính là những yếu tố thuộc về bản thân ngân
hàng như trình độ tổ chức quản lý của đội ngũ nhà quản trị, chính sách, chiến
lược, cơ sở vật chất công nghệ, chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng, trình
độ và năng lực của đội ngũ nhân viên… của mỗi ngân hàng. Đây là những
nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp nhất, đóng vai trò quyết định đến kết quả hoạt
16
động kinh doanh, năng lực tài chính của ngân hàng. Bởi để kinh doanh tiền tệ
trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay ngoài các yếu tố “thiên thời
địa lợi” các ngân hàng còn cần phải có cho mình các yếu tố nhân lực, tài lực
và vật lực làm cơ sở tiền đề cũng như là đòn bẩy, lợi thế cạnh tranh để có thể
tồn tại, phát triển ổn định và bền vững. Vì thế để có một năng lực tài chính đủ
mạnh và không ngừng phát triển thì nhiệm vụ của mỗi một ngân hàng là phát
huy hết khả năng, sức mạnh về tài chính, công nghệ, và đặc biệt là nhân tố
con người về ý thức, vai trò của sự cần thiết phải củng cố và nâng cao hơn
nữa năng lực tài chính của ngân hàng.
1.2.4. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính.
NHTM là một loại hình tổ chức kinh doanh, một trung gian tài chính có
liên quan mật thiết đến hầu hết các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội,
cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể khác trong nền kinh
tế. Hoạt động ngân hàng hiện nay đã và đang chi phối hầu hết các thị trường
trong nước và không ngừng mở rộng quy mô vươn ra thị trường quốc tế. Áp
lực cạnh tranh và hợp tác quốc tế đặt ra đối với các NHTM nội địa cho thấy
vai trò cấp thiết của việc cải tổ ngân hàng, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt
động kinh doanh đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi một ngân hàng.
Kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng, người ta đang đua nhau
thành lập ngân hàng cho thấy đây là một lĩnh vực hấp dẫn các nhà đầu tư,
song qua đó cũng thấy động cơ nhiều khi chưa được tính toán thật nghiêm
túc. Hiện tại, ở Việt Nam có nhiều ngân hàng đang hoạt động, với tốc độ phát
triển của ngân hàng như hiện nay đòi hỏi các cấp quản lý phải xem xét lại
về kinh tế thị trường.
Cơ hội phát triển kinh tế, nhất là mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút
18
đầu tư nước ngoài. Hội nhập, mở cửa thị trường, giảm thuế, dỡ bỏ hàng rào
phi thuế quan, tăng cường tiếp cân thị trường quốc tế là cơ hội để đẩy mạnh
xuất nhập khẩu.
Tiếp thu khoa học – công nghệ, kỹ năng quản lý và kinh doanh, góp
phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động,
sáng tạo.
Hội nhập cũng tạo ra cơ hội để chúng ta cải cách hệ thống giáo dục,
chiến lược đào tạo nhân lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đào tạo nhân
lực cho nền kinh tế mới. Hội nhập với nền kinh tế thị trường cũng tạo điều
kiện cho đào tạo và sử dụng nhân tài, có môi trường cho nhân tài phát triển.
Mọi nền kinh tế suy cho cùng sự hưng thịnh đều phụ thuộc chủ yếu vào nhân
tố con người. Vì vậy việc đào tạo và sử dụng nhân lực nhân tài có ý nghĩa
quyết định trong phát triển kinh tế của đất nước.
Thách thức.
Hội nhập tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức lớn
đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực vượt qua mới có thể tân dụng các cơ hội phát
triển. Nền kinh tế nước ta vừa yếu kém lại hậu lại đang trong quá trình chuyển
đổi mô hình cũ sang nền kinh tế thị trường nên các rào cản và thách thức
trong hội nhập là rất lớn. Những thách thức chủ yếu đặt ra là:
Nhận thức về hội nhập quốc tế còn hạn hẹp. Toàn cầu hóa và hội nhập là
xu thế khách quan nhưng nhiều người vẫn lo ngại có bị các cường quốc tư
bản chi phối và lấn át không? Có làm chệch hướng XHCN mà nước ta đã lựa
chọn không? Có làm ảnh hưởng đến độc lập tự chủ của đất nước không? Đã
chấp nhận hội nhập nhưng nội dung và lộ trình, đường đi nước bước thế nào
để đảm bảo thành công? Hội nhập với thế giới nhưng chúng ta đã hiểu biết thế
giới đến mức nào? Từ những hiểu biết hạn hẹp đó phát sinh nhiều tư tưởng lo
ngại, không thuận chiều cho sự nghiệp hội nhập.
thất bại là phá sản, là mất việc làm, thất nghiệp. Đó là những thách thức
không nhỏ mà chúng ta phải đối đầu trong quá trình hội nhập.
Hội nhập cũng là 1 thách thức đối với đội ngũ cán bộ thiếu kiến thức lại
chưa quen đương đầu với thị trường mở cửa, hội nhập. Năng lực cán bộ chưa
đáp ứng được yêu cầu hội nhập cũng là 1 cản trở cho công cuộc hội nhập.
Việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ làm công tác hội
nhập là đòi hỏi bức bách để đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở
nước ta.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam.
1.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Trung Quốc thực hiện công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng với sự
khởi đầu là việc ban hành Luật NHTM mới, có hiệu lực từ ngày 01-07-1995.
Việc gia nhập WTO của Trung Quốc vào tháng 12-2001 càng làm cho công
cuộc cải cách nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng được
đẩy mạnh hơn bao giờ hết.
Các diễn biến đáng chú ý:
Tập trung cải cách mạnh bốn NHTMNN lớn nhất Trung Quốc:
Ngân hàng Kiến Thiết Trung Quốc
Ngân hàng Công thương Trung Quốc
Ngân hàng Trung Quốc
Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc
Bốn ngân hàng lớn nhất này nắm giữ khoảng 56% số tài sản của các
NHTM Trung Quốc.
Số việc làm mà 4 ngân hàng đã cắt giảm trong vòng 4 năm (1998-2002)
≈
250 nghìn lao động và tương ứng khoảng 45 nghìn chi nhánh hoạt động
kém hiệu quả bị giải thể. Và cũng trong thời kỳ này, một số tiền kỷ kucj 45 tỷ
21