Cuộc cạnh tranh giữa 2 loài chim sẻ ở quần đảo Galapagos đã khiến cho
mỏ của một loài nhỏ lại, giúp chúng tìm thức ăn dễ dàng hơn. Các nhà
khoa học đã chứng kiến được sự thay đổi này.
Việc quan sát thấy quá trình thu nhỏ của mỏ chim mang lại một trong
những mô tả tốt nhất về sự tiến hoá điển hình trong tự nhiên.
Trong bài báo mới đây trên Science, Peter Grant và Rosemary Grant, cả
hai đều là nhà sinh học tại Đại học Princeton, bang NewJersey (Mỹ) đã mô
tả cuộc cạnh tranh giữa loài chim sẻ đất trung bình (Geospiza fortis) và
loài chim sẻ đất lớn (Geospiza magnirostris).
Loài sẻ đất trung bình G.fortis đã bị dồn dép và phải tiến hoá ra một cái mỏ
nhỏ hơn khi xuất hiện kẻ cạnh tranh (loài chim sẻ đất lớn Geospiza
magnirostris, bay đến hòn đảo này hơn 20 năm trước) và điều kiện hạn
hán khắc nghiệt gần đây.
"Điều đó xảy ra rất nhanh", Peter Grant cho biết. Trên thực tế, nó xảy ra
chỉ trong một thế hệ chim duy nhất, Grant nói.
Cú huých tiến hoá bắt đầu khi một vài con chim sẻ lớn đến định cư trên
đảo trong một đợt El Nino ẩm ướt khác thường năm 1982.
Kể từ đó, loài sẻ lớn G. magnirostris này đã ăn hầu hết loại hạt lớn có gai
của những cây leo trên đảo và dần dần buộc loài sẻ trung bình phải phụ
thuộc vào các loại hạt nhỏ hơn của những cây khác.
Kết quả là sẻ G. fortis với cái mỏ nhỏ hơn không cạnh tranh được với loài
lớn, và thường không nuôi nổi con của chúng. Điều này buộc một số con
phải phát triển theo hướng thu gọn lại dụng cụ kiếm ăn của mình.
Nhưng vấn đề thực sự xảy ra vào giữa năm 2004-2004, khi mà hạn hán
khắc nghiệt trên đảo xảy ra và tất cả các loại hạt cây đều khan hiếm.
"Hầu hết các con chim có mỏ lớn trước hạn hán đã biến mất", Grant nói.
Trong đó bao gồm đa số cá thể của loài sẻ mới đến G. magnirostris và
những con thuộc loài G. fortis vẫn còn giữ cái mỏ lớn.
"Đây là một ví dụ kinh điển về sự tiến hoá nhanh chóng", David Skelly, một
nhà sinh thái học và tiến hoá tại Đại học Yale nhận xét về tình huống này.
Thông thường tiến hoá được xem là diễn ra chậm chạp ở những loài động
hơn 4000 em bé ra đời từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong tổng số trên 1
triệu em bé đã ra đời trên thế giới.
Mặc dù đi sau thế giới khỏang 20 năm và sau các nước trong khu vực
gần 15 năm, lãnh vực hỗ trợ sinh sản ở Việt nam đã đạt được những
bước tiến lớn trong 10 năm qua. Việt nam hiện là nước có số chu kỳ
điều trị hỗ trợ sinh sản cao nhất trong các nước Đông Nam Á. Việt nam
cũng đang dẫn đầu khu vực về một số kỹ thuật điều trị như: ICSI với tinh
phẫu thuật, xin trứng, nuôi trưởng thành trứng trong ống nghiệm, áp
dụng phác đồ kích thích buồng trứng mới… Nhiều đồng nghiệp trong
khu vực trong những năm qua đã đến Việt nam để học hỏi kinh nghiệm.
Ngày càng có nhiều báo cáo khoa học của các chuyên gia Việt nam về
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản xuất hiện tại các hội thảo, hội nghị, tạp chí khoa
học của khu vực và trên thế giới.
KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN LÀ GÌ ?
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) bao gồm các kỹ thuật giúp tăng khả năng
sinh sản của người. Theo định nghĩa, ART là những kỹ thuật trong đó có
thực hiện đem tế bào trứng người ra khỏi cơ thể. Đây là những kỹ thuật
được phát triển cơ bản dựa trên kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
(TTTON) trên người.
Nguyên tắc cơ bản của TTTON là tinh trùng và trứng được đem ra khỏi
cơ thể người, sau đó được xử lý và nuôi cấy trong điều kiện phòng thí
nghiệm. Quá trình tạo phôi và nuôi cấy phôi trong những ngày đầu cũng
diễn ra bên ngòai cơ thể. Sau đó, phôi hình thành sẽ được chọn lựa để
cấy trở lại vào buồng tử cung của người vợ. Sự phát triển và làm tổ của
phôi, sự phát triển của thai sau đó diễn ra tương tự như những trường
hợp có thai tự nhiên.
Vào năm 1978, em bé đầu tiên từ TTTON, Louis Brown, ra đời tại Anh
đánh dấu bước đầu cho sự phát triển của TTTON trên người. Đến nay,
TTTON và các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nói chung, đã được thực hiện
chọc chút trứng, có thể dời đến ngày 5, tùy phác đồ)
- Hai tuần sau khi chuyển phôi, người phụ nữ được lấy máu để thử thai.
Nếu kết quả thử thai dương tính, 2-3 tuần sau, sản phụ sẽ được siêu âm
để xác định túi thai và tim thai trong buồng tử cung.
- Quá trình theo dõi thai sẽ diễn ra bình thường như những thai kỳ khác.
Tỉ lệ thành công của mỗi chu kỳ điều trị TTTON trung bình trên thế giới
hiện nay khoảng 25%-30%. Tỉ lệ này phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, chỉ
định điều trị và phác đồ điều trị của từng trung tâm.
Chỉ định
Chỉ định ban đầu của TTTON là tổn thương vòi trứng không có khả năng
hồi phục do bệnh lý vùng chậu hoặc do phẫu thuật trước đó. Tuy nhiên,
sau đó TTTON được mở rộng cho nhiều chỉ định khác như: vô sinh nam,
vô sinh không rõ nguyên nhân, lạc nội mạc tử cung…
TIÊM TINH TRÙNG VÀO BÀO TƯƠNG TRỨNG
(INTRACYTOPLASMIC SPERM INJECTION - ICSI)
Kỹ thuật được ra đời nhằm khắc phục tình trạng tỉ lệ thụ tinh thấp hoặc
không thụ tinh khi thực hiện TTTON, do bất thường quá trình thụ tinh hay
chất lượng tinh trùng kém. Trong kỹ thuật TTTON cổ điển, để tinh trùng
kết hợp tự nhiên với trứng trong môi trường nhân tạo, người ta phải cần
đến hàng trăm nghìn hay hàng triệu tinh trùng để thụ tinh được một
trứng. Với kỹ thuật ICSI này, người ta có thể tạo một hợp tử hoàn chỉnh
bằng một trứng và một tinh trùng duy nhất. Đây được xem là một cuộc
cách mạnh trong điều trị vô sinh do nguyên nhân ở nam giới. Kỹ thuật
này được thực hiện thành công đầu tiên trên thế giới vào năm 1993 và
thành công đầu tiên ở Việt nam năm 1999.
Ở các trung tâm hỗ trợ sinh sản lớn, kỹ thuật ICSI hiện đang thay thế
dần kỹ thuật TTTON cổ điển. Ở một số trung tâm, 100% các chu kỳ
HTSS đều thực hiện ICSI. Kỹ thuật này thường cho tỉ lệ thụ tinh cao
công đầu tiên ở Việt nam năm 2000. Cho đến nay, ở Việt nam đã có
hàng nghìn trẻ được ra đời từ hỗ trợ sinh sản bằng trứng hiến tặng, đem
lại hạnh phúc cho nhiều gia đình.
KỸ THUẬT ĐÔNG LẠNH VÀ LƯU TRỮ GIAO TỬ VÀ PHÔI
Nhằm lưu giữ khả năng sinh sản và gia tăng hiệu quả của các kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản, người ta đã nghiên cứu đông lạnh và lưu trữ thành công
tinh trùng, phôi và trứng người.
Bình thường tinh trùng người chỉ tồn tại được vài ngày sau khi xuất tinh;
trứng người tồn tại không quá 1 ngày sau khi rụng trứng; phôi người nếu
không phát triển và làm tổ được trong buồng tử cung sẽ tự thoái hóa.
Bằng các kỹ thuật đông lạnh, lưu trữ hiện nay, người ta có thể lưu trữ
tinh trùng, phôi và trứng người trong nhiều năm. Hiện nay, các kỹ thuật
đông lạnh và lưu trữ trên đều có thể thực hiện ở Việt nam.
Gần đây, với việc triển khai thành công phương pháp đông lạnh cực
nhanh bằng kỹ thuật thủy tinh hóa (vitrification) giúp tăng hiệu quả và
giảm giá thành điều trị, các chuyên gia ở Việt nam đã đạt đến trình độ
thế giới trong công nghệ trữ lạnh phôi và trứng người.
SỨC KHỎE CÁC BÉ SINH RA TỪ CÁC KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH
SẢN
Người ta ước tính hiện nay đã có hàng triệu người trên thế giới được
sinh ra từ KTHTSS. Tại Châu Au, hiện nay có từ 1-5% trẻ sinh ra hàng
năm là kết quả của KTHTSS. Ở một số nước Bắc Au, hàng năm có gần
2000 trường hợp KTHTSS trên mỗi triệu dân. Ở nhiều các nước phát
triển, chi phí thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được nhà nước tài
trợ một phần hoặc toàn phần. KTHTSS hiện là một phân ngành quan
trọng trong Sản Phụ khoa hiện đại và một bộ phận không thể thiếu ở hầu
“ảo”, hay không có tinh trùng di động khi xuất tinh, nhưng vẫn có thể mang
thai.13/06/2009
Các kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản tại bệnh viện Từ Dũ
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies – ART) bao
gồm những kỹ thuật điều trị vô sinh trong đó có chọc hút trứng và đem
trứng ra ngoài cơ thể01/06/2009
Trữ lạnh phôi
Như chúng ta đã biết, trữ lạnh mô hay trữ lạnh tế bào là để bảo tồn nó cho
tương lai. Với những kỹ thuật hiện nay, trữ lạnh phôi là một trong những
phương pháp hỗ trợ hiệu quả trong qúa trình điều trị vô sinh cho những
trường hợp bệnh nhân có phôi dư sau chu kỳ chuyển phôi tươi31/05/2009
Trữ lạnh trứng
Trữ lạnh trứng đầu tiên thành công vào năm 1986. hiện nay trữ lạnh trứng
được ứng dụng rộng rãi trên thế giới nhờ vào các thuận lợi sau:
• Trữ lạnh trứng thích hợp đối với những phụ nữ chưa muốn có con vào
thời điểm hiện tại 31/05/2009
Bạn cần biết gì về ICSI
Kỹ thuật IVF cổ điển còn một số mặt hạn chế như đòi hỏi chất lượng tinh
trùng người chồng phải tương đối khá tốt, bất thường nhẹ hay trung bình.
Do vậy, những bệnh nhân nam có chất lượng tinh trùng kém, rất kém,
hoặc bất thường nặng hay thậm chí không có tinh trùng thì cơ hội làm cha
gần như là không có. Mãi đến năm 1992, kỹ thuật ICSI lần đầu tiên được
công bố đã thật sự là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực hỗ trợ sinh
sản31/05/2009
Lịch sử phát triển của kỹ thuật hổ trợ sinh sản trên thế giới và tại Việt
nam
1959, Chang lần đầu tiên thành công trong việc cho thụ tinh giữa tinh trùng
và trứng động vật có vú (thỏ) trong điều kiện phòng thí nghiệm. Đây được
xem là thành tựu quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của
TTTON.26/04/2004
chọc hút trứng, với số phôi chuyển trung bình là 3.7 ( 0.8 phôi. Số liệu
được so sánh giữa hai nhóm có thai và không có thai.
Các chỉ định điều trị bao gồm suy buồng trứng sớm (27.1%), đáp ứng kém
với kích thích buồng trứng trong các chu kỳ TTTON trước đây (56%) và
phụ nữ mãn kinh (16.9%). Tuổi trung bình người nhận là 40 ( 5.3 tuổi. Thời
gian vô sinh trung bình là 11.5 ( 5.4 năm. Nồng độ FSH vào ngày 2 vòng
kinh là 22.8 ( 24.9 IU/L. tuổi trung bình của người cho là 29.9 ( 4.2 tuổi,
thay đổi từ 20 đến 38 tuổi, với nồng độ FSH vào ngày 2 vòng kinh là 4.6
( 1.3 IU/L. Tỷ lệ thai lâm sàng và thai diễn tiến (trên chu kỳ chuyển phôi)
trong nghiên cứu lần lượt là 55.9% và 47.5%.
Tỷ lệ sảy thai và đa thai lần lượt là 6.8% và 25.4%. Không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có thai và không có thai về tuổi người
nhận, tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh tuổi
người cho giữa hai nhóm (28.8 ( 4.5 so với 31.2 ( 3.6, p = 0/03).
Ngoài ra, tỷ lệ thai diễn tiến cũng cao hơn đáng kể khi tuổi người cho ( 29
so với nhóm phụ nữ từ 30 tuổi trở lên (57.6% so với 42.4%, p < 0.01).
Không có mối liên hệ nào giữa tuổi người nhận và độ dày niêm mạc tử
cung được tìm thấy. Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
hai nhóm có và không có thai về các yếu tố như số trứng chọc hút được,
số phôi được hình thành, số phôi có chất lượng tốt cũng như độ dày niêm
mạc tử cung vào ngày cho hCG (lần lượt là 14.6 ( 7.1, 11.1 ( 6.3, 4.9 ( 3.2,
11.0 ( 1.7 so với. 10.3 ( 5.2, 6.4 ( 2.7; p±4.1, 2.3 ( 2.5, 8.5 < 0.01).
Kết quả nghiên cứu này cho thấy TTTON-cho trứng là một biện pháp điều
trị đem lại thành công khá cao cho những phụ nữ vô sinh do dự trữ buồng
trứng giảm. Sự đáp ứng của niêm mạc tử cung với nội tiết ngoại sinh sử
dụng trong nghiên cứu có vẻ không phụ thuộc tuổi người nhận. Bên cạnh
tuổi người cho, độ dày niêm mạc tử cung, số trứng chọc hút được và số
phôi có chất lượng tốt có thể được xem là các yếu tố tiên lượng tỷ lệ thành
công của chương trình TTTON-cho trứng.
http://www.ivftudu.com.vn/article/1140/
sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác.
Việc thành công của kỹ thuật ICSI đã tạo một tiếng vang lớn và làm thay
đổi nhiều quan niệm về quá trình thụ tinh ở người và động vật nói chung.
Kỹ thuật ICSI từ khi thành công đã được xem là một cuộc cách mạng trong
điều trị vô sinh nam. Trong một khảo sát về ICSI với qui mô lớn nhất cho
đến nay của Hiệp hội sinh sản người và Phôi học Châu Aâu (ESHRE) báo
cáo năm 1998, tỉ lệ thụ tinh của noãn sau khi tiêm tinhg trùng vào bào
tương noãn của 174 bệnh nhân là 55,4%; tỉ lệ noãn thụ tinh tiếp tục phát
triển là 44,0% (số liệu năm 1994, số liệu từ 30 trung tâm khác nhau).
Các em bé sinh ra do thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên tại Việt Nam vào
tháng 4 năm 1998 tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ. Đây cũng là nơi đầu tiên
ở Việt Nam thực hiên thành công kỹ thuật tiêm trùng vào bào tương trứng
năm 1998, em bé đầu tiên được sinh ra kỹ thuật này vào tháng 2/1999.
cho đến nay chưa có nghiên cứu nào báo cáo về khả năng ứng dụng và
kết quả kỹ thuật ICSI trong điều trị vô sinh nam tại Việt Nam.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là một nghiên cứu. Chúng tôi thu thập các số liệu từ tất cả các trường
hợp được điều trị với kỹ thuật ICSI tại khoa Hiếm muộn, Bệnh viện Phụ
Sản Từ Dũ từ tháng 5/1999 đến tháng 3/2000.
Qui trình thực hiện ICSI
Người vợ được cho thuốc kích thích buồng trứng để tăng tối đa nang noãn
phát triển trong chu kỳ điều trị. Chúng tôi sử dụng phác đồ dài, phối hợp
GnRH agonist (Decapeptyl 0,1 mg) và FSH tái tổ hợp (Puregon). Bệnh
nhân sau đó được theo dõi bằng siêu âm vá định lượng nội tiết (LH, E2)
để điều chỉnh liều thuốc và xác định thời điểm nang noãn trưởng thành.
hCG (Pregnyl) được sử dụng để kích thích sự trưởng thành của noãn.
Chọc hút trứng qua âm đạo, dưới hướng dẫn của siêu âm với đầu dò âm
đạo. Trứng chọc hút được tiến hành khoảng 35 giờ sau khi tiêm hCG.
Trứng chọc hút được sẽ được cấy với môi trường cấy (IVF-20) trong tủ
cấy CO2 từ 5 đến 6 giờ.
âm 3 tuần sau để siêu âm xác định túi thai trong buồng tử cung. Thai lâm
sàng được định nghĩa khi trên siêu âm thấy có túi thai và tim trong lòng tử
cung.
Tất cả các số liệu đều được ghi nhận từ hồ sơ bệnh án theo dõi và xử lý
bằng phần mềm Microsoft Excel 97.
KẾT QUẢ
Từ tháng 5/1999 đến 2/2000, chúng tôi đã thực hiện ICSI cho 37 trường
hợp với tổng số trứng được tiêm tinh trùng là 403 trứng.
Các đặc điểm về tuổi vợ, tuổi chồng, mật độ tinh trùng, số trứng chọc hút
được và số trứng được tiêm tinh trùng được ghi nhận như sau:
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân
Tuổi trung bình của chồng là 37,6 (4,8. ở đa số các cặp vợ chồng tham gia
chương trình này, tuổi không cao.
Số trứng được tiêm tinh trùng ít hơn số trứng được chọc hút do có một tỉ
lệ nhất định trứng chưa trưởng thành khi đánh giá dưới kính hiển vi.
Chúng tôi chỉ thực hiên ICSI đối với các trứng trưởng thành. Trứng trưởng
thành được xác định bởi sự xuất hiện của thể cực thứ nhất ở khoang
quanh noãn.
Bảng 2. Kết quả kỹ thuật của ICSI
Cột thứ 2 cho thấy kết quả kỹ thuật của kỹ thuật ICSI thực hiện tại Phòng
thụ tinh trong ống nghiệm, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ. Các tỉ lệ phần trăm
được tính trên tổng số trứng đã được ICSI.
Trứng sống sau ICSI được tính là số trứng không bị thoái hóa hoặc vỡ sau
nhưng tỷ lệ dị dạng cao. Thực tế trên 80% trường hợp của mẫu nghiên
cứu có bất bình thường về tinh trùng vừa hoặc nặng (mật độ tinh trùng < 5
triệu/ml kèm với bất thường về tỉ lệ di động và tỉ lệ dị dạng của tinh trùng).
Để có dữ liệu để đánh giá các số liệu của chương trình ICSI tại bệnh viện
Từ Dũ, chúng tôi tham khảo với số liệu liên quan với chương trình ICSI tại
Trung tâm Y học sinh sản, thuộc Bệnh Viện Trường Đại học Brussels, Bỉ.
Đây là trung tâm thực hiện ICSI đầu tiên trên thế giới. So với số liệu trong
5 năm đầu của trung tâm trên, các số liệu của chúng tôi đạt được gần
tương đương.
Các số liệu về số trứng sống, số trứng thụ tinh và số phôi sau ICSI thể
hiện thành công của kỹ thuật thực hiên ICSI. Tỷ lệ thành công của kỹ thuật
ICSI phụ thuộc vào nhiều yếu tố: phác đồ chuẩn bị trứng, phác đồ chuẩn
bị tinh trùng, chất lượng kỹ thuật của máy móc và dụng cụ hỗ trợ như: kính
hiển vi, kim giữ trứng, kim tiêm tinh trùng… tuy nhiên vấn đề quan trọng
nhất là kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng và kỹ thuật nuôi cấy
trứng và phôi.
Kỹ thuật ICSI bao gồm một sự phối hợp rất chính xác của 2 tay của người
thực hiện trên nhiều công đoạn: bất động tinh trùng, hút tinh trùng vào kim,
giữ trứng và đặt kim đúng vị trí, đâm kim qua màng trong suốt làm thủng
màng tế bào trứng, tiêm tinh trùng… Để đảm bảo một tỷ lệ trứng sống thụ
tinh và có khả năng phát triển thành phôi cao, người thực hiện cần phải có
sự kiên nhẫn, khéo tay và tiû mỉ. Các kết quả trên cho thấy dù mới bắt đầu
một kỹ thuật rất mới ở Việt Nam, chúng tôi đã đạt được một kết quả hết
sức khả quan, mở ra triển vọng ứng dụng và phát triển kỹ thuật này ở Việt
Nam.
Kết quả điều trị còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác ngoài các yếu tố kỹ
thuật của ICSI như chọn phôi chuyển vào buồng tử cung, kỹ thuật chuyển
phôi, phác đồ chuẩn bị nội mạc tử cung tạo điều kiện thuận lợi cho phôi
làm tổ. Do số trứng chọc hút được ở mỗi chu kỳ tương đối cao, nên dù kết
quả kỹ thuật ICSI của chúng tôi có thấp hơn so với nghiên cứu tham khảo,
các bất thường cao hơn.
- Các bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể thường do truyền từ cha (cha
có bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể gây thiểu năng tinh trùng).
Ít có nghiên cứu nào ghi nhận các dị tật và bất thường nhiễm sắc thể do
bản thân kỹ thuật ICSI gây ra. Do đó cho đến nay, kỹ thuật ICSI vẫn được
đánh gía là một kỹ thuật điều trị an tồn, mặc dù vấn đề theo dõi lâu dài
vẫn được đặt ra.
Trong số các trẻ sinh ra do ICSI tại bệnh viện Từ Dũ cho đến nay, chúng
tơi chưa phát hiện trừơng hợp dị tật bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể
nào trên việc theo dõi sau sanh và nhiễm sắc thể đồ. Chúng tơi cũng chưa
phát hiện dị tật bẩm sinh nào trên siêu âm theo dõi tiền sản của các
trường hợp có thai sau thực hiện ICSI.
Kỹ thuật ICSI từ khi được báo cáo thành công năm 1992 đã phát triển rất
nhanh trên toàn thế giới. Ơû một số trung tâm lớn, tỷ lệ áp dụng ICSI vào
các chu kỳ hỗ trợ sinh sản lên đến trên 60%. Từ hơn 5 năm nay, người ta
cũng đã mở rộng kỹ thuật ICSI cho các trường hợp không có tinh trùng.
Trong những trường hợp này, người ta sẽ sinh thiết từ mào tinh hoặc tinh
hoàn để tìm tinh trùng sau đó thực hịên ICSI bình thường. Hầu hết các kết
quả đều báo đạt được tỷ lệ thành công tương đương với các trường hợp
có tinh trùng trong tinh dịch, nếu các tinh trùng từ sinh thiết đã trưởng
thành về mặt hình thái.
ICSI được thực hiện bằng kỹ thuật vi thao tác (micromanipulation) dưới
kính hiển vi đảo ngược với sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác
(micromanipulation system). Vi thao tác là kỹ thuật được sử dụng để thao
tác trên tế bào, trên giao tử và phôi. Như vậy với sự hỗ trợ của vi thao tác,
hiện nay chúng ta có thể “phẫu thuật” trên giao tử để tạo phôi. Nếu Vi phẩu
thuật trong ngoại khoa giúp ta phẫu thuật để bảo toàn hay thay đổi chức
năng của một tổ chức, một cơ quan trong cơ thể người thì vi thao tác có
thể giúp ta hình thành một cá thể hoàn chỉnh.
Những nghiên cứu đầu tiên trên tế bào ứng dụng vi thao tác được báo cáo
2. Cohen J, Willadsen S, Schimmel T và Levron Jacob (2000).
Micromanipulation as a clinical tool. Trong “Handbook of In Vitro
Fertilization” 2nd edition của Trounson A. và Gardner D (Eds.). CRC Press,
USA: 256-306.
3. Devroey P, Tarlatzis BC và Van Steirteghem A (Eds) (1998). Current
Theory and Practice of ICSI. Human Reproduction, volume 13, supplement
1.
4. Flaherty SP và Matthews CD (1994).Intracytoplasmic Sperm Injection –
The Revolution in Male Infertility. CSIRO, Australia.
5. Tarlatzis BC và Bili H (1998). Survey in intracytoplasmic sperm injection:
report from the ESHRE ICSI Task Froce. European society of Human
Reproducion and Embryology. Human Reproduction, 1998 Apr; 13 Suppl
1: 165-177.
6. Van Steirteghem A. (1999) Press Release: A. Van Steirteghem on the
Follow up of Children born after ICSI. Ref.: www.eshre.com/?610.
7. Van Steirteghem A. (2000). Assisted fertilization. Trong “Handbook of In
Vitro Fertilization” 2nd edition của Trounson A. và Gardner Được (Eds.),
CRC Press, USA: 145-166.
8. Wennerholm UB, Bergh C., Hamberger L và cs. (2000). Incidence of
congenital malformations in children born after ICSI. Human Reproductive
vol.15, no.14:944-948.
9. American Society for Reproductive Medicine (2000). 1996 Assisted
Reproductive Technology Success Rate Report.
10. Hồ Mạnh Tường, Vương Thị Ngọc Lan, Phạm Việt Thanh, Nguyễn Thị
Ngọc Phượng (1999) thụ tinh trong ống nghiệm. Thời sự Y Dược Học, bộ
IV, số 5: 247-249
Các tin khác
http://www.ivftudu.com.vn/article/1133/
Lịch sử phát triển của kỹ thuật hổ trợ sinh sản trên thế giới và tại Việt
nam
Sau đó, trong những năm 80, kỹ thuật TTTON đã phát triển rất mạnh và
lần lượt được báo cáo thành công tại nhiều nước trên thế giới, kể cả ở
Châu Á. Trong đó, Singapore được ghi nhận là nơi thực hiện thành công
TTTON đầu tiên ở Châu Á vào năm 1983 bởi nhóm nghiên cứu của SC Ng
và cộng sự.
1983, siêu âm đầu dò âm đạo được giới thiệu và kỹ thuật chọc hút trứng
qua ngả âm đạo với với hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo được giới
thiệu lần đầu tiên và thay thế hoàn toàn việc chọc hút trứng quan nội soi
tốn kém, nguy hiểm và kém hiệu quả.
1984, kỹ thuật chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) được báo cáo thành
công tại Mỹ.
1984, em bé đầu tiên ra đời từ trường hợp một phụ nữ không còn buồng
trứng, thực hiện xin trứng-TTTON tại Úc.
1984, em bé đầu tiên sinh ra từ phôi người đông lạnh được báo cáo ở Úc
bởi Trounson và Mohr.
1986, Chen báo cáo trường hợp có thai từ trứng người sau đông lạnh và
rã đông tại Úc. Tuy nhiên, tỉ lệ thành công được báo cáo rất thấp.
1988, trường hợp tiêm tinh trùng vào dưới màng trong suốt (SUZI) được
báo cáo thành công lần đầu tiên tại Singapore bởi SC Ng và cộng sự.
1989, kỹ thuật đục thủng màng trong suốt (PZD) để hỗ trợ thụ tinh được
giới thiệu ở Mỹ bời Cohen.
1992, kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng được báo cáo thànnh
công lần đầu tiên tại Bỉ bởi Palermo và cộng sự.
1994, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng non trưởng thành trong ống
nghiệm (IVM) được báo cáo tại Úc.
1994, các trường hợp MESA-ICSI (hút tinh trùng từ mào tinh qua vi phẫu
và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) đầu tiên được báo cáo.
1995, kỹ thuật PESA-ICSI (chọc hút tinh trùng từ mào tinh xuyên da và
tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) được giới thiệu .
1995, kỹ thuật TESE-ICSI (phân lập tinh trùng từ tinh hoàn ở những
trữ lạnh tinh trùng, TTTON.
• 1999, Bệnh viện Hùng Vương bắt đầu thực hiện TTTON.
• 1999-2000, Bệnh viện Từ Dũ bắt đầu đào tạo và chuyển giao công
nghệ cho viện Bảo vệ bà mẹ và sơ sinh. Trong thời gian này, 6 bác
sĩ và 2 kỹ thuật viên của Viện BVBMSS đã được đào tạo tại Bệnh
viện Từ Dũ.
• Cũng trong thời gian này, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã đào tạo các
kỹ thuật viên của Viện BVBMSS kỹ thuật thực hiện tinh dịch đồ
theo tiêu chẩn của WHO và kỹ thuật lọc rửa tinh trùng. Nhờ đó,
trước khi thực hiện được TTTON Viện BVBMSS cũng đã triển khai