tóm tắt luận án tiến sĩ kinh tế an ninh tài chính cho thị trường tài chính việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 18

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam, một nước đang trong quá trình phát triển và hội nhập, từ quốc gia có thu
nhập thấp đến nay trở thành quốc gia ở ngưỡng đầu có thu nhập trung bình. Việt Nam có hệ
thống tài chính, kinh tế còn nhỏ bé nên dễ bị tổn thương khi có các tác động của khủng
hoảng tài chính, kinh tế của thế giới và những khó khăn từ nội tại nền kinh tế.
Đảm bảo an ninh tài chính, đặc biệt đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính
là một vấn đề quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập kinh
tế toàn cầu. Chính vì vậy, Nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu: “An ninh tài chính cho
thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” cho luận án tiến
sỹ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
+ Chuyên đề thứ nhất: “giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống rửa tiền ở
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
+ Chuyên đê thứ hai: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát vi mô các tổ
chức tín dụng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
+ Chuyên đề thứ ba: “Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt
động của thị trường tiền tệ Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Ba chuyên đề nghiên cứu của Nghiên cứu sinh đã được hội động nghiệm thu của Học viện
Ngân hàng nghiệm thu thông qua vào ngày 25 tháng 11 năm 2011.
Ngày 22 tháng 3 năm 2013, Nghiên cứu sinh đã bảo vệ đề tài luận án cấp cơ sở trước
Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở. Sau khi có kết quả chấm luận án tiến sĩ cấp cơ sở và ý
kiến của các Thành viên hội đồng, ý kiến kết luận của Chủ tịch hội đồng, đề tài luận án tiến
sĩ tiếp tục được bổ sung và hoàn chỉnh để bảo vệ trước hội đồng.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Làm rõ nội dung khoa học của an ninh tài chính cho thị trường tài chính;
+ Đánh giá, thực trạng an ninh tài chính của thị trường tài chính Việt Nam, trong đó
chủ yếu đi sâu phân tích về an ninh tài chính của thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị
trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm.
+ Đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam.
4. Các phương pháp nghiên cứu

điểm tổng thể và bao gồm hệ thống thanh toán, cơ sở hạ tầng về công nghệ cũng như khung quản
lý và giám sát. Giữa an toàn tài chính và an ninh tài chính có mối liên kết chặt chẽ.
Theo tài liệu An ninh tài chính quốc gia lý luận cảnh bảo, đối sách – Nhà xuất bản tài chính
tháng 7 năm 2004 của nhóm tác giả do Giáo sư, tiến sỹ khoa học Tào Hữu Phùng (chủ biên) và
tài liệu nghiên cứu của nhóm tác giả Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính, an ninh tài
chính có khái niệm như sau:
An ninh tài chính là một khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chính ổn định, an
toàn, vững mạnh và không bị khủng hoảng.
Ổn định được hiểu là duy trì được hoạt động bình thường, không có những biến động
đột ngột, bất thường. Tuy nhiên, cần phải hiểu sự ổn định trong sự vận động và phát triển.
Ổn định không có nghĩa là cố gắng giữ nguyên mọi thứ như cũ mà là giữ được ổn định
trong tiến trình phát triển đi lên, không ngừng cải tiến và hoàn thiện.
An toàn được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm do các tác động bên trong và bên
ngoài. Giữ được an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hại cho mình đồng thời ngăn chặn
và chống lại được sự tấn công phá hoại từ bên ngoài. Nếu ổn định là tiền đề có tính chất nền
tảng thì an toàn là cốt lõi chi phối toàn bộ quá trình vận động của tình trạng tài chính.
Vững mạnh là cơ sở cho sự ổn định và an toàn, một trạng thái tài chính yếu không thể
giữ được ổn định và đảm bảo an toàn.
Khủng hoảng là giới hạn cuối cùng của sự mất an ninh tài chính, tránh được khủng
hoảng là mục tiêu tối thượng của mọi giải pháp đảm bảo an ninh tài chính. Khủng hoảng tài
chính bao trùm gắn với mất cân đối tài chính, gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn
nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó.
Nghiên cứu sinh thống nhất với khái niệm an ninh tài chính của các tác giả đã nghiên
cứu, tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ được khái quát rất chung ở “tình trạng tài chính”. Do
2
đó, để nâng cao tính khoa học và thực tiễn của an ninh tài chính, cần phải nghiên cứu sâu
hơn về thị trường tài chính, các khu vực tài chính.
1.1.2. Phân loại an ninh tài chính
1.1.2.1. Phân loại theo cấp hay phạm vi quản lý
a. An ninh tài chính quốc gia;

1.2. Tổng quan về thị trường tài chính
1.2.1. Khái niệm về thị trường tài chính
Thị trường tài chính là thị trường của các công cụ tài chính và trong đó nguồn tài chính
được kết chuyển từ người có vốn dư thừa sang người thiếu vốn, thông qua các mối quan hệ
trao đổi, mua bán các công cụ tài chính.
Nếu nhìn nhận đơn giản có thể hiểu, thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán
3
các công cụ tài chính.Thị trường tài chính là môi trường ở đó hệ thống tài chính vận động.
Chức năng cơ bản nhất của thị trường tài chính là nơi diễn ra quá trình dẫn vốn từ
người dư thừa về vốn tới người cần vốn.
Trong quá trình vận động của thị trường tài chính còn có sự tham gia của các chủ thể
giám sát thị trường với mục tiêu hoạt động là tạo dựng thị trường hoạt động minh bạch, có
hiệu quả, hạn chế thấp nhất rủi ro hoạt động của thị trường tài chính, duy trì sự ổn định, an
toàn cho thị trường và thúc đẩy thị trường tài chính phát triển.
1.2.2. Phân loại thị trường tài chính.
Thị trường tài chính rất đa dạng và phong phú, mỗi loại thị trường tài chính được hình
thành và phát triển với các chức năng yêu cầu và mục đích khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi quốc gia khác nhau, vào các công cụ tài chính và các
phương thức giao dịch, các đối tượng tham gia thị trường.
1.2.2.1. Căn cứ vào trình tự phát hành, giao dịch và cơ cấu của thị trường: thị trường tài
chính được phân chia thành thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp.
1.2.2.2. Căn cứ vào tính chất chuyên môn hoá của thị trường: thị trường tài chính được
phân chia thành thị trường công cụ nợ và thị trường công cụ vốn, thị trường công cụ
phái sinh
1.2.2.3. Căn cứ vào thời hạn của công cụ tài chính: thị trường tài chính được phân chia
thành thị trường tiền tệ và ngân hàng và thị trường vốn.
1.2.2.4. Phân chia thị trường tài chính theo các chủ thể tham gia thị trường, thì thị
trường tài chính bao gồm:
+ Thị trường vay và cho vay của chính phủ;
+ Thị trường vay và cho vay của các trung gian tài chính;

càng tinh vi, phức tạp, các loại công cụ tài chính có quan hệ chặt chẽ với nhau, các thị
trường hoạt động quan hệ qua lại tác động trực tiếp lẫn nhau, ranh giới phân chia các
loại thị trường chỉ mang tính tương đối, các công cụ tài chính được lưu thông đan xen
giữa các thị trường, chuyển hoá lẫn nhau.
Thị trường tài chính là đối tượng trực tiếp chịu tác động của chính sách tài chính,
chính sách tiền tệ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế.
1.2.4. Công cụ của thị trường tài chính.
+ Các chứng khoán nợ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu và các
khoản phải thu khác.
+ Chứng khoán vốn thường được gọi là cổ phiếu, tương đương cho những cổ phần sở
hữu trong một doanh nghiệp.
1.3. An ninh tài chính đối với hoạt động của thị trường tài chính.
An ninh tài chính của thị trường tài chính là an ninh tài chính cho các thị trường cấu
thành của thị trường tài chính như: thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán,
thị trường bảo hiểm.
Đó là tính ổn định, tính an toàn, tính phát triển và khả năng chống đỡ khủng hoảng của
thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm. Ngoài ra các
nhân tố tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính đó là ảnh hưởng của nợ công, đáp ứng
các tiêu chuẩn về phòng, chống rửa tiền của các quốc gia, của các tổ chức tài chính.
1.3.1. An ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng.
1.3.1.1.Khái niệm về an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng
+ Đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng chính
là bảo đảm an ninh tài chính cho hoạt động của ba loại thị trường:
* Thị trường huy động vốn và cho vay của tổ chức tín dụng với các cá nhân, tổ chức
kinh tế, các tổ chức khác (thị trường một).
* Thị trường vay và cho vay lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng (thị trường hai).
* Thị trường cho vay và mua, bán giữa ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng
(gọi là thị trường ba).
An ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng là một khái niệm
cơ bản chỉ một trạng thái ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủng hoảng trong hoạt

Cũng như tính ổn định của thị trường này, tính an toàn với nghĩa rộng là tạo ra tính an toàn cho
chính sách ổn định giá trị đồng tiền, an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, không phải đơn
thuần là an toàn (thu đủ tiền, khi bán giấy tờ có giá hay thu đủ gốc và lãi khi cho vay…).
a3. Phát triển hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng
*) Phát triển hoạt động của thị trường một
*) Phát triển hoạt động thị trường hai
*) Phát triển hoạt động thị trường ba
a4. Tăng cường khả năng ngăn chặn khủng hoảng cho thị trường tiền tệ và ngân hàng
Khủng hoảng là giới hạn cuối cùng của sự mất an ninh cho thị trường tiền tệ và ngân
hàng. Thị trường tiền tệ và ngân hàng mang tính hệ thống và tính ảnh hưởng qua lại rất cao
Như vậy, thị trường một là thị trường có vai trò rất quan trọng cho tính an toàn, ổn
định và phát triển của thị trường tiền tệ và ngân hàng.
Tóm lại: an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng là một
trạng thái ổn định, an toàn, phát triển và tránh không bị khủng hoảng của thị trường tiền tệ
và ngân hàng.
b. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng
6
b1. An toàn vốn tối thiểu
Đối với tổ chức tín dụng hoạt động quốc tế các quy trình này ít nhất không được
thấp hơn mức yêu cầu tương ứng về vốn do ủy ban Basel quy định (hiện tại không
được nhỏ hơn 8%).
Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và rủi ro hợp nhất là tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất luôn ≥8%
(Theo quy định của Ủy ban Basel). Để đảm bảo an ninh tài chính, hấu hết các quốc gia đều
quy định mức tối thiểu luôn lớn hơn 9%. Theo quan điểm của Nghiên cứu sinh, tỷ lệ này
phải luôn lớn hơn 10% cho từng tổ chức tín dụng và toàn hệ thống tổ chức tín dụng.
b2. Giới hạn tín dụng đảm bảo an ninh tài chính
+ Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt
quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng (giới hạn an toàn không được vượt quá 15% - thông
lệ nhiều nước).
+ Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng

7
vượt quá 80% cho từng ngân hàng và cho bình quân của hệ thống ngân hàng thương mại.
+ Đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng không quá 85% cho từng tổ chức tài
chính phi ngân hàng và cho bình quân cả hệ thống, tổ chức tài chính phi ngân hàng.
b6. Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ tín dụng
Tỷ lệ này luôn luôn phải nhỏ hơn 5% trong mọi thời điểm đối với từng tổ chức tín
dụng và cho bình quân cả hệ thống tổ chức tín dụng.
Tỷ lệ đảm bảo an ninh tài chính nợ quá hạn (NPL-Non-Performing Loans) luôn thấp
hơn 3% cho từng tổ chức tín dụng và cho cả hệ thống.
b7. Tỷ lệ lợi nhuận thu được của từng tổ chức tín dụng và toàn hệ thống luôn luôn
lớn hơn 1% qua các năm. Từng tổ chức tín dụng phải liên tiếp có lãi. Toàn hệ thống phải
duy trì lãi thu được tăng qua các năm. Một tổ chức tín dụng bị thua lỗ, tổ chức tín dụng đó
mất an ninh tài chính. Cả tổ chức tín dụng lỗ, hoặc lợi nhuận giảm so với các năm trước,
cũng sẽ dẫn đến hệ thống mất an ninh tài chính.
c. Các chỉ số đánh giá sức chịu đựng của tổ chức tín dụng trước các cú sốc trên thị
trường tài chính
Đối với mỗi rủi ro đặc thù trong hoạt động ngân hàng có những kỹ thuật kiểm tra sức
chịu đựng khác nhau. Những rủi ro dưới đây là những rủi ro phổ biến mà cơ quan thanh tra,
giám sát, quản lý cũng như các ngân hàng cần đo lường và đánh giá để tránh các cuộc
khủng hoảng có thể xảy ra cho thị trường tiền tệ và ngân hàng:
+ Rủi ro tín dụng;
+ Rủi ro lãi suất;
+ Rủi ro tỷ giá;
+ Rủi ro thanh khoản;
+ Rủi ro lan truyền liên ngân hàng.
Mỗi rủi ro có các kỹ thuật kiểm tra sức chịu đựng và yêu cầu dữ liệu khác nhau.
c1. ST đối với rủi ro tín dụng
+ Phương pháp dựa trên mức dự phòng
+ Phương pháp ST vĩ mô
c2. ST đối với rủi ro lãi suất

phát hành chứng khoán, các công ty kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu tư, nhà đầu cơ.
1.3.2.3. Các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về giám sát hoạt động kinh doanh chứng
khoán, các chỉ tiêu phản ánh của an ninh tài chính cho thị trường chứng khoán.
a. Các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến các định chế trung gian tài chính tham gia thị
trường chứng khoán, bao gồm:
+ Cơ quan giám sát phải đảm bảo điều kiện thấp nhất cho việc gia nhập thị trường đối
với các tổ chức trung gian thị trường và đồng thời đảm bảo sự công bằng cho các tổ chức
này. Việc giám sát là nhằm giảm rủi ro tổn thất cho nhà đầu tư bị gây ra do các sai sót hoặc
hành vi bất hợp pháp hay sự không đảm bảo an toàn vốn của trung gian tài chính.
+ Phải có quy định về vốn ban đầu và vốn trong quá trình kinh doanh, các quy định an
toàn phản ánh đúng các rủi ro mà các tổ chức trung gian tài chính có thể gặp phải.
+ Các tổ chức trung gian tài chính phải thực hiện việc tuân thủ các tiêu chuẩn về tổ
chức nội bộ, thực hiện nghiệp vụ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và quản lý rủi ro phù hợp.
+ Phải có quy định về thủ tục giải quyết phá sản của tổ chức trung gian tài chính nhằm
giảm thiểu tổn thất cho nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro hệ thống.
b. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho các định chế tài chính tham gia thị
trường chứng khoán
+ Xây dựng các chỉ tiêu an toàn tài chính dựa trên các chỉ tiêu áp dụng cho hệ thống
ngân hàng theo nguyên tắc Basel I và Basel II. Hệ thống liên minh Châu Âu đang áp dụng
cho các định chế tài chính tham gia thị trường chứng khoán theo nguyên tắc này. Tổ chức
kinh doanh chứng khoán luôn luôn phải đáp ứng:
Vốn tự có =
Vốn tự có cấp I + Vốn tự có cấp II
8%≥
Tổng tài sản có rủi ro
Để đáp ứng tiêu chuẩn đảm bảo an ninh tài chính theo Nghiên cứu sinh chỉ tiêu này
luôn luôn lớn hơn 9%.
+ Áp dụng phương pháp vốn ròng (Net Capital Approach). Mức duy trì vốn ròng ít
nhất của các công ty chứng khoán là 2% tổng các khoản nợ khách hàng và sẽ nhận được sự

Biến khả năng thanh toán thực
Biên khả năng thanh toán chuẩn
Theo quan điểm của Nghiên cứu sinh, để đảm bảo an ninh tài chính thì hệ số này
phải ≥ 110% (vùng đệm an toàn tuyệt đối là 10%)
Đối với phương pháp thức hai “Vốn trên cơ sở rủi ro”, thì mức vốn tối thiểu bù đắp
cho những rủi ro mà công ty bảo hiểm đối mặt sẽ được tính dựa trên mức độ những rủi
ro đó.
10
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, an ninh tài chính cho thị trường tài chính là đảm bảo cho thị trường hoạt
động ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủng hoảng. Thị trường tài chính bao gồm
nhiều loại thị trường cùng hoạt động, trong đó, đặc biệt quan trọng là hoạt động của thị
trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm hoạt động ổn
định, an toàn, phát triển và nó có khả năng ngăn chặn khủng hoảng sẽ tạo tiền đề chủ yếu
cho đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính. Thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị
trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thị trường này
hoạt động đảm bảo an ninh tài chính sẽ tác động tích cực đảm bảo an ninh cho thị trường
khác và ngược lại, thị trường này không đảm bảo an ninh tài chính sẽ tác động tiêu cực đến
thị trường khác và tác động tiêu cực đến hoạt động của cả thị trường tài chính trong mối
quan hệ quốc gia và trong một số trường hợp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tài
chính của cả khu vực và ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tài chính toàn cầu. Với ý nghĩa
đặc biệt quan trọng như vậy giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính ở
mỗi quốc gia là hết sức cần thiết để đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia đó, góp phần
đảm bảo an ninh cho thị trường tài chính toàn cầu.
Thị trường tiền tệ và ngân hàng bao gồm thị trường một, thị trường hai và thị trường ba, trong
đó thị trường một giữ vai trò quyết định. Để đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và
ngân hàng, mỗi thị trường cấu thành phải đảm bảo đầy đủ các nhân tố và các chỉ tiêu đảm bảo an
ninh tài chính về an toàn, ổn định, phát triển và ngăn chặn khủng hoảng.
+ Các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng bao gồm:
Các chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu cho tổ chức và cả hệ thống, chỉ tiêu giới hạn tín dụng; tỷ lệ

2.2. Thực trạng về an ninh tài chính của thị trường tài chính Việt Nam, đánh giá, nhận
định, nguyên nhân và bài học
2.2.1. Thực trạng an ninh tài chính của thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam, đánh
giá, nhận định, nguyên nhân và bài học
2.2.1.1. Thực trạng về an ninh tài chính thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam
Cho đến nay, hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam có 125 tổ chức tín dụng và chi
nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng hợp tác xã và các quỹ tín dụng cơ sở, bao gồm:
+ 05 Ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước.
+ Ngân hàng Chính sách xã hội;
+ Ngân hàng phát triển Việt Nam;
+ 35 Ngân hàng thương mại cổ phần;
+ 05 Ngân hàng liên doanh;
+ 05 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;
+ 44 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ 17 Công ty tài chính;
+ 12 Công ty cho thuê tài chính;
+ Ngân hàng Hợp tác xã;
+ 1110 Quỹ tín dụng cơ sở;
Với quy mô hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng hiện nay là khá lớn đối với
hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, do đó phải đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của
thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam, tức là phải bảo đảm tính ổn định, tính an toàn và
phát triển cho thị trường mang tính sống còn để ổn định và phát triển kinh tế.
2.2.1.2. Đánh giá, nhận định về an ninh tài chính của thị trường tiền tệ và ngân hàng
Việt Nam hiện nay, nguyên nhân và bài học
Trong những năm qua thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam hoạt động chưa có
tính ổn định cao do tác động của các yếu tố bất lợi của kinh tế vĩ mô toàn cầu và của nội tại
nền kinh tế Việt Nam. Nếu tính đầy đủ các yếu tố để đảm bảo an ninh tài chính cho thị
trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam những năm qua, đó là yếu tố ổn định, an toàn, phát
triển và chống đỡ được các cuộc khủng hoảng từ bên ngoài hoặc từ trong nội tại nền kinh tế
thì các yêu tố này đều mong manh, thiếu vững chắc. Đặc biệt nợ xấu trong các tổ chức tín

động của thị trường, phát huy nguồn vốn trong nước, kết hợp với nguồn vốn từ nước ngoài,
tiến dần đến đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn toàn cầu để áp dụng cho hệ thống ngân hàng
Việt Nam như tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của Basel I, Basel II và Basel III.
+ Nâng cao vai trò của các cơ quan thanh tra, giám sát trong thị trường tiền tệ và ngân
hàng, minh bạch hóa thông tin thanh tra, giám sát để tạo sức ép cho thị trường theo xu
hướng lành mạnh, ổn định và phát triển.
2.2.2. Thực trạng an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường chứng khoán Việt
Nam, đánh giá, nhận định, nguyên nhân và bài học.
2.2.2.1. Thực trạng an ninh tài chính cho hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam
Số lượng chứng khoán nhiều nhưng chất lượng còn thấp, sản phẩm thị trường chưa đa dạng.
+ Về cơ sở các nhà đầu tư:
Cơ sở nhà đầu tư chưa vững chắc do thiếu vắng nhà đầu tư có tổ chức làm nền tảng.
Các doanh nghiệp bảo hiểm đã đầu tư vào thị trường chứng khoán với vai trò là nhà đầu tư
có tổ chức, song quy mô đầu tư còn nhỏ. Các tổ chức tín dụng tham gia vào lĩnh vực chứng
khoán qua các hình thức như đầu tư trái phiếu, góp vốn thành lập tổ chức kinh doanh chứng
13
khoán, uỷ thác đầu tư, tuy nhiên việc quản lý rủi ro còn hạn chế.
+ Về tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán:
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán nhiều nhưng quy mô và năng lực tài chính thấp,
không đảm bảo hiệu quả hoạt động, tiềm ẩn rủi ro hệ thống.
+ Về tổ chức thị trường:
Việc duy trì hoạt động của hai sở giao dịch chứng khoán đã góp phần phát triển thị
trường chứng khoán trong thời gian qua, tuy nhiên hiện nay điều này cũng làm cho thị
trường chứng khoán bị chia cắt.
Thị trường trái phiếu chuyên biệt đã được thành lập và hoạt động tại Sở giao dịch
chứng khoán Hà Nội, song chủ yếu là trái phiếu Chính phủ. Giá trị trái phiếu Chính phủ
niêm yết trên 160 nghìn tỷ Việt Nam đồng song có quá nhiều trái phiếu.
2.2.2.2. Đánh giá, nhận định về an ninh tài chính của thị trường chứng khoán Việt Nam,
nguyên nhân và bài học
+ Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới và hoạt động còn nhỏ, vai trò điều

so với GDP và bằng 1,9% so với tổng tài sản của hệ thống tài chính Việt Nam, tổng phí bảo
hiểm nhân thọ và phi nhân thọ khoảng 1,85% GDP, trong 6 năm, từ 2007 đến 2012, tỷ lệ
tăng trưởng qua các năm đều ở mức hai con số. Phí bảo hiểm thấp thể hiện một phần do
mức thu nhập bình quân đầu người và đặc điểm nhân khẩu học, nhưng so với các nước
trong khu vực như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philipines, Việt Nam còn rất nhiều tiềm
năng phát triển.
+ Như vậy, thị trường bảo hiểm Việt Nam còn sơ khai, thị trường nhỏ so với GDP và so với
toàn hệ thống tài chính (so với hệ thống tài chính tổng tài sản qua các năm: (2007:2,6%;
2008: 2,8%; 2009: 2,5%; 2010: 2,1% và năm 2011: 1,9%). Hoạt động của bảo hiểm ít tác
động đến thị trường tài chính Việt Nam. Các quy định về bảo hiểm bước đầu đã được xây
dựng và các chuẩn mực giám sát đã được áp dụng.
Để phát triển thị trường bảo hiểm bền vững cần có những chính sách khuyến khích,
thúc đẩy, đồng thời có cơ chế quản lý, giám sát cho phù hợp, đảm bảo thị trường phát triển
được an toàn, ổn định và tránh được các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến thị trường.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, thị trường tài chính phát triển với quy
mô và tốc độ rất nhanh. Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ và ngân hàng, tính
ổn định chưa cao, lạm phát kéo dài trong nhiều năm đã tạo bất ổn cho nền kinh tế vĩ mô,
nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh do phải vay lãi suất ngân hàng
quá cao, nợ quá hạn của các ngân hàng có xu thể tăng, một số ngân hàng thanh khoản khó
khăn, một số ngân hàng phải sáp nhập, cơ cấu lại theo hướng sáp nhập với ngân hàng lớn
hoặc có thể phải có sự can thiệp trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước…Đặc biệt trong bối
cảnh hiện nay, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nợ xấu ngân hàng tăng cao là nguy cơ gây
mất ổn định thị trường, nếu không xử lý tốt dễ dẫn đến khủng hoảng thị trường tiền tệ và
ngân hàng và tác động đến khủng hoảng thị trường tài chính Việt Nam. Về đặc điểm cơ cấu
của thị trường tài chính Việt Nam, thị trường tiền tệ và ngân hàng chiếm đa phần (luôn luôn
trên dưới 200% so với GDP và gần 90% so với toàn thị trường).
Tuy nhiên, thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam hoạt động về cơ bản ổn định chưa
cao, an toàn ở mức thấp và phát triển khó khăn, có khả năng lâm vào khủng hoảng do nợ quá
hạn của các ngân hàng thương mại tăng cao. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới phát triển

trường và hội nhập quốc tế của thị trường tài chính, bao gồm: cơ sở pháp lý của thị
trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm, đến năm
2015, hoàn thành đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam, đảm
bảo 100% các ngân hàng thương mại Việt Nam đều đạt vốn tự có tối thiểu so với
tổng tài sản là 9%; các ngân hàng đều đạt chuẩn tiêu chuẩn quản trị rủi ro theo chuẩn
mực của Basel II; các ngân hàng đều đạt chuẩn quy định về rủi ro tối thiểu bao gồm
đầy đủ các loại rủi ro, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt
động, rủi ro danh tiếng Các ngân hàng thương mại Việt Nam đều phải ban hành và
áp dụng đầy đủ các quy định về kiểm soát và kiểm toán nội bộ. Mọi quy trình nghiệp
vụ, quy trình kinh doanh các các ngân hàng thương mại phải đảm bảo được quản trị
đầy đủ và độc lập cả quy trình trước, trong và sau khi thực hiện.
Xây dựng đầy đủ thể chế kinh tế thị trường theo cơ chế hội nhập cho thị trường
chứng khoán và thị trường bảo hiểm. Khuyến khích nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ
nước ngoài vào thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm Việt nam, như có thể
cho phép nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ đến 49% cổ phần của doanh nghiệp,
trường hợp đặc biệt có thể cho phép các đối tác chiến lược từ nước ngoài nắm giữ
trên 49% cổ phần của các doanh nghiệp kể cả các doanh nghiệp là các công ty chứng
khoán, các công ty bảo hiểm Tuy nhiên, cần có những giải pháp, chính sách, chiến
lược về mặt kỹ thuật đảm bảo nguyên tắc hội nhập, nhưng hạn chế thấp nhất đến quá
trình rút vốn ồ ạt ra khỏi thị trường Việt Nam khi có những biến động bất lợi của thị
trường hoặc khi xảy ra các cuộc khủng hoảng của thị trường.
Xây dựng các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty cho thuê tài
16
chính các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính khác
đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính từ sau năm 2015.
3.1.3. Quan điểm về an ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam
Hai quan điểm lớn về an ninh tài chính bao trùm quá trình phát triển thị trường
tài chính Việt nam là:
+ Xây dựng và phát triển thị trường tài chính phải đảm bảo đầy đủ: Sự an toàn,
sự ổn định, sự phát triển và tránh được tác động của các cuộc khủng hoảng tác động

đảm bảo có hiệu quả.
+ Đảm bảo dòng tài chính mới được đầu tư vào nền kinh tế góp phần tăng trưởng
17
kinh tế và tạo hiệu quả để tác động tích cực đến quá trình củng cố, tái cấu trúc hệ thống tài
chính và cho từng tổ chức tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm ).
3.2. Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tài chính Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
3.2.1. Đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Xây dựng và ban hành chính sách tiền tệ, ổn định, tập trung cao cho mục tiêu kiểm
soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền.
Để nâng cao tính ổn định và an toàn hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng cần
xây dựng và hoàn thiện một số giải pháp chủ yếu về chính sách vĩ mô ổn định.
+ Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định rủi ro tối thiểu và yêu cầu các tổ chức tín
dụng thực hiện và tổ chức giám sát chặt chẽ.
+ Ngân hàng Nhà nước có chính sách khuyến khích các ngân hàng cổ phần tìm
kiếm các đối tác chiến lược nước ngoài phát triển, trình độ cao để tăng năng lực tài chính
và áp dụng công nghệ hiện đại, kinh nghiệm trong quản trị và điều hành, quản trị rủi ro.
+ Nhóm các giải pháp nâng cao năng lực tài chính:
Yêu cầu các tổ chức tín dụng phải đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có
so với tổng tài sản có đã hiệu chỉnh rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ).
+ Nhóm giải pháp củng cố vai trò chủ đạo của ngân hàng thương mại Nhà nước:
Tiếp tục cải cách, đổi mới và sắp xếp các ngân hàng thương mại nhà nước như;
+ Nhóm giải pháp tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động ngân hàng:
Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện để các ngân hàng
thương mại hoạt động thuận lợi hơn.
+ Hạn chế việc mở chi nhánh ồ ạt của các ngân hàng thương mại, đặc biệt tại các địa
bàn hiện đã có “mật độ chi nhánh dày”, ưu tiên phát triển chi nhánh tại các địa bàn khó
khăn, chưa phát triển.
+ Đổi mới hệ thống giám sát ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng dựa

phủ các nước có xếp hạng cao để tránh rủi ro về khả năng thu hồi và phòng ngừa rủi ro tỷ
giá khi có biến động lớn các tỷ giá giữa các đồng tiền.
Tóm lại: giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường
tiền tệ và ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cần có giải pháp:
nâng cao tính ổn định và an toàn hoạt động của cả ba thị trường: (thị trường một, thị trường
hai, Thị trường ba).
+ Ngoài các giải pháp đã nêu trên, trong giai đoạn hiện nay và cả về lâu dài, giải pháp
xử lý hiệu quả nợ xấu và hạn chế nợ xấu tăng trong tương lai của hệ thống tổ chức tín dụng,
là giải pháp rất quan trọng đảm bảo an ninh tài chính cho thi trường tài chính Việt Nam hiện
nay và lâu dài.
Tóm lại: “Đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân
hàng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là đảm bảo tính ổn định, an toàn
và phát triển của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường mở cửa, thị trường tiền tệ và ngân
hàng có tính quốc tế, tính liên thông và ảnh hưởng rất cao giữa các tổ chức tín dụng. Do
vậy, các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân
hàng phải đáp ứng được tính ổn định, an toàn và phát triển cho mỗi tổ chức tín dụng và cho
cả hệ thống tổ chức tín dụng. Các giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt
động của thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,
đó là: xây dựng và ban hành chính sách tiền tệ vĩ mô ổn định, xây dựng và thực thi chính
sách an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra,
giám sát các tổ chức tín dụng; tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín
dụng, xử lý sự cố bất thường trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; phòng ngừa và đấu
tranh chống tội phạm ngân hàng; xây dựng các giải pháp liên kết; xây dựng và thực thi các
giải pháp nâng cao tính ổn định và an toàn hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng
liên ngân hàng (thị trường hai) và thị trường tiền tệ và ngân hàng Ba. Ngoài ra các danh
mục đầu tư của các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng vào các tổ chức ngân
hàng khác đều phải có quy định quản lý và giám sát chặt chẽ, đảm bảo mọi danh mục đầu tư
của ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng đều có quy định đầu tư và quy định
kiểm soát. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nợ quá hạn cao, giải pháp xử lý nợ xấu là một
giải pháp đặc biệt quan trọng để đưa nợ quá hạn về mức an toàn là dưới 3% tổng dư nợ.

chứng khoán; nâng cao tiêu chí phát hành niêm yết chứng khoán đặc biệt là tiêu chí về lợi
nhuận, thời gian hoạt động và quản trị công ty theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phân
loại hàng hoá theo tiêu chí để cơ cấu lại thị trường; hoàn thiện cơ chế quản lý doanh nghiệp.
Cơ cấu lại cơ sở các nhà đầu tư theo hướng đa dạng cơ sở nhà đầu tư, mở rộng cơ sở
nhà đầu tư có tổ chức, chuyên nghiệp; xây dựng thể chế cho phép thành lập và hoạt động
của các công ty đầu tư chứng khoán.
+ Phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán để thực hiện tái cấu trúc cho phù hợp với
từng nhóm.
3.2.3. An ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm Việt Nam
+ Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách về kinh doanh bảo hiểm đầy đủ, minh bạch,
bình đẳng và đồng bộ, tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường, thực hiện đầy đủ các
cam kết quốc tế.
+ Nâng cao tính an toàn hệ thống, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, phát triển
20
các doanh nghiệp bảo hiểm có tài chính vững mạnh, năng lực quản trị, điều hành đạt chuẩn
quốc tế, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh tốt trên thị trường trong nước cũng như
khu vực.
+ Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm đảm bảo
nhu cầu bảo hiểm đa dạng của tổ chức và cá nhân.
+ Đa dạng hóa và xây dựng tiêu chuẩn các tổ chức môi giới, tổ chức đại lý bảo
hiểm, tạo cầu nối hiệu quả nhất giữa doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng.
+ Xây dựng quy trình giám sát, thanh tra, quản lý bảo hiểm chuyên nghiệp và quản lý,
giám sát bảo hiểm, đảm bảo nguyên tắc về quản lý, giám sát bảo hiểm.
3.2.4. Một số giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho các khoản vay nợ quốc gia ở Việt Nam
3.2.4.1. Tăng cường hiệu quả đầu tư công
3.2.4.2. Kiểm soát chặt chẽ tốc độ nợ công
3.2.4.3. Cải thiện nguồn thu, dự trữ ngoại tệ để gia tăng khả năng trả nợ của nền kinh tế
3.2.4.4. Xây dựng kế hoạch về nợ công trên cơ sở phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ, công khai, minh
bạch và rõ ràng trách nhiệm giải trình trong quản lý nợ công

vay mượn sang quan hệ mua bán.
• Thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
*)Đối với Thủ tướng Chính phủ:
• Quyết định thành lập lại Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng theo hướng thống
nhất từ Trung ương đến các chi nhánh.
• Ban hành quyết định phối hợp giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Ủy Ban
chứng khoán Nhà nước, Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm.
• Tăng cường chỉ đạo hoạt động của Ban chỉ Đạo liên ngành về phòng, chống rửa tiền, chỉ
đạo các bộ, ngành có kế hoạch hành động để thực hiện đầy đủ các kế hoạch hành động quốc gia mà
Chính phủ đã cam kết thực hiện trong năm 2011, năm 2012 và các năm tiếp theo.
• Chỉ đạo các bộ, ngành hoàn thành xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết theo
thẩm quyền về phòng, chống rửa tiền theo chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành,
tăng cường thanh tra, giám sát. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, ngành liên quan
tăng cường hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm nói chung, chống rửa tiền nói riêng.
*) Đối với Ngân hàng Nhà nước:
- Sớm hoàn thành xây dựng nghị định và các văn bản hướng dẫn Luật Phòng, chống
rửa tiền trình Chính phủ thông qua.
- Củng cố tổ chức, bộ máy tăng thêm đầu tư cơ sở tin học của Cục Phòng, Chống rửa tiền để
tăng cường chức năng giám sát dòng tiền.
- Thực hiện giám sát, thanh tra thường xuyên các tổ chức tín dụng về hoạt động phòng,
chống rửa tiền.
- Tăng cường hợp tác quốc tế về hoạt động phòng chống rửa tiền.
- Tăng cường chức năng thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng thương mại, tăng cường
tính minh bạch trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.
*)Đối với các bộ, ngành:
+ Tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trong công tác
thanh tra, kiểm tra, điều tra truy tố tội phạm liên quan đến tội phạm nguồn, tội rửa tiền.
+ Đối với các tổ chức tín dụng, các công ty chứng khoán, bảo hiểm, các công ty kinh
doanh bất động sản, các định chế phải báo cáo khác cần tăng cường cập nhật thông tin
khách hàng, nhận biết khách hàng, tăng cường đầu tư, công nghệ… để kịp thời đáp ứng báo

ngạch xuất khẩu bình quân từ 2007 đến nay hơn 1,5 lần so với GDP. Tuy nhiên, trong quá
tình hội nhập luồng vốn thanh toán giữa các quốc gia với Việt Nam tăng cao, như thanh
toán xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp, gián tiếp…đi kèm với gia tăng của thương mại quốc
tế là các ảnh hưởng tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá như: khủng hoảng kinh tế, khủng
hoảng khu vực tài chính, ngân hàng tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam. Kèm theo
đó là sự gia tăng về tội phạm mang tính toàn cầu, đặc biệt là các loại tội phạm quốc tế
thường xuyên lợi dụng hoạt động của các tổ chức tài chính, ngân hàng ở các nước, đang
trong quá tình phát triển còn thiếu các cơ chế kiểm soát chặt chẽ để thực hiện hoạt động
phạm tội, hoạt động rửa tiền.
Để tránh tổn thương cho nền kinh tế, tạo cho hệ thống tài chính, ngân hàng, hoạt động
ngày càng hiệu quả, hạn chế rủi ro, thị trường tài chính hoạt động an toàn, hiệu quả, Việt
Nam cần xây dựng các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tài
chính:
+ Đó là các giải pháp đảm bảo an ninh cho thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam:
xây dựng, ban hành chính sách tiền tệ ổn định; xây dựng và thực thi chính sách an toàn
trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giám sát các
tổ chức tín dụng; tăng cường quản lý rủi ro trong các hoạt động của tổ chức tín dụng; xử lý
sự cố bất thường trong hoạt động của tổ chức tín dụng; xử lý nợ xấu đảm bảo đến năm 2015
nợ xấu toàn tổ chức tín dụng Việt Nam về mức dưới 5%;phòng ngừa và đấu tranh chống tội
phạm trong các tổ chức tín dụng; xây dựng các giải pháp liên kết; xây dựng và thực thi nâng
23
cao tính ổn định và an toàn trong hoạt động của thị trường liên ngân hàng, thị trường giữa tổ
chức tín dụng và ngân hàng trung ương; quản lý, giám sát các danh mục đầu tư của tổ chức
tín dụng.
+ Tăng cường các giải pháp an ninh tài chính cho thị trường chứng khoán như: xây
dựng và thực thi chính sách vĩ mô ổn định và phát triển; xây dựng, ban hành và giám sát
thực thi các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam; các
giải pháp ổn định và phát triển, các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán; các giải pháp
chủ yếu phát triển hệ thống giám sát thị trường chứng khoán; các giải pháp minh bạch, kiểm
soát thông tin liên quan đến thị trường chứng khoán; các giải pháp tăng hàng hoá có chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status