LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Th.s
Trần Thị Phượng, người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong tổ Lịch sử Việt Nam, Khoa Sử Địa, Trường Đại học Tây Bắc lời cảm ơn chân thành vì đã quan tâm, giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Bảo tàng, Thư viện các tỉnh:
Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái… đã tạo điều kiện thuận lợi và có những ý
kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình thu thập tư liệu, nghiên cứu để
hoàn thành bản khóa luận này.
Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn khóa luận không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong sự đóng góp chân thành của quý thầy
giáo, cô giáo và bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tây Bắc, tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Trường Sơn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài. .............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 3
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................... 5
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ....................................................... 5
5. Đóng góp mới của khóa luận ............................................................................ 6
6. Bố cục của luận văn .......................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC TÂY BẮC VÀ NGƯỜI THÁI Ở
TÂY BẮC ............................................................................................................. 8
1.1. Khái quát lịch sử hình thành vùng đất Tây Bắc ............................................. 8
3.2.3. Bộ phận gia nô........................................................................................... 49
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 53
PHỤ LỤC ...............................................................................................................
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Khi nói đến vấn đề ruộng đất và vai trò của chế độ sở hữu ruộng đất Mác
nhận định: “Chế độ sở hữu lớn về ruộng đất là cơ sở thực sự của xã hội trung
đại, phong kiến” và khi quay sang nghiên cứu xã hội phương Đông trước tư bản
chủ nghĩa, Mác phát biểu ngay rằng: “Không có chế độ sở hữu tư nhân về ruộng
đất thậm chí là chìa khóa thực sự để hiểu cái thiên đường phương Đông”. Vấn
đề sở hữu ruộng đất, như vậy có ý nghĩa quyết định, chìa khóa đối với các xã hội
có trước chủ nghĩa tư bản, các xã hội nông nghiệp. Nước Đại Việt ở các thế kỉ
XI – XV và cả đến các thế kỉ XVIII – XIX, dĩ nhiên thuộc xã hội này. Hơn nữa,
bản thân vấn đề ruộng đất ở các thế kỉ trung đại Việt Nam tự nó mang ý nghĩa
khoa học và thực tiễn quan trọng.
Khoảng thế kỉ XIII, với việc người Thái định cư ở khu vực Tây Bắc đã
đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong xã hội cổ truyền nơi đây. Khi đến
khu vực này và cho đến tận ngày nay người Thái được phân chia thành hai
ngành Thái Trắng và Thái Đen. Sự phân chia này là kết quả của một quá trình
thiên di, xáo động trên những diễn biến lịch sử lâu dài và phức tạp. Song cho dù
hiện nay có hai ngành Thái, chẳng qua cũng là do sự chuyển hóa từ một nhóm
Thái (Táy) cổ xưa nhất mà thiên di đi mỗi người một ngả. Rồi trên địa vực cư
trú của từng nhóm một tiếp xúc với điều kiện tự nhiên và đặc biệt chịu ảnh
hưởng của các dân tộc xung quanh để rồi xa dần các nguyên gốc của mình. Và
cũng từ đó xuất hiện các nhóm Thái ở mỗi địa phương khác nhau. Người Thái ở
Tây Bắc là một phần trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Dân tộc Thái là
dân tộc thiểu số có số lượng đông dân cư nhất ở khu vực Tây Bắc, chiếm 53%
+ Làm rõ tác động của chế độ sở hữu ruộng đất tới tình hình kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội của người Thái ở Tây Bắc.
+ Góp phần làm sáng tỏ sự phân hóa giai cấp trong xã hội Thái cổ truyền
từ đó đi vào tìm hiểu cấu trúc xã hội Thái ở Tây Bắc nói riêng và đặc trưng
chính trị của xã hội người Thái trong cả nước nói chung. Qua đó thấy được nét
độc đáo trong thể chế chính trị Việt Nam thời cổ - trung đại.
Về mặt thực tiễn
+ Bổ sung kết quả nghiên cứu về Sơn La nói riêng, Tây Bắc nói chung đặc
biệt về vấn đề ruộng đất và nông nghiệp.
2
+ Từ quan hệ ruộng đất trong xã hội Thái truyền thống góp phần xây dựng
bản làng văn hóa ở Sơn La nói riêng và khu vực Tây Bắc nói chung.
+ Góp phần bảo tồn tri thức bản địa.
+ Làm tài liệu tham khảo và giảng dạy lịch sử địa phương trong các
trường Phổ thông, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học ở Tây Bắc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề ruộng đất
trong xã hội Việt Nam cổ trung đại nói chung và loại hình ruộng đất của người
Thái ở Tây Bắc nói riêng.
Trong một số công trình đã nghiên cứu và làm rõ chế độ sở hữu ruộng đất
ở Việt Nam thời kì cổ - trung đại:
Như tác phẩm Dư địa chí (Bản dịch của Phan Huy Tiếp; Hà Văn Tấn chú
thích và giới thiệu) của tác giả Nguyễn Trãi (1959), Nxb Sử học, Hà Nội, đã
cung cấp cho tác giả sự nhìn nhận chính xác về phạm vi của khu vực Tây Bắc về
không gian của khóa luận, cũng như sự thay đổi các đơn vị hành chính của khu
vực trong từng thời kì, từ đó tác giả có thể xác định được cụ thể, rõ ràng giới hạn
của khóa luận.
Tác giả Vũ Huy Phúc (1979) với Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa
giả về tình hình ruộng đất của người Thái ở Tây Bắc và sự biến đổi của ruộng đất
qua các thời kì.
Các công trình Lịch sử Đảng bộ huyện Mường La 1940 - 1990; cuốn Lịch
sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu (Tập 1); cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Yên (1940
- 1975); cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La 1939 - 1954 (Tập 1) đều của Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội… đã đề cập đến vấn đề ruộng đất của người Thái
Tây Bắc trong phần đề dẫn. Những tác phẩm này khiến cho tác giả có cơ sở xác
định được tầm quan trọng của vấn đề ruộng đất trong chính sách của Đảng, Nhà
nước đối với vùng Tây Bắc.
Các tác phẩm bằng tiếng Thái như Quam tô mương; Táy Pú Xấc, Chương
Han, Phiết mương… cũng đề cập đến các loại hình ruộng đất của người Thái khi
họ bắt đầu sinh sống và định cư ở vùng Tây Bắc. Đây chính là những bằng
chứng cụ thể nhất để cho tác giả có cơ sở dựa vào để phân tích và làm rõ vấn đề.
Những tác phẩm trên đã đề cập đến những mặt khác nhau về tình hình
ruộng đất, các loại hình ruộng đất của người Thái ở Tây Bắc. Tuy nhiên, còn tản
4
mạn, chưa có hệ thống, các công trình nghiên cứu còn đơn lẻ, độc lập. Song các
công trình trên đã cung cấp nguồn tư liệu quan trọng, phong phú, gợi ý phương
hướng để tôi nghiên cứu đề tài này.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Tình hình ruộng đất của người Thái ở Tây Bắc trước năm 1858.
3.2. Phạm vi đề tài
- Giới hạn thời gian: Với đề tài “Tình hình ruộng đất của người Thái ở
Tây Bắc và những tác động tới thiết chế xã hội Thái cổ truyền” được giới hạn
trong phạm vi thời gian từ khi người Thái định cư tại khu vực Tây Bắc (thế kỉ
XIII) đến trước năm 1858.
- Giới hạn không gian: Với đề tài “Tình hình ruộng đất của người Thái ở
+ Xã hội học
+ Văn hóa học
+ Kinh tế học
4.2. Nguồn tài liệu
- Nguồn tài liệu văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ, tài liệu của Đảng bộ
tỉnh Sơn La, Đảng bộ huyện Mường La, Thuận Châu... Nguồn tài liệu này giúp
chúng tôi có định hướng nghiên cứu để giải quyết các vấn đề đề tài đặt ra.
- Nguồn tài liệu lưu trữ: Báo cáo của chính quyền địa phương như Báo
cáo về khả năng đất đai của khu vực Tây Bắc, Báo cáo về tình hình ruộng đất ở
Thuận Châu trước năm 1958… Các tác phẩm, bài báo của các tác giả, tập thể
các tác giả được công bố ở các Nhà xuất bản, Tạp chí… Các công trình địa chí
của địa phương. Đây là nguồn tài liệu quan trọng, là cơ sở để xây dựng nên khóa
luận, là nguồn tài liệu tham khảo, cung cấp cho chúng tôi thêm những thông tin
về tình hình ruộng đất của người Thái ở Tây Bắc trước năm 1858 để hoàn thành
khóa luận.
- Nguồn tài liệu điền dã: Nguồn tài liệu này bổ sung thêm cho các nguồn
tài liệu thành văn.
5. Đóng góp mới của khóa luận
Thứ nhất, thông qua tìm hiểu tình hình ruộng đất của người Thái ở Tây
Bắc trước năm 1858 đề tài góp phần làm sáng rõ và phong phú thêm lí luận về
chế độ ruộng đất ở Việt Nam.
6
Thứ hai, làm rõ thêm tính độc đáo về chế độ ruộng đất trong xã hội Thái
và những tác động của nó tới thiết chế xã hội Thái cổ truyền – đó là một trong
những tri thức bản địa cần được lưu giữ, kế thừa và phát triển trong giai đoạn
hiện nay.
Thứ ba, bổ sung thêm kết quả nghiên cứu về Sơn La nói riêng, Tây Bắc
nói chung đặc biệt về vấn đề nông nghiệp và ruộng đất.
phủ Gia Hưng, bao gồm 16 châu Thái: Mường Lò, Mường Tiến (hay còn gọi là
Chiêu Tấn, đến năm 1909 thực dân Pháp đổi là Than Uyên), Mường Tấc (Phù
Yên), Mường Sang (Mộc Châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Mụa (Mai
Sơn), Mường La, Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Thanh (Điện Biên),
Mường Lay, Mường Tùng (Tùng Lăng), Mường Hoàng (Hoàng Nham), Mường
Tiêng (Lễ Tuyền), Mường Chiềng Khem (Châu Khiêm) Mường Chúp (Tuy
Phụ), Mường Mi (Hợp Phì). Năm 1463, trấn Hưng Hoá được thành lập gồm 3
phủ đó là: Gia Hưng, Quy Hoá, An Tây.
+ Phủ Gia Hưng có 1 huyện, 5 châu, 42 động. Đó là huyện Thanh Xuyên
(sau đổi là Thanh Sơn) gồm 1 thôn, 2 động và các châu: Châu Việt, Châu Mai.
Địa bàn 5 châu này có 4 châu thuộc vùng đất Sơn La đó là: Châu Phù Hoa, Châu
Mộc, Châu Việt, Châu Quỳnh Nhai.
+ Phủ Quy Hoá có các châu: Văn Chấn, Trấn Yên, Văn Bàn, Thuỳ Vĩ, Yên
Lập.
+ Phủ An Tây có 10 châu đó là: Lai, Luân, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tùng
Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Hợp Phì, Tuy Phụ và Khiêm. Đến đời vua Lê
8
Cảnh Hưng (1740 - 1768) có 6 châu là: Tùng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ
Tuyền, Tuy Phụ và Khiêm bị triều đình phong kiến Mãn Thanh cướp mất, phủ
An Tây chỉ còn có 4 châu là: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, châu Lai và châu Luân.
Thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã làm một biểu gửi vua Thanh đòi lại 6 châu
bị cướp mất nhưng không được chấp nhận.
Đến triều Nguyễn (XIX), Tây Bắc được gọi là vùng “Thập Châu” thuộc
tỉnh Hưng Hoá, cụ thể là các châu sau: Mường Lò, Mường Tiến (hay còn gọi là
Chiêu Tấn, đến năm 1909 thực dân Pháp đổi là Than Uyên), Mường Tấc (Phù
Yên), Mường Sang (Mộc Châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Mụa (Mai
Sơn), Mường La, Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Thanh (Điện Biên),
Mường Lay.
bằng phẳng dài khoảng 20km, rộng 5 - 6 km; cánh đồng Mường Tấc (Phù Yên)
bằng phẳng, rộng 660 ha...
1.2.2. Sông ngòi, khí hậu
Về sông ngòi: Trên địa bàn Tây Bắc còn có nhiều nguồn nước sông suối.
Sông Mã bắt nguồn từ miền Nam Trung Quốc chảy vào Sơn La qua địa phận
huyện Sông Mã rồi vòng qua Lào vào Thanh Hoá ra biển. Sông Đà bắt nguồn từ
vùng Nam Mông Hoá, gần làng Sin Cai thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)
chảy vào nước ta ở Mường Lái qua Lai Châu vào Sơn La hợp với suối Nậm Na
ở phía Bắc và Nậm Mức ở phía Nam theo hướng Tây Nam chảy qua địa phận
các huyện: Mường Tè (Lai Châu), Mường Lay (Điện Biên), Thuận Châu,
Quỳnh Nhai, Mường La, Mai Sơn, Mộc Châu (Sơn La), qua tỉnh Hoà Bình hội
nhập với sông Hồng. Ngoài hai con sông chính, sông Mã, sông Đà, Tây Bắc
còn có hàng nghìn con suối lớn, nhỏ chảy luồn lách quanh những gò đồi tạo
điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa nước, rau màu, cây ăn quả và phát triển
chăn nuôi.
Về khí hậu: Tây Bắc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng nóng mưa nhiều,
mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10,
nhiệt độ trung bình từ 230C - 250C, lượng mưa từ 1400 đến 1800 mm/năm. Mùa
đông trùng với mùa khô lạnh, ít mưa, khô hanh từ tháng 10 năm trước đến tháng
3 năm sau. Thế nhưng, do ảnh hưởng của độ cao địa lý và địa hình nên khí hậu
Tây Bắc cũng có sự phân chia thành những khu vực khác nhau.
Nhìn chung, khí hậu Tây Bắc tuy thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng
10
có sự phân chia thành từng vùng rất rõ rệt: mùa hè mát mẻ, nhiệt độ trung bình
trong năm từ 250C - 280C, nhiệt độ cao nhất từ 30 - 350C, thậm chí có nơi 380C.
Mùa đông nhiệt độ thấp nhất từ 100C - 150C, ở những vùng núi cao xuống đến
dưới 50C, cá biệt lại có vùng thường xuyên vẫn có băng giá, sương muối.
1.2.3. Địa vực cư trú
sự phân tán cát cứ của các chúa Thái mà từ đây bản mường xuất hiện, chế độ ruộng
đất được xác lập, một thiết chế xã hội Thái độc đáo được hình thành trên cơ sở kinh
tế nông nghiệp với hai loại hình canh tác chính: làm ruộng nước và nương rẫy”. [42,
Tr.33]
1.3. Lịch sử hình thành cộng đồng người Thái ở Tây Bắc
Đơn vị cư trú của người Thái được gọi là bản và mường. Nhiều bản hợp
thành một mường nhỏ và nhiều mường nhỏ hợp thành châu mường. Ngay từ
đầu các bản, mường đã phân bố tương đối đông đúc trên những vùng cư trú
của ba nhóm địa phương:
1. Khu vực phía bắc - Những bản, mường của người Thái Trắng tập
trung trong các thung lũng ruộng đồng màu mỡ. Khoảng thế kỷ XIII, Mường
Lay thời Lòm Lạnh Lạt Ma đã trở thành trung tâm của vùng này. Lợi dụng sự
phát triển của người Thái, quý tộc thống trị Mường Lay đã bành trướng thế lực
khắp nơi. Người Thái có câu: "Miền xuôi nổi tiếng vua Kinh, đầu sông Đà nổi
tiếng Tạo Lay" (Lả púa tiếng pua Keo, hua Té tiếng Tạo Lay) để nói lên sự lớn
mạnh của thế lực quý tộc Mường Lay.
2. Khu vực phía nam - Sau đợt thiên di của người Thái Trắng từ Lào sang,
bản mường bắt đầu xuất hiện. Khoảng cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, dưới
thời chúa Nhọt Cằm, Mường Sang đã trở thành trung tâm của vùng này. Nhờ uy
thế của quý tộc, Nhọt Cằm đã chia con cháu đi chiếm cứ khắp nơi. Người Thái
thường ví Nhọt Cằm (Pha-nha Nhọt-chom-cằm) như "Then" (thần đứng đầu cõi
trời) và có câu nói rằng đó là: "Then của trần gian, con cháu của Pha Ngum,
Pha Nghiêu" (Then mường Lum, chẩu Pha Ngum, Pha Nghiêu).
3. Khu vực giữa - Sau khi Lạng Chượng thu phục được đất Mường Thanh,
con cháu của ông đã nối nghiệp nhau thống trị đất này. Càng về sau anh em
trưởng thứ của quý tộc càng trở nên bất hòa. Lợi dụng tình trạng đó, các thế lực
của quý tộc Mường Lay và người Lự ở Thượng Lào đã đánh đuổi quý tộc Thái
Đen ở Mường Thanh. Con chúa Lạng Chượng phải dần dần về ở Mường Muổi.
12
không nhất thiết phải tập trung vào một họ. Người có quyền nhận chức phải là
người ngoài họ quý tộc, là người Thái hoặc đã Thái hoá nếu là người khác tộc
như người Hoa, người Kinh… Người tham gia chức dịch có thể là những người
có công trong các cuộc chinh chiến. Đến khi bản, mường đã ổn định, chức dịch
thường là những nông dân khá giả, có uy thế nhờ tiền, của và tuổi tác… Người
nghèo muốn làm chức cũng được, nhưng rõ ràng không thể nào có tiền, của để
15
làm các thủ tục như đút lót người đứng đầu mường, người giúp đỡ giới thiệu với
“bô lão toàn mường”…
1.4.2.2. Giai cấp bị trị
Ở các châu mường, tầng lớp bị trị có thể gọi chung là lớp nông dân lao
động, lực lượng đông đảo nhất và lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất
trong xã hội. Tầng lớp này gồm nhiều thành phần dân tộc, chia làm ba loại:
* Bộ phận nông dân “gánh vác”
Đây là lớp nông dân chiếm tuyệt đại đa số cư dân sống trong các châu
mường. Họ là những người lao động có quyền nhận hoặc bỏ suất ruộng công do
“bản” phân cấp, đồng thời phải thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ “việc
mường” do bộ máy thống trị đứng đầu là thủ lĩnh tiêu biểu cho lớp quý tộc đặt
ra.
* Bộ phận nông nô
Loại nông dân này bao giờ cũng ít hơn nông dân “gánh vác”. Đặc trưng
cơ bản của loại này, không có nghĩa vụ đi “việc mường” và đóng góp các loại
nghĩa vụ khác mà phải chịu sự cưỡng bức lao dịch trên ruộng của nhà quý tộc và
tầng lớp thống trị khác hoặc phải nộp hiện vật thay thế công lao dịch.
* Bộ phận gia nô
Thành ngữ Thái dùng để chỉ lớp nông dân này là “khỏi dảo cốn hướn”
nghĩa là tôi đòi trong nhà. So với nông dân ở trong “châu mường” thì “cốn
Trên cơ sở những đặc điểm về tự nhiên, về địa vực cư trú, về tập quán và
kỹ thuật sản xuất... rõ ràng kinh tế trồng trọt là yếu tố quyết định sự tồn tại xã
hội cổ truyền của người Thái. Họ trồng nhiều loại cây, nhưng chủ yếu là lúa.
Đối tượng trồng trọt chủ yếu của đồng bào là ruộng và nương, người Thái gọi
lớp nông dân mình là "ông nương bà ruộng" (po hay, mẹ na). Đó là mặt tác
động của người lao động trên vùng núi rừng Tây Bắc để có được sản phẩm trồng
trọt nói chung và đặc biệt sản phẩm về thóc gạo nói riêng.
Phương pháp canh tác trên ruộng nước nằm trong loại hình nông nghiệp
dùng cày. Đặc điểm của loại hình nông nghiệp này là việc sử dụng sức kéo của
gia súc. Xưa nay khái niệm về ruộng thường được dùng với nhiều ý nghĩa khác
nhau. Khi nói: "ruộng đất, ruộng nương" người ta hiểu đó là từ chỉ chung về đất
đai trồng trọt. Khi nói: "ruộng muối" thì rõ ràng không phải thứ ruộng để trồng
trọt mà nó là ruộng do người ta tạo ra ở ven bờ biển để chứ nước mặn, cho bốc
hơi, lấy muối. Cũng là ruộng nhưng tính chất của ruộng khô trồng lúa mì ở xứ
lạnh khác hẳn với ruộng nước trồng lúa ở xứ nóng vùng Đông Nam Á.
Có hai cách phân loại ruộng của người Thái gồm: cách phân loại theo sự tác
động của con người với tự nhiên và cách phân loại mang tính chất xã hội.
2.1.1. Cách phân loại theo tác động của con người với tự nhiên
2.1.1.1. Phân loại ruộng nước theo địa hình
Sống trên một địa hình rừng, núi trùng điệp đòi hỏi người làm ruộng nước
phải tiến hành các khâu lao động sao cho thích hợp. Với điều kiện có nguồn
nước thì cả hai địa hình đều có thể biến thành ruộng để trồng lúa. “Trong thực tế
người nông dân Thái đã có hai loại ruộng nước ở trên những khoảng đất bằng
phẳng của thung lũng, lòng chảo hay cao nguyên và ở những sườn núi có độ
dốc. Loại ruộng ở nơi bằng phẳng gọi là “na tông”. Loại ruộng ở các nơi eo
hẹp men theo chân núi hoặc trên sườn núi gọi là “na hon”. [26, Tr.93]
18
+ Loại ruộng “na tông”. Địa hình Tây Bắc núi non chắp nối nhau một
"Ruộng (na) mương phai" là loại ruộng ở vùng lòng chảo hay thung lũng
ruộng lấy nguồn nước từ các sông suối thông qua hệ thống thủy lợi cổ truyền
của người Thái. "Ruộng rộc" là loại ruộng nằm trong các khe sâu, vực thẳm hay
thung lũng hẹp lấy nguồn nước tưới từ các khe lạch tự nhiên hoặc một hệ thống
thủy lợi nhỏ hơn.
2.1.1.3. Phân loại ruộng theo hạng tốt xấu
Hai cách phân loại trên bao giờ cũng bao hàm cả ý phân loại ruộng tốt,
xấu. "Na tông" bao giờ cũng tốt hơn "na hon" cũng như "ruộng nước ngâm" tốt
hơn "ruộng nước mưa". Song như vậy người làm ruộng sẽ không thể phân được
hạng ruộng tốt xấu trong cùng một loại. "Ruộng nước mưa" nói chung là ruộng
xấu nhưng trong đó không thể không có những thửa ruộng tốt hơn cả những
ruộng xấu, trung bình hoặc bằng những ruộng tốt ở trong loại "ruộng nước
ngâm".
Ý nghĩa của việc phân loại ruộng theo hạng tốt xấu và trung bình đối với
người Thái trước kia không hẳn đã nhằm mục đích để tác động các khâu kỹ
thuật, mà phân loại ruộng theo hạng là để đặt giống lúa cho hợp. Theo họ, việc
phân loại ruộng theo hạng, chủ yếu là do chất đất (đất nhiều mùn thì tốt không
nhiều mùn thì xấu) và do nước (ruộng chủ động nước thì tốt và nước thất thường
thì xấu).
2.1.2. Sự phân loại ruộng mang tính chất xã hội
2.1.2.1. Nước
Biện pháp nước được người ta đặt lên hàng đầu trong việc làm ruộng.
Theo họ “có nước mới nên ruộng, có ruộng mới nên lúa” (mí nặm chẳng pên na,
mí na chẳng pên khẩu). Dó đó đòi hỏi họ phải vừa làm vừa sáng tạo để hoàn
chỉnh hệ thống dẫn nước tưới ruộng. Trải qua hàng chục thế kỷ trên đồng ruộng
nước, hệ thống thuỷ lợi của người Thái đã tóm tắt trong câu thành ngữ: “mương,
phai, lái, lín”. Đây là phương pháp “dẫn thủy nhập điền” lợi dụng sự chênh lệch
về địa hình, dòng nước chảy để dẫn nước mà không cần đến sức lực của con
phá hoại lúa.
Khâu bừa được đồng bào thực hiện dưới khẩu hiệu "bừa kỹ" (ban nuốn) .
Xưa kia có nơi bừa đến 10 lượt mới cấy. Và khâu bừa cũng kết thúc giai đoạn
trước khi cấy và là khâu hoàn thành tiêu chuẩn "bóc trần, giãy sạch".
Cấy được người Thái coi như khâu quyết định đúng sai thời vụ, thời vụ lại
quyết định sự thành bại của mùa lúa, do đó việc cấy phải đảm bảo đúng ngày
tháng. Bởi vậy họ phải tranh thủ hoàn thành các biện pháp kỹ thuật cho ruộng
đồng đạt tiêu chuẩn "bóc trần, giãy sạch" để cấy cho đúng ngày tháng,
22