Phạm văn thương –k20 .động vật học
Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
”Hạt giống tốt sẽ sinh ra hạt giống tốt
Nhan sắc mỹ miều sẽ tạo ra mỹ miều
Sự sản sinh tuy là do tạo hóa
Nhưng thực hiện nó, là nhiệm vụ của con người“
Venus and Adoris 167
Shakespeare
Qua bao thăng trầm,biến đổi xã hội loài người vẫn tồn tại và phát
triển, lịch sử loài người vẫn luôn tiếp nối. Đó là nhờ sự sản sinh không
ngừng.
Từ buổi sớm bình minh của xã hội con người, sự bảo tồn nòi giống
vẫn là mối quan tâm chung. Không sinh được con để nối dõi tông đường đã
được xem là một cái tội “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”. Suy nghĩ này
ngày nay đã thay đổi phần nào, nhất là trong các xã hội phát triển.
Khi khoa học còn chưa soi sáng được những quá trình tinh tế của sự
sinh sản, thì con người đã cố gắng giải thích nó bằng những huyền bí,
những ý muốn của “đấng tối cao…”.
Kiến thức con người dần dần được tích lũy…Và chỉ đến đầu thế kỷ
này con người mới hiểu rõ quá trình tạo ra kinh nguyệt, tinh trùng, nang
noãn, phôi thai…
Lịch sử của những phương pháp điều trị vô sinh hiện đại cũng chỉ mới
bắt đầu trong nửa thế kỷ 20: biện pháp kích thích buồng trứng, vi phẩu nối
vòi trứng - ống dẫn tinh, rửa lọc tinh trùng, các biện pháp hỗ trợ sinh sản
như thụ tinh nhân tạo , thụ tinh trong ống nghiệm…đã mang lại bao niềm
hy vọng, hạnh phúc cho các cặp vợ chồng hiếm muộn vô sinh trên thế giới
cũng như ở Việt Nam .Mong muốn tìm hiểu các kỹ thuật ấy là lí do tôi
chọn đề tài: “Những thành tựu về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện đại ở
Phạm văn thương –k20 .động vật học
1
Phạm văn thương –k20 .động vật học
2
Phạm văn thương –k20 .động vật học
người.
- Năm 1966, các bác sĩ người Mỹ và nhà khoa học người Anh RG
Edwards lần đầu tiên công bố trường hợp lấy được trứng người qua phẫu
thuật nội soi tại Mỹ. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu này thất bại trong việc
chứng minh trứng và tinh trùng người có thể thụ tinh được bên ngoài cơ
thể.
- Năm 1971, Steptoe và Edwards ở Anh bắt đầu báo cáo nuôi cấy
được phôi nang người trong ống nghiệm và chuyển phôi vào buồng tử
cung.
- Năm 1976, trường hợp có thai đầu tiên từ TTTON trên thế giới được
ghi nhận tại Anh do Steptoe và Edwards công bố. Tuy nhiên, rất tiếc đây lại
là một trường hợp thai ngoài tử cung.
- Ngày 25/7/1978,lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của nhân loại,
một em bé gái (Louise Brown) ra đời bằng công nghệ thụ tinh trong ống
nghiệmtại một bệnh viện ở Anh.(209). Đánh dấu bước đầu cho sự phát
triển của TTTON trên người. Sau đó, 2 trường hợp sanh khác từ TTTON
cũng đã được báo cáo tại Anh. Sau đó, chương trình này tại Anh bị gián
đoạn trong 2 năm.
- Năm 1980, em bé TTTON thứ tư trên thế giới được sinh ra tại Úc.
Trung tâm Monash ở Úc được ghi nhận là nơi thứ hai trên thế giới thực
hiện thành công TTTON. Trung tâm này sau đó liên tục báo cáo các trường
hợp sanh sau TTTON. Do trung tâm TTTON đầu tiên ở Anh tạm ngưng
hoạt động sau trường hợp sanh đầu tiên, người ta ghi nhận rằng 12 trong số
15 em bé TTTON đầu tiên trên thế giới được ra đời từ trung tâm Monash ở
Úc.
- Năm 1981, em bé TTTON đầu tiên ở Mỹ ra đời. Đây cũng là trường
hợp TTTON đầu tiên sử dụng gonadotropin để kích thích buồng trứng.
qua vi phẫu và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) đầu tiên được báo cáo.
- Năm 1995, kỹ thuật PESA-ICSI (chọc hút tinh trùng từ mào tinh
xuyên da và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) được giới thiệu .
- Năm 1995, kỹ thuật TESE-ICSI (phân lập tinh trùng từ tinh hoàn ở
Phạm văn thương –k20 .động vật học
4
Phạm văn thương –k20 .động vật học
những trường hợp giảm sinh tinh tại tinh hoàn và tiêm tinh trùng vào bào
tương trứng) được báo cáo thành công.
- Năm 1997, trường hợp có thai ở phụ nữ 63 tuổi với kỹ thuật xin
trứng-TTTON được báo cáo.
- Năm 1997, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng trữ lạnh và rã đông
của Mỹ được báo cáo. 11 năm sau trường hợp đầu tiên trên thế giới được
báo cáo.
- Năm 2001, phác đồ mới trong kỹ thuật trữ trứng được báo cáo, cải
thiện đáng kể tỉ lệ thành công. Đồng thời, những trường hợp sanh đầu tiên
từ cả trứng và tinh trùng đông lạnh được báo cáo tại Ý.
Tại Việt nam
- TTTON được thực hiện thành công tại Việt nam khá muộn so với
các nước trên thế giới và trong khu vực. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây chúng ta đã đạt được những bước tiến nhanh và vững chắc. Hiện nay,
chúng ta đã thực hiện thành công các kỹ hỗ trợ sinh sản phổ biến trên thế
giới hiện nay với tỉ lệ thành công khá cao và ổn định.
- Trung tâm TTTON tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ hiện được ghi nhận
là trung tâm lớn nhất khu vực Đông Nam Á và là một trong những trung
tâm hàng đầu ở châu Á. Uy tín của ngành hỗ trợ sinh sản Việt nam đã bắt
đầu được ghi nhận trong khu vực và trên thế giới trong những năm qua.
Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã có hơn 10 báo cáo khoa học về lãnh vực này
tại các hội nghị khoa học trong vùng và trên thế giới. Trong thời gian qua,
họ đã thu hút được trên 100 trường hợp người ở nước ngoài đến điều trị.
tích lũy được kinh nghiệm, Học viện quân Y bắt đầu thực hiện các trường
hợp TTTON đầu tiên với sự hỗ trợ của Bệnh viện Từ Dũ và Viện
BVBMSS.
- Cuối năm 2001, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ hỗ trợ Bệnh viện Phụ Sản
quốc tế thực hiện các trường hợp TTTON đầu tiên.
- Đầu năm 2002, tạp chí định kỳ “Sinh sản & sức khỏe” ra mắt số đầu
tiên. Tạp chí đã đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần phổ biến kiến
thức liên quan đến hiếm muộn – vô sinh và các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đến
Phạm văn thương –k20 .động vật học
6
Phạm văn thương –k20 .động vật học
các cán bộ y tế, nhân dân và các đối tượng quan tâm trong cả nước.
- 2002, các em bé TTTON đầu tiên ra đời tại Học viện quân Y và
Bệnh viện Phụ Sản quốc tế.
- Khóa đào tạo “Sơ bộ chuyên khoa về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” đầu
tiên được khai giảng tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ.
- 2/2003, Nghị định của Chính phủ về sinh và con theo phương pháp
khoa học được ban hành.
- Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ 1999 đến nay, qua các khóa đào
tạo thường xuyên, Bệnh viện Từ Dũ đã giúp đào tạo nhân sự cho các
chương trình điều trị hiếm muộn và TTTON của nhiều đơn vị khác trong cả
nước như: Trường Đại học Y Hà nội, Bệnh viện Phụ Sản Hà nội, Bệnh đa
khoa Thái Nguyên, Bệnh viện Phụ Sản Hải phòng, Bệnh viện Phụ Sản
Thanh Hóa, Bệnh viện TW Huế, Bệnh viện Trường đại học Y Huế, Bệnh
viện Đa khoa Đà nẳng, Bệnh viện Sản Phụ khoa Bình Dương, Bệnh viện
Hùng Vương, Bệnh viện đa khoa Cần Thơ.
- Cho đến năm 2003, đa số các tỉnh thành phía Nam (khoảng 90%) đã
xây dựng được các đơn vị chuyên biệt khám, chẩn đoán và điều trị hiếm
muộn theo quan điểm hiện đại và thực hiện được kỹ thuật bơm tinh trùng
vào buồng tử cung với tinh trùng lọc rửa.
trợ quá trình có thai tự nhiên bằng cách
- Chuẩn bị trứng và tinh trùng
- Tạo điều kiện để trứng và tinh trùng gặp nhau tạo thành phôi
- Tạo điều kiện để phôi vào làm tổ ở niêm mạc buồng tử cung.
Từ đó thầy thuốc chọn lựa phương pháp hỗ trợ sinh sản thích hợp
cho từng cặp vợ chồng hiếm muộn /vô sinh
B. CÁC KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN HIỆN ĐẠI TẠI VIỆT
NAM
I. Thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào
buồng tử cung (IUI)
1. Chỉ định
Do tính hiệu quả, giá thành thấp và kỹ thuật đơn giản, kỹ thuật IUI
hiện được áp dụng rộng rãi cho nhiều chỉ định:
- Bất thường phóng tinh: lỗ tiểu đóng thấp, chấn thương tủy sống, xuất
tinh ngược dòng, bất lực do nguyên nhân thực thể hay tâm lý.
- Yếu tố cổ tử cung: chất nhầy cổ tử cung không thuận lợi, ít chất nhầy
cổ tử cung.
- Vô sinh nam: tinh trùng ít, tinh trùng di động kém, tinh trùng dị
dạng, phối hợp các bất thường trên.
- Miễn dịch: kháng thể kháng tinh trùng ở nam giới (tự kháng thể)
Phạm văn thương –k20 .động vật học
9
Phạm văn thương –k20 .động vật học
hoặc kháng thể kháng tinh trùng ở nữ giới ở cổ tử cung, trong huyết thanh
- Vô sinh không rõ nguyên nhân.
- Lạc nội mạc tử cung: dạng nhẹ, vừa.
- Rối loạn phóng noãn: sau khi điều trị gây phóng noãn, người ta phối
hợp với IUI để tăng tỉ lệ thành công của chu kỳ điều trị.
- Phối hợp nhiều bất thường trên
- Bơm tinh trùng nguời cho (đối với chồng không có tinh trùng)
- Theo dõi đáp ứng của buồng trứng được thực hiện bằng cách phối
hợp siêu âm đầu dò âm đạo và xét nghiệm nội tiết (E2, LH huyết thanh).
- Bệnh nhân sẽ được hẹn bơm tinh trùng vào buồng tử cung khoảng 36
giờ sau tiêm hCG.
2.2. Chuẩn bị tinh trùng
- Trong sinh lý thụ tinh bình thường, sau khi giao hợp, tinh dịch được
phóng vào âm đạo. Những tinh trùng di động tốt, có thể thụ tinh trứng sẽ tự
bị rơi qua lớp chất nhầy cổ tử cung để đi lên đường sinh dục phụ nữ. Kết
quả của hiện tượng này là tin h trùng với khả năng di động tốt sẽ tự tách
khỏi tinh dịch để tiếp tục đường đi vào tử cung và đi đến vòi trứng để thụ
tinh trứng. Tinh dịch có chức năng trung hòa và bảo vệ tinh trùng khỏi môi
trường acid của âm đạo. Nó còn có một phần chức năng ổn định và nuôi
dưỡng tinh trùng. Tuy nhiên, tinh dịch có nhiều ảnh hưởng xấu lên tinh
trùng sau khi được phóng vào âm đạo phụ nữ. Người ta thấy rằng tinh dịch
có thể làm giảm sức sống của tinh trùng, giảm độ di động của tinh trùng và
khả năng thụ tinh của tinh trùng.
Phạm văn thương –k20 .động vật học
11
Phạm văn thương –k20 .động vật học
- Dựa trên cơ sở sinh lý đó, người ta áp dụng nhiều biện pháp để tách
tinh trùng ra khỏi tinh dịch để sử dụng tinh trùng vào mục đích điều trị.
Đây là cơ sở của các phương pháp chuẩn bị tinh trùng.
* Lợi ích của các phương pháp chuẩn bị tinh trùng.
Chọn được các tinh trùng bình thường, di động tốt cho các phương
pháp điều trị.
- Loại được các tế bào chết, hầu hết các vi sinh vật và phần lớn các
chất độc với tinh trùng.
- Loại được một phần lớn prostaglandins trong tinh dịch, tránh co thắt
tử cung trong phương pháp IUI.
- Kích thích sự hoạt hóa đầu tinh trùng, tạo thuận lợi cho quá trình thụ
- Hút bỏ lớp môi trường ở trên, chừa lại khoảng 0,4 – 0,5 ml
- Trộn đều, lấy 1 giọt cho vào buồng đếm kiểm tra
- Phần còn lại có thể sẵn sàng để thực hiện IUI
Phương pháp lọc với thang nồng độ
a. Nguyên tắc:
Các dung môi percoll ở các nồng độ khác nhau có chức năng lọc, loại
bỏ các tinh trùng chết, dị dạng, di động kém và các thành phẩn trong tinh
dịch. Phần tinh trùng lọc được, rửa 2 lần với môi trừơng cấy để loại bớt
percoll trong môi trường cấy
b. Cách tiến hành:
- Pha các dung môi percoll đẳng trương 95% và 47,5%
- Cho 2 lớp dung môi percoll 95% và 47,5% vào ống nghiệm: mỗi lớp
1ml, lớp 95% ở dưới
- Cho khoảng 1,5ml tinh dịch lên trên 2 lớp percoll thật nhẹ nhàng
- Ly tâm 1500 vòng/ 1’ trong 15 phút
- Giữ lại 0,5ml ở đáy, cho vào ống nghiệm mới
- Pha với 2ml môi trường mới
- Ly tâm 1000 vòng/1’
- Hút bỏ lớp môi trường ở trên, chừa lại khoảng 0,4 – 0,5ml
- Trộn đều, lấy 1 giọt cho vào buồng đếm kiểm tra
- Phần còn lại có thể sẵn sàng để thực hiện IUI
Phạm văn thương –k20 .động vật học
13
Phạm văn thương –k20 .động vật học
2.3. Bơm tinh trùng vào buồng tử cung
Tinh trùng sau khi chuẩn bị phải được giữ ấm và bơm vào buồng tử
cung trong thời gian sớm nhất. Phải đảm bảo vô trùng để tránh nhiễm trùng
đường sinh dục nữ.
- Đa thai: thường không quá 20%, nếu kích thích nhiều nang noãn
trưởng thành.
- Nhiễm trùng: tỉ lệ nhiễm trùng thấp, thường do kỹ thuật chuẩn bị
tinh trùng hoặc không đảm bảo vô trùng khi thực hiện kỹ thuật bơm tinh
trùng.
- Sẩy thai: tỉ lệ sẩy thai ở các chu kỳ hỗ trợ sinh sản nói chung cao hơn
so bình thường.
- Một số các biến chứng khác có thể gặp như: xuất huyết, đau bụng,
viêm vòi trứng không nhiễm trùng, dị ứng…
II. Quy Trình Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm (IVF)
1. Chỉ định
Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) là phương pháp điều trị hiếm
muộn cho các trường hợp:
- Tắc vòi trứng
- Lạc nội mạc tử cung
- Tinh trùng ít, yếu, dị dạng
- Không tinh trùng trong tinh dịch cần lấy tinh trùng bằng phẫu thuật
mào tinh, tinh hoàn.
- Hiếm muộn không rõ nguyên nhân, bơm tinh trùng nhiều lần thất bại
- Xin trứng
2. Kỹ thuật thực hiện
Quy trình TTTON tại IVF được tiến hành như sau:
- Khám, tư vấn, làm hồ sơ và các xét nghiệm cần thiết. Các xét nghiệm
thường được tiến hành vào ngày 2 của vòng kinh.
- Từ ngày đầu kỳ kinh, bên cạnh những xét nghiệm cơ bản, bệnh nhân
được làm thêm xét nghiệm tiền mê và khám tiền mê kiểm tra sức khỏe
bệnh nội khoa, ngoại khoa, nếu có.
Phạm văn thương –k20 .động vật học
15
Phạm văn thương –k20 .động vật học
16
Phạm văn thương –k20 .động vật học
- Buồng trứng đáp ứng kém, ngưng điều trị 10 – 15%
- Quá kích buồng trứng khi kích thích 5 – 10%
- Rụng trứng sớm, trước khi chọc hút trứng 1%
- Chọc hút không có trứng 1%
- Xuất huyết nội sau chọc hút 0,2 – 0,3%
- Chảy máu bàng quang 2%
- Không thụ tinh, không có phôi 1 – 5%
- Quá kích buồng trứng khi có thai 5 – 10%
- Có nhiều hơn 1 thai (2, 3, 4 thai) 15 - 20%
- Sẩy thai sau khi có thai 15 – 20%
- Thai ngoài tử cung sau khi có thai 2%
- Sinh non 20%
Đây là vấn đề khách quan thường xảy ra ở các trung tâm TTTON
trên thế giới.
III. Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng – Intra-cytoplasmic
Sperm Injection (ICSI)
- Là kỹ thuật hỗ trợ cho quá trình thụ tinh giữa tinh trùng và trứng in-
vitro. Khi điều trị với ICSI, các bước tiến hành hoàn toàn tương đương như
TTTON thông thường, chỉ khác ở giai đoạn thụ tinh, 1 tinh trùng được tiêm
trực tiếp vào trứng dưới sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác.
Việc thành công của kỹ thuật ICSI đã tạo một tiếng vang lớn và
làm thay đổi nhiều quan niệm về quá trình thụ tinh ở người và động vật nói
chung. Kỹ thuật ICSI từ khi thành công đã được xem là một cuộc cách
mạng trong điều trị vô sinh nam. Trong một khảo sát về ICSI với qui mô
lớn nhất cho đến nay của Hiệp hội sinh sản người và Phôi học Châu Âu
(ESHRE) báo cáo năm 1998, tỉ lệ thụ tinh của noãn sau khi tiêm tinhg
trùng vào bào tương noãn của 174 bệnh nhân là 55,4%; tỉ lệ noãn thụ tinh
tiếp tục phát triển là 44,0% (số liệu năm 1994, số liệu từ 30 trung tâm khác
chọc hút được tiến hành khoảng 35 giờ sau khi tiêm hCG. Trứng chọc hút
được sẽ được cấy với môi trường cấy (IVF-20) trong tủ cấy CO2 từ 5 đến 6
giờ. Tinh dịch được lấy khoảng 2 giờ sau khi chọc hút. Sau đó tiến hành lọc
Phạm văn thương –k20 .động vật học
18
Phạm văn thương –k20 .động vật học
tinh trùng bằng Sperm Grad-100 và rửa lại 2 lần với các môi trường Sperm
Rinse-20 và Gamete-20.
Khoảng 5-6 giờ sau khi chọc hút trứng, trứng được cho vào môi
trừơng Gamete-20 chứa men hyaluronidase nồng độ 80IU/ml để tách các
lớp tế bào nang xung quanh trứng. Việc bóc tách các tế bào quanh trứng
được hỗ trợ vòi pipette Pasteru kéo nhỏ có đường kính nhỏ dần từ 100-150
mm dưới kính hiển vi soi nổi. Trứng sau đó được cho vào các giọt môi
trường trên đĩa cấy đường kính 30mm. Tinh trùng sau khi lọc và rửa cũng
được cho vào giọt PVP 10% trên đĩa cấy. Tất cả các giọt môi trường trong
đĩa cấy được phủ một lớp dầu (Ovoil-150). Sau đó đĩa cấy được đặt vào
kính hiển vi đảo ngược có bệ sưởi ấm 37
0
C để thực hiện tiêm tinh trùng
vào trứng được thực hiên dưới kính hiển vi đảo ngược với hệ thống vi thao
tác (micromanipulation) ở độ phóng đại 200 lần.
Kim tiêm tinh trùng (microinjection pipette), sẽ được đặt vào giọt
PVP 10% để cố định và bắt tinh trùng. Sau đó đặt kim giữ trứng (holding
pipette) 40 m cùng với kim tiêm tinh trùng vào giọt môi trường chứa trứng.
Tạo áp lực âm trong kim giữ trứng để giữ cố định trứng lúc tịêm tinh trùng.
Kim tiêm tinh trùng được đâm xuyên qua màng trong suốt và màng tế bào
trứng. Tinh trùng sau đó được tiêm vào bào tương trứng.
Trứng sau khi tiêm tinh trùng sẽ được nuôi cấy trong tủ cấy CO2.
việc kiểm tra thụ tinh được thực hiên từ 16-18 giờ sau. Sau đó trứng sẽ
được đặt trở lại tủ cấy. Trứng thụ tinh sẽ đựơc kiểm tra lần thứ hai vào
ICSI được thực hiện bằng kỹ thuật vi thao tác (micromanipulation)
dưới kính hiển vi đảo ngược với sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác
(micromanipulation system). Vi thao tác là kỹ thuật được sử dụng để thao
tác trên tế bào, trên giao tử và phôi. Như vậy với sự hỗ trợ của vi thao tác,
hiện nay chúng ta có thể “phẫu thuật” trên giao tử để tạo phôi
3. Một số các nguy cơ tìm ẩn của kỹ thuật ICSI
Từ khi kỹ thuật ICSI ra đời đến nay, đã có nhiều quan ngại về một
số nguy cơ có thể có đối với kỹ thuật ICSI như:
Phạm văn thương –k20 .động vật học
20
Phạm văn thương –k20 .động vật học
- Trứng có thể bị tổn thương khi tiêm tinh trùng và ảnh hưởng đến
chất lượng phôi.
- Các trường hợp vô sinh nam có thể có nhiễm sắc thể và bệnh lý di
truyền cao hơn bình thường. Khoảng 5-10% vô sinh nam do bất thường
tinh trùng nặng (mật độ tinh trùng <5 triệu/ml), là có liên quan đến bệnh lý
di truyền. Các bất thường này, có thể truyền sang con
Việc ứng dụng thành công kỹ thuật ICSI mang lại khả năng có con
cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn do nguyên bất thường chất lượng và số
lượng tinh trùng, mà trước nay tưởng chừng như không còn hy vọng. Một
lần nữa, kết quả này cho thấy khả năng tiếp thu các kỹ thuật điều trị hiện
đại trên thế giới vào thực tế Việt Nam.
CÁC PHẪU THUẬT LẤY VÀ PHÂN LẬP TINH TRÙNG TRONG
TRƯỜNG HỢP VÔ SINH NAM KHÔNG CÓ TINH TRÙNG
Percutaneous epididymal sperm aspiration (PESA)
Vô sinh do không có tinh trùng là trường hợp không tìm thấy tinh
trùng trong tinh dịch. Không tinh trùng thường chia làm hai loại: do tắc
nghẽn và không do tắc nghẽn. Trong trường hợp không tinh trùng do tắc,
tinh hoàn vẫn sinh tinh bình thường nhưng tinh trùng không thể ra bên
ngoài. Nguyên nhân thường gặp là do bẩm sinh, nhiễm trùng đường sinh
- Kỹ thuật này chỉ thực hiện với trường hợp không có tinh trùng do tắc.
VI. Lấy tinh trùng từ tinh hoàn bằng chọc hút và tiêm tinh trùng
vào bào tương trứng TESA -ICSI)
- Sau khi gây tê và cố định tinh hoàn, phẫu thuật viên đâm kim qua da
Phạm văn thương –k20 .động vật học
22
Phạm văn thương –k20 .động vật học
vào mô tinh hoàn và hút từ từ ra mẫu mô. Thường phải hút nhiều mẫu mô ở
nhiều vị trí khác nhau. Xé nhỏ mẫu mô và tìm tinh trùng dưới kính hiển vi.
Nếu quá trình sinh tinh bị suy giảm, khả năng lấy được tinh trùng thường
thấp, khoảng 50%(Tourneye, 2001).
- Kỹ thuật này có thể thực hiện cho cả 2 trường hợp không có tinh
trùng do tắc hoặc không do tắc.
VII. Kỹ thuật TESE-ICSI (phân lập tinh trùng từ tinh hoàn ở
những trường hợp giảm sinh tinh tại tinh hoàn và tiêm tinh trùng vào
bào tương trứng)
- Kỹ thuật này tương tự sinh thiết tinh hoàn. Phẫu thuật bộc lộ tinh
hoàn và lấy nhiều mẫu mô tinh hoàn. Các mẫu thu được sẽ được tách nhỏ
hoặc sử dụng một số loại men để tăng khả năng thu được tinh trùng từ các
ống sinh tinh. Tỷ lệ thu được tinh trùng cao hơn so với TESA (Tourneye,
2001).
- Kỹ thuật này có thể thực hiện cho cả 2 trường hợp không có tinh
trùng do tắc hoặc không do tắc.
- Điều trị vô sinh cho những cặp vợ chồng không tinh trùng có thể
được thực hiện bằng cách lấy tinh trùng từ mào tinh (MESA, PESA) hay
tinh hoàn (TESA, TESE). Điều trị thường phối hợp với kỹ thuật ICSI để
tăng tỷ lệ thành công. Tỷ lệ thành công trong điều trị thường cao ở những
trường hợp không tinh trùng do tắc nghẽn. Với các kỹ thuật trên, năm
2002, khoa Hiếm muộn bệnh viện Từ Dũ phối hợp với phòng khám Nam
khoa bệnh viện Bình Dân, TPHCM. đã điều trị cho hàng trường hợp với tỉ
trùng
trong
tinh
dịch.
VIII. Thành tựu và tình hình sử dụng thuốc kích thích buồng trứng
1. Phác đồ Clomiphene citrate
Ưu điểm của phác đồ này là giá thành thấp, tỉ lệ quá kích buồng
trứng thấp. Tuy nhiên, do lượng FSH tăng trong phác đồ này là FSH nội
sinh, do đó, số lượng nang noãn có được không nhiều, khó tiên lượng. . Kết
quả điều trị thường thấp. Vì thế CC ít được sử dụng đơn thuần để kích thích
buồng trứng trong TTTON.
2. Phác đồ CC và human menopausal gonadotropin
Phác đồ này kết hợp được tăng FSH nội sinh do tác dụng của CC
và tăng FSH ngoại sinh từ hMG. Số lượng nang noãn có được gia tăng
đáng kể so với phác đồ CC đơn thuần hay chu kỳ tự nhiên .
3. Phác đồ hMG/ FSH
Với phác đồ này, thường phải sử dụng nhiều hMG hơn so với phác
đồ trên. Tuy nhiên, số nang noãn có được cũng nhiều hơn và tỉ lệ có thai
sau TTTON cũng cao hơn. Phác đồ này cũng tránh được một số tác dụng
phụ bất lợi của CC.
Phác đồ này hiện ít được sử dụng do không kiểm soát được sự xuất
hiện của đỉnh LH sớm, có thể ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của kích thích
buồng trứng và tỉ lệ thành công (Salha và Balen, 2000).
4. Phác đồ có sử dụng GnRHa và hMG / FSH
Vào khoảng cuối thập kỷ 80, GnRHa bắt đầu được đưa vào sử dụng
để ức chế tuyến yên nhằm tránh hiện tượng rụng trứng sớm khi kích thích
buồng trứng. Hai phác đồ thường được sử dụng là phác đồ ngắn và phác đồ
- Về hiệu quả điều trị: Về tính thuận tiện: Thời gian thực hiện việc
tiêm thuốc 50 ( 10 giây; bệnh nhân hầu như không có cảm giác đau trong
Phạm văn thương –k20 .động vật học
25