Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG…………………….
TIỂU LUẬN
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Chương I .Các rủi ro trong sinh sản [10]
1.Vô sinh
a. Khái niệm:
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
2
Nguyên nhân do nam 30% các trường hợp
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
3
Nguyên nhân có cả nam lẫn nữ 20% các trường hợp
Không tìm thấy nguyên nhân 10-15% các trường hợp
c. Phương pháp điều trị:
- Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (thụ tinh nhân tạo): Tinh trùng được chọn lọc
và bơm vào buồng tử cung người vợ cho những trường hợp vô sinh chưa rõ nguyên
nhân, cổ tử cung bất thường.
- Kích thích buồng trứng.
- Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTÔN): Tinh trùng của người chồng và trứng của
người vợ được thụ tinh trong phòng thí nghiệm, sau đó phôi được cấy vào tử cung
người vợ. Áp dụng cho các trường hợp tắc và tổn thương vòi trứng, vô sinh không
rõ guyên nhân, bất thường tinh trùng nhẹ.
- Xin trứng, TTTÔN: Tinh trùng của người chồng và trứng của người cho được thụ
tinh trong ống nghiệm, sau đó được cấy vào tử cung người vợ. Áp dụng cho những
người bị suy buồng trứng sớm, bị cắt 2 buồng trứng.
- Xin tinh trùng: Cho các trường hợp không có tinh trùng.
- Mang thai hộ: Tinh trùng của người chồng và trứng của người vợ được TTTÔN,
sau đó cấy phôi vào người mang thai hộ. Áp dụng cho những trường hợp người vợ
không thể mang thai do bệnh lý, tử cung bị bất thường, dị dạng.
- ICSI và MESA ICSI: Áp dụng cho trường hợp người chồng không có tinh trùng
trong tinh dịch do bị tắc nghẽn đường dẫn tinh. ICSI là phương pháp thụ tinh trong
ống nghiệm bằng cách tiêm tinh trùng vào bào tương trứng. Còn trong MESA
ICSI, người chồng sẽ được mổ để lấy tinh trùng, đồng thời người vợ được chọc hút
lấy trứng, sau đó thực hiện các thủ thuật TTTÔN.
- Canh ngày rụng trứng và giao hợp xung quanh thời điểm đó: Áp dụng với những
cặp vợ chồng trẻ mới phát hiện bị vô sinh, nguyên nhân chưa rõ ràng.
- Khối u phần phụ chèn ép vòi trứng.
- Những phẫu thuật ở vòi trứng trước đó như: triệt sản, nối vòi trứng.
Nhóm 3: Chất nicotin
Các nghiên cứu cho thấy, thuốc lá không chỉ làm chậm và khó thụ thai, sảy
thai tự nhiên mà còn gây nên hiện tượng thai ngoài tử cung ở các thai phụ.
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
5
Chất nicotin có trong thuốc lá làm hỏng các nhung mao phủ trên các thành
ống và làm giảm cử động của các vòi trứng, gây khó khăn cho quá trình trứng thụ
tinh tiến về tử cung. Từ đó dẫn đến trứng làm tổ trong vòi trứng và phát triển thành
thai ngoài tử cung, gây nguy cơ vỡ vòi trứng. Những phụ nữ hút từ 10 điếu
thuốc/ngày trở lên có nguy cơ mắc chứng này gấp 1,5 lần người khác.
3. Chửa trứng
a. Khái niệm:
Chửa trứng là bệnh của tế bào nuôi do các gai rau thái hóa phồng lên tạo
thành túi ối chứa dịch dính vào nhau như chùm nho. Thường toàn bộ tử cung chứa
các túi dịch (như trứng ếch). Trong trường hợp chửa trứng, nhau thai phát triển
thành khối không được kiểm soát. Đa số trường hợp không có bào thai, được gọi là
"chửa trứng hoàn toàn", một số trường hợp có bào thai nhưng không sống được gọi
là "chửa trứng bán phần".
b. Nguyên nhân:
Là hiện tượng thai nghén không bình thường, trong đó tổn thương đã làm
trứng hỏng, gai rau vẫn được nuôi dưỡng bằng máu mẹ nên tiếp tục hoạt động chế
tiết gây tinh dịch trong lớp đệm rau và tế bào nuôi tăng sinh.
c. Phương pháp điều trị:
Nạo sạch "trứng" với người có nhu cầu sinh con hoặc cắt tử cung đối với
người không có nhu cầu sinh đẻ nữa. Sau khi xử trí chửa trứng, người bệnh cần xét
nghiệm máu, nước tiểu 2 tuần/lần cho đến khi lượng HCG trở về bình thường.
Nếu sự phân chia diễn ra muộn hơn, từ khoảng ngày thứ 5 đến ngày thứ 10
sau khi thụ thai thì hai bé vẫn phát triển riêng biệt nhưng không đồng đều nhau,
một thai có thể phát triển to béo, đôi khi phù nề, tăng hồng cầu; trong khi thai còn
lại thì còi cọc, thiếu máu, thậm chí có thể teo và chết đi. Thường có sự thông
thương tuần hoàn giữa hai thai nhi, do đó máu đến nuôi có thể dồn hẳn về một thai
nhi, trong khi thai kia thì rất ít hoặc không được nuôi dưỡng.
Khi sự phân chia muộn hơn nữa, sự tách đôi không xảy ra hoàn toàn được
nên còn một chỗ nào đó dính nhau: Hai bé có thể dính nhau ở một phần thân thể
hoặc có chung một cơ quan, bộ phận nào đó. Các trường hợp này được gọi tên theo
vị trí dính thai (thí dụ như song thai dính ở vùng ngực - thoracopagus, song thai
dính nhau vùng chậu hông - ischiopagi).
Trường hợp mầm phôi tách đôi muộn (trong tuần lễ thứ 2) sẽ dẫn đến đa thai
cùng trứng chỉ có một túi ối và một túi đệm. Các trường hợp này thai ít khi sống
được do dây rốn rối nhiều, tuần hoàn máu qua dây rốn bị nghẽn và một hay cả hai
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
7
thai sẽ chết. Tỷ lệ đa thai cùng trứng có một ối chiếm tỷ lệ 1/4 trong tổng số các
trường hợp song thai cùng trứng.
Đa thai khác trứng
Đây là trường hợp các thai nhi được sinh ra do việc thụ tinh bởi các trứng và
tinh trùng khác nhau. Trứng có thể rụng từ một buồng trứng, hoặc từ hai buồng
trứng. Tinh trùng có thể từ cùng một người đàn ông hoặc từ những người đàn ông
khác nhau. Các trứng được thụ tinh có thể xảy ra trong cùng một lần giao hợp,
hoặc các lần giao hợp khác nhau nhưng phải trong cùng một chu kỳ kinh nguyệt -
do vậy còn gọi là sự bội thụ tinh đồng kỳ. Sự bội thụ tinh khác kỳ (các trứng thụ
tinh ở các tháng khác nhau) chưa thấy xảy ra ở loài người.
Đặc điểm
Vì là các tinh trùng khác nhau thụ tinh với các trứng khác nhau, nên khi sinh
Chương II. Công nghệ hỗ trợ sinh sản
1. Khái niệm công nghệ hỗ trợ sinh sản (CNHTSS)
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (tiếng Anh: Assisted Reproductive Technology A.R.T.)
bao gồm tất cả các phương pháp chữa trị chứng vô sinh trong đó cả trứng lẫn tinh trùng
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
9
đều được sử dụng. Nói chung ART là công tác phẫu thuật lấy trứng từ buồng trứng của
một người nữ, kết hợp với tinh trùng của một người nam, sao đó đem trở vào người nữ đó
hay một người nữ khác.
Những phương pháp giúp có thai đơn thuần hơn như bơm tinh trùng vào tử cung
(không trực tiếp động đến trứng) và kích thích tạo trứng (không trực tiếp lấy tinh trùng)
không được xếp vào lãnh vực của ART.
2. Sơ lược lịch sử phát triển CNHTSS [7]
Trên thế giới
10
1988, trường hợp tiêm tinh trùng vào dưới màng trong suốt (SUZI) được báo cáo
thành công lần đầu tiên tại Singapore bởi SC Ng và cộng sự.
1989, kỹ thuật đục thủng màng trong suốt (PZD) để hỗ trợ thụ tinh được giới thiệu
ở Mỹ bởi Cohen.
1992, kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng được báo cáo thành công lần
đầu tiên tại Bỉ bởi Palermo và cộng sự.
1994, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng non trưởng thành trong ống nghiệm
(IVM) được báo cáo tại Úc.
1994, các trường hợp MESA-ICSI (hút tinh trùng từ mào tinh qua vi phẫu và tiêm
tinh trùng vào bào tương trứng) đầu tiên được báo cáo.
1995, kỹ thuật PESA-ICSI (chọc hút tinh trung từ mào tinh xuyên da và tiêm tinh
trùng vào bào tương trứng) được giới thiệu.
1995, kỹ thuật TESE-ICSI (phân lập tinh trùng từ tinh hoàn ở những trường hợp
giảm sinh tinh tại tinh hoàn và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) được báo cáo thành
công.
1997, trường hợp có thai ở phụ nữ 63 tuổi với kỹ thuật xin trứng TTTON được
báo cáo.
1997, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng trữ lạnh và rã đông của Mỹ được báo
cáo. 11 năm sau trường hợp đầu tiên trên thế giới được báo cáo.
2001, phác đồ mới trong kỹ thuật trữ trứng được báo cáo, cải thiện đáng kể tỷ lệ
thành công. Đồng thời, những trường hợp sanh đầu tiên từ cả trứng và tinh trùng đông
lạnh được báo cáo tại Ý.
Tại Việt Nam
Bắt đầu thực hiện TTTON từ năm 1997, đến năm 1998 có 3 em bé TTTON đầu
tiên tại Việt Nam ra đời và năm 1999 em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật ICSI, và cho tới
nay đã có 3438 em bé chào đời từ các kỹ thuật tại bệnh viện Từ Dũ, trong đó hầu hết cá
Em bé đầu tiên từ chu kỳ TTTON sử dụng GnRH
antagonist
2003 BV. Từ Dũ 1995
Em bé đầu tiên ra đời từ phôi đông lạnh 2003 BV. Từ Dũ 1984
Em bé TTTON thứ 1000 tại BV. Từ Dũ 2003 BV. Từ Dũ 1984
Em bé đầu tiên ra đời từ chu kỳ TTTON sử dụng
rec LH
2003 BV. Từ Dũ 1984
Thai lâm sàng đầu tiên từ cả trứng và TT người
đông lạnh
2003 BV. Từ Dũ 2001
Em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật TESE – ICSI 2004 BV. Từ Dũ 1995
3. Kỹ thuật chuẩn bị giao tử [1,2]
3.1. Chuẩn bị trứng:
Năm 1978, trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên trên thế giới
thành công sau khi chuyển 1 phôi từ 1 trứng duy nhất chọc hút được từ chu kỳ tự
nhiên không kích thích. Tuy nhiên, những lần thụ tinh trong ống nghiệm sau được
lặp lại với chu kỳ tự nhiên cho kết quả thành công rất thấp, bởi lẽ với 1 trứng duy
nhất, nếu thụ tinh không xảy ra hoặc xảy ra thụ tinh nhưng phôi ngưng phát triển
do chất lượng trứng kém, bệnh nhân sẽ không có phôi để chuyển. Còn trong trường
hợp có 1 phôi để chuyển, tỉ lệ có thai của bệnh nhân cũng chỉ dao động quanh con
số từ 10 đến 15% - một tỉ lệ rất thấp cùng với chi phí cao và tốn nhiều thời gian.
Vì lẽ đó, để nâng khả năng thành công trong thụ tinh trong ống nghiệm, cần kích
thích buồng trứng để tạo ra nhiều nang trứng hơn, từ đó tăng số trứng chọc hút
được trong một chu kỳ điều trị, tăng số trứng có chất lượng tốt, tăng số phôi tạo
thành và số phôi tốt để chuyển, dẫn đến tăng tỉ lệ có thai. Số trứng mong đợi thu
được từ kích thích buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm là từ 10-12 trứng.
Đối với những trường hợp xin – cho trứng, việc kích thích buồng trứng càng trở
nên quan trọng hơn nhằm tăng tỉ lệ thành công và hạn chế việc người cho trứng bị
thích buồng trứng với FSH/hMG, nếu chưa đạt, tiêm tiếp GnRHa.
-Tiêm phối hợp GnRHa (0,05mg) với FSH (Puregon 50 IU; 100 IU.
-Siêu âm từ 2-3 lần nhằm theo dõi kích thước và số lượng nang trứng. Theo
dõi hoocmone (LH, E2) từ ngày thứ 6 sau kích thích.
-Tiêm hCG (Pregnyl 5000 IU) khi xuất hiện ít nhất 2 nang trứng lớn nhất đạt
kích thước siêu âm 17mm nhằm kích thích trưởng thành nõan.
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
13
-Chọc hút trứng 35-36h sau khi tiêm hCG.
Chọc hút trứng là quá trình chọc hút các dịch nang trứng từ 2 buồng trứng.
Dịch nang trứng ngay sau khi chọc hút sẽ được chuyển ngay cho phòng lab IVF,
các chuyên viên phôi học sẽ tìm trứng trong dịch nang này dưới kính hiển vi.
Trứng và các tế bào bao quanh trứng (hình 1) thu nhận được sẽ được rửa trong môi
trường thích hợp, rồi được chuyển ngay vào đĩa có môi trường chuyên biệt và ủ
trong tủ ủ có CO2.
Hình 1. Phức hợp trứng – tế bào hạt
b.Gây rụng trứng nhiều:
- Kích thích chín và rụng trứng hàng lọat bằng hoocmon để thu nhiều trứng
chín một lúc.
Mục đích: thu nguồn trứng và cho thụ tinh tự nhiên để thu nhận nguồn phôi.
Sử dụng PMSG (huyết thanh ngựa chữa) để gây chín trứng nhanh và FSH
(chiết từ tuyến yên cừu/heo) kết hợp với hoocmon HCG (bò sữa sử dụng PMSG,
FSH và HMG)
FSH (Follicle Stimulating Hormone) là hóc-môn của thuỳ trước tuyến yên
có tác dụng chủ yếu là kích thích tế bào trứng phát sinh và phát triển.
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Siêu âm công nghệ tốt hơn nhiều, trứng và các nang không xâm lấn nhau. Vì
vậy, bây giờ hầu như tất cả các phương thu nhận trứng trên thế giới diễn ra được
thực hiện bằng phương pháp siêu âm. Cách đơn giản nhất để làm điều này là sử
dụng đầu dò siêu âm qua âm đạo được sử dụng để quan sát buồng trứng. Siêu âm
được thực hiện các thủ thuật như sinh thiết bằng kim, là thủ thuật đưa kim vào để
lấy một mẫu tế bào từ các nang và dịch nang trứng, và trứng có thể được lấy ra.
d. Quan sát và phân loại trứng:
Kỹ thuật:
+Làm dẹp phức hợp OCC (phức hợp trứng) để gây xung động mạnh đĩa nuôi
dưới KHV
+Phân tách khối cumulus bằng enzyme: phức hợp OCC đặt trong đĩa bốn
giếng chứa môi trường thu trứng có bổ sung 0,4% BSA và hialuronidase 80 IU/ml
tại 370C trong 30-60 giây, dùng pipiette tách lớp cumulus khỏi phức hợp OCC sau
đó rửa trứng vài lần bằng dung dịch thu trứng bổ sung 10% huyết thanh
Tiêu chí đánh giá
+Túi mầm: có nhân lớn (túi mầm) hiện diện→các TB bao quanh không phát
triển rộng và bám chặt vào xung quanh là trứng chưa trưởng thành.
Metaphase I: trứng bao lớp TB chặt chẽ và có lớp cumulus bám chặt xung
quanh, ĐK gấp 5 lần ĐK trứng
Metaphase II: Trước khi rụng trứng (từ nang Graff): TB vành corona áp dính
lên trứng,thể cực được đẩy ra. Lớp cumulus mở rộng thành một khối
Trưởng thành: trứng thấy rõ, lớp cumulus nhiều, cô đặc lớp TB cumulus, có
các giọt đen nhỏ bằng vành corona tái hình thành vây kín xung quanh TB trứng
Hòang thể hóa: TB mờ nhạt, lớp cumulus bị phá vỡ và trở thành một khối
keo xung quanh trứng
. Sẹo hóa: TB hạt bị phân mảnh, giống dây buộc, phân bố lệch về một phía
TB trứng
e. Nuôi trứng trưởng thành:
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
kia cầm lọ hứng tinh kề gần vào qui đầu để hứng tinh dịch chảy ra.
Chú ý:
- Không nắm dương vật của heo quá chặt làm heo đau và sợ hãi, cũng không
nên nắm úa lỏng lẻo vì có thể làm cho dương vật tuột ra ngoài tầm tay.
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
17
- Không được để qui đầu chạm vào giá nhảy hoặc lọ hứng tinh vì dễ gây sây sát,
chảy máu làm cho heo sợ hãi, thậm chí dẫn tới ức chế phản xạ xuất tinh. Sau khi
heo xuất tinh xong mới nới lỏng bàn tay nắm dương vật để heo tự co dương vật
lạivà tụt khỏi giá nhảy.
- Khi hứng tinh phải để cho tinh chảy nhẹ theo thành lọ.
Ưu điểm:
- Không cần nhiều trang thiết bị, dụng cụ.
- Người thu tinh dịch có thể quan sát trực tiếp được các pha trong quá trình
xuất tinh, từ đó đưa ra quyết định hứng tinh ở “pha” nào là tốt nhất, đặc biệt là
trong quá trình khai thác tinh dịch heo.
Nhược điểm:
- Cần có sự luyện tập và thích ứng của đực giống.
- Dễ bị nhiễm bẩn cơ quan sinh dục hoặc lây bệnh cho người thu tinh dịch nếu
không vô trùng tốt hoặc các dụng cụ bảo hộ không đảm bảo an toàn vệ sinh.
- Kích thích không khoái cảm cho con đực dẽ gây ức chế khó xuất tinh và tinh
dịch thu được có số lượng và chất lượng tinh trùng thấp.
b. Phương pháp dùng âm đạo giả.
Nguyên lý của phương pháp này là cho con đực giao phối và xuất tinh trong
một loại dụng cụ gọi là âm đạo giả có các điều kiện (nhiệt độ, áp suất, độ
nhớt,…) tương tự như trong đường sinh dục con cái động dục. Đây là phương
pháp khai thác tinh cổ điển sản xuất.
Ưu điểm:
- Khai thác được tiềm năng sinh sản ở những gia súc cái cao sản, đặc biệt với
những con cao sản nhưng vì lý do nào đó bị loại thải.
- Cung cấp vật liệu và làm cơ sở cho những nghiên cứu, lai ghép phôi, chuyển
cấy gen, cắt phôi nhân phôi .v.v . . .
- Giúp cho việc đánh giá con vật sớm hơn (rút ngắn được khoảng cách thế hệ).
- Tạo nhiều phôi, giá rẻ từ đó giảm giá thành công nghệ phôi, thành lập ngân
hàng phôi, trứng và làm cơ sở cho việc bảo tồn, lưu giữ phục hồi lại các giống
gia súc và các độngvật quý hiếm nhưng ít có giá trị về kinh tế.
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
19
- Khắc phục tình trạng vô sinh ở các con cái tốt, có buồng trứng hoạt động bình
thường nhưng bị tắc ống dẫn trứng hoặc do điều kiện nào đó mà trứng và tinh
trùng không gặp nhau được ở trong cơ thể.
IVF được tiến hành lần đầu tiên trên thỏ bởi Dauzier và cộng sự (1954), sau
đó là Thibault và Dauzier (1960, 1961). Kỹ thuật này được Brackett áp dụng và
phát triển vào chăn nuôi bò từ 1981. Từ đó, IVF được nghiên cứu và ứng dụng
rộng trong những nước chăn nuôi phát triển (Mỹ, Pháp, Anh, Nhật, Đức ). Các
bảng dưới đây phản ánh một phần lịch sử phát triển và mức độ thành công
củaIVF
Bảng 1. Một số động vật đã được IVF
Động
IVF
Kết quả Động IVF Kết quả
vật Tạo
phôi
Sau c
Động
vật
Năm Tác giả
Động
vật
Năm Tác giả
Thỏ 1954-
1959
Dauzier, Thibault
Chang
Bò 1982
Braket và cs.
Chu
ột túi
má
1963
Yanagimathi và
Chang
Dê 1981
Kim và Irtani
Chuột
nhắt
1969
Ywamatsu và
Chang
21
thu được có khác nhau là do khác nhau về cá thể, phương pháp và mùa vụ thu
hoạch. Nếu dùng phẫu thuật, một năm 1 bò có thể cho 100 trứng/buồng trứng
(Kruip, 1991). Nếu dùng cách hút, chỉ thu được 2,4-3,0 trứng/lần, (Lenergan,
1991). Bằng phương pháp cắt lát buồng trứng thu được từ lò mổ, chúng tôi thu
được 10-30 trứng/2 buồng trứng của gia súc.
Cách đánh giá phân loại trứng chưa thụ tinh (lấy từ buồng trứng): theo sự
hiện diện hoặc độ dầy, mỏng của tế bào cumullus (Cumullus cell).
Loại A: trứng có tế bào Cumullus bao vây hoàn toàn.
Loại B: trứng có tế bào Cumullus bao vây một phần loại B : chỉ có 1 đám rất
mỏng: tế bào Cumullus hoặc chỉ còn lại dấu vết của lớp tế bào này).
Loại C: trứng không có tế bào Cumullus bao quanh mà bao bọc chúng là các
sợi tơ huyết (fibrin).
Thường chỉ dùng trứng loại A và B để nuôi cấy và IVF. Tất nhiên việc thu
nhận buồng trứng từ lò mổ hoặc lấy trứng từ buồng trứng (bằng kỹ thuật phẫu
thuật hoặc nội soi) phải theo quy trình tương ứng với các môi trường nuôi cấy
nhất định.
b. Nuôi trứng chín (In vitro Maturation)
Sau khi thu thập, trứng được đánh giá phân loại theo mức độ tốt xấu. Trứng
đạt tiêu chuẩn sẽ được đưa vào môi trường nuôi cấy trứng chín. Sự chín của
trứng chưa thụ tinh có nghĩa là sự thay đổi hình thái học, sinh hoá học ở tế bào
chất, ở nhân tế bào và các bộ phận khác của tế bào để các trứng này có khả năng
thụ tinh và sau đó, sẽ phát triển thành phôi, thành cơ thể. Thời gian thành thục
và chín của trứng chưa thụ tinh thường từ 18-28h.
c. Cho trứng thụ tinh với tinh trùng (In vitro Fertilisation)
Để tiến hành quá trình thụ tinh (cho trứng gặp tinh trùng), người ta đưa tinh
trùng đã được hoạt hoá vào môi trường thụ tinh đã có trứng nuôi cấy chín. Giọt
môi trường thụ tinh đã để sãn trong hộp lồng. Sau khi đưa tinh trùng vào môi
trường nuôi trứng nói trên, chuyển hộp lồng vào tủ ấm nuôi cấy có 5% C0
d. Nuôi trứng đã thụ tinh phát triển thành phôi (In vitro culture)
Trứng đã thụ tinh được chuyển sang các môi trường nuôi cấy (thường dùng
môi trường TCM199 có bổ sung huyết thanh bò). Trong môi trường nuôi cấy,
các tế bào Cumulus và các tế bào ống dẫn trứng có ảnh hưởng tích cực đến quá
trình phát triển của phôi. (Seidel và cs, 190; Shioya và cs., 1993).
3.2.2.3. Kỹ thuật IVF[2,9]
a. Thu nhận trứng và nuôi trứng chín
- Buồng trứng được thu nhận từ các lò mổ, đặt trong nước sinh lý ấm (25-30
0
C)
có bổ sung 100 UI penicillin và 100 mg streptomycin/ml. Sau đó được chuyển
về phòng thí nghiệm trong vòng 2-3h.
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
23
- Dùng xơranh với kim 18G hút các tế bào trứng từ các nang trứng nhỏ kích
thước 2mm.
- Dung dịch hút được đưa vào môi trường PBS có bổ sung huyết thanh bò đực
giống .v.v. . . và kháng sinh.
- Soi trứng, đánh giá phân loại trứng thu được qua kính hiển vi soi nổi. Căn cứ
vào vùng tế bào Cumulus để đánh giá chất lượng trứng.
- Chuyển các tế bào trứng đảm bảo chất lượng sang môi trường nuôi trứng chín.
Trứng được đưa vào tủ ấm ở 38-39
0
C, với hỗn hợp không khí: 5% C0
24
- Đưa vào tủ ấm trong khoảng 5-6h.
d. Thu hồi và nuôi cấy trứng đã thụ tinh
- Thu trứng đã thụ tinh từ các giọt chứa tinh trùng (giọt môi trường thụ tinh).
-Rửa trứng đã thụ tinh 3 lần trong môi trường nuôi trứng chín(TCM-199) đã
chuẩn bị sãn.
Đặt đĩa đã có trứng thụ tinh vào tủ ấm có nhiệt độ 38
0
C với 5% C0
2
trong 48h.
e. Nuôi cấy và kiểm tra trứng đã thụ tinh
- Sau khi đã thụ tinh, trứng được tiếp tục nuôi trong môi trường TCM-199 - 1
giọt 5% FCS với nhiệt độ 38
0
5 và 5% khí C0
2
.
- Trong ngày thứ nhất, động nhẹ tay (gõ) lên đĩa hộp lồng để tác động làm rời bỏ
các tế bào cumulus bao quanh noãn.
- Cứ 48h kiểm tra sự phát triển của phôi 1 lần.
- Từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 10 quan sát sự phát triển của túi phôi.
- Đánh giá sự phát triển của phôi qua các mức độ: 2-4 tế bào, >4 tế bào (phôi
dâu, phôi nang) và phôi thoái hoá.
-Từ sau ngày thứ 7, kiểm tra phôi ngày 1 lần, phôi ở độ tuổi này trở đi hoặc đem
cấy chuyển ngay hoặc đem đông lạnh và cấy sau này.
3.2.2.4. Các môi trường dùng cho IVF
a. Dung dịch đệm Dulbeccos – PBS
0 0,20
5 Glucose C
6
H
12
0
6
1,00
6 Sodium pyruvate 0,036
7 Calcium chloride CaCl
2
.2H
2
0 0,132
8 Magnesium
sulphate
MgS0
4
.7H
2
0 0,121
9 Lyopholized -
BSA
0,400
10
Penicilin G.
Sodium
**
11 Streptomicin
sulphate