ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
-----------
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN TẠI XÃ VĨNH KIM,
HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
DƯƠNG THỊ THU PHƯƠNG
KHÓA HỌC: 2011 - 2015
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
-----------
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN TẠI XÃ VĨNH KIM,
HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Sinh viên thực hiện:Dương Thị Thu Phương Giáo viên hướng dẫn:
Lớp:K45A KH-ĐT
TS. Phan Văn Hòa
Trong quá trình thực hiện đề tài, em không tránh
khỏi sai sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng
góp quý báu từ Thầy, Cô và bạn đọc để em có cơ hội
hoàn thiện bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Dương Thị Thu Phương
SVTH: Dương Thị Thu Phương
3
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
SVTH: Dương Thị Thu Phương
4
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
1. CN
Công nghiệp
Vốn đầu tư
10. XDCB
Xây dựng cơ bản
11. XH
Xã hội
SVTH: Dương Thị Thu Phương
5
5
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
SVTH: Dương Thị Thu Phương
6
6
Khóa luận tốt nghiệp
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại xã Vĩnh
Kim, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút
vốn đầu tư XDCB trên địa bàn xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong
thời gian tới.
3.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp tổng hợp và phân tích
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đầu tư xây dựng cơ bản
tại xã Vĩnh Kim giai đoạn 2010 – 2014.
5.Kết quả nghiên cứu
SVTH: Dương Thị Thu Phương
8
8
Khóa luận tốt nghiệp
Trong thời gian qua, đầu tư XDCB đã góp phần rất lớn vào sự nghiệp phát triển kinh
tế xã hội của xã Vĩnh Kim. Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã tăng lên hằng năm
và góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội của xã, nâng cao mức sống của
người dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã khá cao và ổn định.
SVTH: Dương Thị Thu Phương
9
9
10
Khóa luận tốt nghiệp
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
-Phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại xã Vĩnh Kim,
huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2010 – 2014.
- Đề xuất giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại xã Vĩnh Kim
thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thu hút đầu tư xây dựng cơ bản tại
xã Vĩnh Kim.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi thời gian : số liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn 2010 – 2014.
+ Phạm vi không gian: xã Vĩnh Kim.
+ Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đầu tư
xây dựng cơ bản tại xã Vĩnh Kim.
4. Phương pháp nghiên cứu
•
Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu thập từ hợp tác xã, từ các tài liệu liên quan đến tình hình phát triển
kinh tế - xã hội, tình hình đầu tư cơ bản trên địa bàn xã (2010 – 2014) để phân tích và
đánh giá thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản tại xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Linh, tỉnh
Quảng Trị.
SVTH: Dương Thị Thu Phương
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm
* Khái niệm về đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai
lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là
tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt được có thể là sự
tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở
hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn
các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn
lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh
trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.
(Nguồn: https://doc.edu.vn)
* Khái niệm về đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư. Xét về bản chất chính là
đầu tư tài sản vật chất và sức lao động trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành
các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền
kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác,
là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội.
Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm
trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực
hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy
trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và
tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước.
SVTH: Dương Thị Thu Phương
lớn. Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư. Vì vậy, trong quá trình
SVTH: Dương Thị Thu Phương
14
Khóa luận tốt nghiệp
đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý,
đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư, thiết bị phù hợp đảm bảo cho
công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn lực.
-
Thời gian dài với nhiều biến động.
Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát
huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra.
-
Có giá trị sử dụng lâu dài
Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâu dài,
có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi
tiếng thế giới như vườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở Mỹ, Kim tự tháp ở Ai
Cập…
-
Cố định
Các thành quả của hoạt động đầu tư XDCB là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh
tế và từng cơ sở sản xuất, đó là:
-
Đầu tư XDCB đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất kỹ thuật và
phương thức sản xuất.
Mỗi phương thức sản xuất từ đặc điểm sản phẩm, yếu tố nhân lực, vốn và điều
kiện về địa điểm… lại đòi hỏi khác biệt về máy móc thiết bị, nhà xưởng. Đầu tư
XDCB đã giải quyết vấn đề này.
-
Đầu tư XDCB là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa
chúng.
Khi đầu tư XDCB được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng
sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành. Phát triển và hình thành những
ngành mới đề phục vụ nền kinh tế quốc dân. Như vậy đầu tư XDCB đã làm thay đổi
đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng
lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và
tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích lũy đồng thời nâng cao đời sống vật chất,
SVTH: Dương Thị Thu Phương
16
Khóa luận tốt nghiệp
tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh
tế - xã hội.
Như vậy, đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động rất quan trọng: là một khâu quan
trọng trong quá trình thực hiện đầu tư phát triển, nó có quyết định trực tiếp đến sự hình
kinh tế, các chính sách kinh tế - xã hội. Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn (5-7)
do thừa vốn thiếu lao động, do sử dụng công nghệ có giá trị cao, còn ở các nước chậm phát
triển, ICOR thấp (2-3) do thiếu vốn, thừa lao động, công nghệ kém hiện đại, giá rẻ.
-
Đầu tư XDCB tạo ra cơ sở vật chất nói chung và cho xã nói riêng
Tác động trực tiếp này đã làm cho tổng tài sản của nền kinh tế quốc dân không
ngừng được gia tăng trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông
vận tải, thủy lợi, các công trình công cộng khác, nhờ vậy mà năng lực sản xuất của các
đơn vị kinh tế không ngừng được nâng cao, sự tác động này có tính dây chuyền của
những hoạt động kinh tế nhờ đầu tư XDCB. Chẳng hạn như chúng ta đầu tư vào phát
triển cơ sở hạ tầng giao thông điện nước của một khu công nghiệp nào đó, tạo điều
kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, sẽ đầu tư mạnh hơn vì thế sẽ thúc đẩy quá
trình phát triển kinh tế nhanh hơn.
-
Đầu tư XDCB tác động đến sự phát triển khoa học công nhệ của đất nước.
Có hai con đường để phát triển khoa học công nghệ, đó là tự nghiên cứu phát
minh ra công nghệ, hoặc bằng chuyển giao công nghệ, muốn làm được điều này,
chúng ta chúng ta phải có một khối lượng đầu tư mới có thể phát triển khoa học công
nghệ. Với xu hướng quốc tế hóa đời sống như hiện nay, chúng ta nên tranh thủ hợp tác
phát triển khoa học công nghệ với nước ngoài để tăng tiềm lực khoa học công nghệ
của đất nước thông qua nhiều hình thức như hợp tác nghiên cứu, khuyến khích đầu tư
chuyển giao công nghệ. Đồng thời tăng cường khả năng sáng tạo trong việc cải thiện
công nghệ hiện có phù hợp với điều kiện của Việt Nam nói chung và xã Vĩnh Kim nói
riêng.
-
xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể
kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích lũy
các nguồn lực. Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản
xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư.
Vậy vốn đầu tư chính là tiền tích lũy của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh
doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa
SVTH: Dương Thị Thu Phương
19
Khóa luận tốt nghiệp
vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo
tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
* Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu
tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc
thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán.
(Nguồn: https://doc.edu.vn)
1.1.2.2. Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản
* Theo nguồn vốn:
Gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư, vốn của các cơ sở sản xuất
kinh doanh dịch vụ, vốn vay nước ngoài, vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài, vốn
của dân.
Theo cách này chúng ta thấy được mức độ đã huy động của từng nguồn vốn,
vai trò của từng nguồn vốn để từ đó đưa ra các giải pháp huy động và sử dụng nguồn
vốn cho đầu tư XDCB có hiệu quả hơn.
* Theo hình thức đầu tư:
Gồm vốn đầu tư xây dựng mới, vốn đầu tư khôi phục, vốn đầu tư mở rộng đổi
Đó là tổng số tiền đã chi ra để tiến hành hoạt động của các công cuộc đầu tư
bao gồm: Chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng nhà cửa, cấu trúc hạ tầng,
mua sắm máy móc thiết bị để tiến hành các công cuộc xây dựng cơ bản và chi phí khác
theo quy định của thiết kế dự toán được ghi trong dự án đầu tư được duyệt.
*Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện
- Đối với các công cuộc đầu tư có quy mô lớn, có thời gian thực hiện đầutư dài.
Vốn đầu tư thực hiện là số vốn đã chi cho từng hoạt động hoặc từng giai đoạn
của mỗi công cuộc đầu tư đã hoàn thành thỏa mãn 2 điều kiện sau:
Đúng theo quy định của thiết kế.
Tiến độ thi công đã được thỏa thuận trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và đơn vị
xây lắp.
Đối với các thiết bị nhập kho mà không cần lắp đặt, nhập kho tính luôn vào
khối lượng VĐT thực hiện. Các thiết bị cần lắp đặt, trước khi nhập kho cần phải
chuyển vào bộ phận lắp đặt thiết bị.
- Đối với các công cuộc đầu tư có quy mô nhỏ, thời gian đầu tư ngắn.
SVTH: Dương Thị Thu Phương
21
Khóa luận tốt nghiệp
Vốn đã được chi được tính vào khối lượng vốn dầu tư thực hiện khi toàn bộ các
công việc của quá trình thực hiện đầu tư kết thúc.
- Đối với các công cuộc đầu tư do ngân sách tài trợ để tính số vốn đã chi để
được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kết quả của quá trình thực hiện
đầu tư phải đạt tiêu chuẩn và tính theo phương pháp sau đây:
• Vốn cho công tác xây dựng:
Để tính chỉ tiêu này người ta phải căn cứ vào bảng đơn giá dự toán quy định
phí vận chuyển đến kho của đơn vị sử dụng và nhập kho.
Đối với công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác
Nếu có đơn giá thì áp dụng phương pháp thính khối lượng VĐT thực hiện như
đối với công tác xây lắp.
Nếu chưa có đơn giá thì được tính vào khối lượng VĐT thực hiện theo phương
pháp thực chi, thực thanh.
*Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
TSCĐ huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng có
khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm hàng hóa hoặc tiến hành các hoạt
động dịch vụ cho xã hội được ghi trong dự án đầu tư) đã kết thúc quá trình xây dựng,
mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng có thể đưa vào hoạt động được ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất phục
vụ của các TSCĐ đã được huy động để sản xuất sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt
động dịch vụ khác được ghi trong dự án đầu tư. Đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn,
có nhiều hạng mục xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập thì được áp dụng
hình thức huy động bộ phận sau khi từng hạng mục đã kết thúc quá trình xây dựng,
mua sắm, lắp đặt. Còn đối với công cuộc đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện ngắn
thì áp dụng hình thức huy động toàn bộ khi tất cả đối tượng, hạng mục công trình đã
kết thúc quá trình xây dựng mua sắm và lắp đặt.
1.1.3.2. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB
Tùy vào cấp độ quản lý và mục đích sử dụng các kết quả để tính toán, cho nên
cần phải phân biệt hiệu quả tài chính hay hiệu quả kinh tế - xã hội. Hiệu quả hoạt động
đầu tư XDCB có thể được phản ánh ở cả hai góc độ:
- Dưới góc độ vi mô hiệu quả là sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra
của dự án, đó chính là lợi nhuận mà dự án mang lại. Lợi nhuận là động lực hấp dẫn
nhất của chủ đầu tư.
-
Hiệu quả của hoạt động đầu tư XDCB dưới góc độ vĩ mô được hiểu như
Khi phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội phải tính đầy đủ các khoản thu chi, xem
xét và điều chỉnh các khoản thu chi mang tính chất chuyển khoản, những tác động dây
chuyền nhằm phản ánh đúng những tác động của dự án.
* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư xem xét ở
tầm vĩ mô.
SVTH: Dương Thị Thu Phương
24
Khóa luận tốt nghiệp
- Chỉ tiêu ICOR: dùng để phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng
qua công thức:
ICOR = I / ∆GDP
Hay I = ICOR x ∆GDP
Trong đó:
ICOR: Là hệ số tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội.
I: Vốn đầu tư.
∆GDP: Mức thay đổi trong tổng sản phẩm quốc nội.
Hệ số ICOR cho biết trong thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm 1 đồng GDP thì cần bao
nhiêu đồng vốn đầu tư. Hệ số này càng thấp thì hiệu quả vốn đầu tư càng cao. Nếu hệ số
ICOR không đổi thì tỷ lệ giữa vốn đầu tư (I) so với GDP sẽ quyết định tốc độ tăng
trưởng kinh tế, (tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng cao và ngược lại).
- Hiệu suất vốn đầu tư: Hiệu suất vốn đầu tư biểu hiện mối quan hệ so sánh
giữa GDP và vốn đầu tư trong kỳ được xác định theo công thức:
Hi = GDP / I
Trong đó:
Hi
SVTH: Dương Thị Thu Phương
25