Nghiên cứu sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ cung ứng giống cây trồng tại xã hòa hải, huyện hương khê, tỉnh hà tĩnh - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Khuyến Nông và Phát Triển Nông Thôn

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CUNG
ỨNG GIỐNG CÂY TRỒNG TẠI XÃ HÒA HẢI_HUYỆN HƯƠNG KHÊ_TỈNH
HÀ TĨNH

Sinh viên thực hiện

: Phạm Thị Hương Thông

Lớp

: Khuyến nông 46

Thời gian thực hiện

: 28/12/2015 – 1/5/2016

Địa điểm thực hiện

: Xã Hòa Hải, Hương Khê

Giáo viên hướng dẫn

: TS Nguyễn Viết Tuân

trong suốt thời gian theo học và hoàn thành đề tài.
Mặc dù đã có sự cố gắng nhưng do kiến thức và kinh nghiệm
thực tế còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để đề tài được
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Hương Thông


MỤC LỤC
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI..................................................................................................................... 1
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.......................................................................................................................... 2
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN......................................................................................................................................... 3
2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN................................................................................................................................... 16
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU................................................................................................... 18
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU......................................................................................................................... 18
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................................................................ 19
4.1 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU........................................................................................................... 21
4.2 HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CÂY TRỒNG CỦA XÃ HÒA HẢI.............................................................................24
XÃ HÒA HẢI CHÚ TRỌNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ LÀ MỘT TRONG NHỮNG XÃ CÓ DIỆN TÍCH NÔNG
NGHIỆP KHÁ LỚN, TẬP TRUNG SẢN XUẤT CÂY TRỒNG Ở 2 VỤ VÀ RẤT CÓ HIỆU QUẢ, NĂNG SUẤT ỔN ĐỊNH. CỤ
THỂ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY TRỒNG NHƯ SAU:......................................................................................... 24
4.3 ĐẶC ĐIỂM VỀ QUY MÔ CÁC HỘ SỬ DỤNG DỊCH VỤ CUNG ỨNG GIỐNG CÂY TRỒNG................................25
4.3.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC HỘ................................................................................................................. 25
4.5 MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CUNG ỨNG GIỐNG TẠI XÃ HÒA HẢI...................30
4.5.1.3 TIÊU CHÍ CHỌN ĐỐI TÁC.................................................................................................................... 33
4.5.2 MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CUNG ỨNG.....................................................34
4.5.2.1 MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI ĐỘ TIN CẬY CỦA ĐỐI TÁC...........................................34

HÌNH 1:SƠ ĐỒ QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG KHÁCH HÀNG.................................11


HÌNH 2: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN HƯƠNG KHÊ.....................................................................................21
HÌNH 4: BIỂU ĐỒ TỶ LỆ NGƯỜI DÂN SỬ DỤNG CÁC NGUỒN GIỐNG KHÁC NHAU...........................................30
HÌNH 5: BIỂU ĐỒ TỶ LỆ BIẾT THÔNG TIN VỀ GIỐNG CÂY TRỒNG TRƯỚC KHI MUA GIỐNG CỦA TỪNG LOẠI HỘ
.................................................................................................................................................................... 31

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ được viết tắt

KHKT

Khoa học kỹ thuật

CP

Cổ phần

SXNN

Sản xuất nông nghiệp

HTX

Hợp tác xã



Khoa học và công nghệ

KH

Kế hoạch

TNHH MTV

Trách nhiệm hữu hạn một thành viên


TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Tên đề tài:“Nghiên cứu sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ
cung ứng giống cây trồng tại xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh”
Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng sản xuất cây trồng của nông
hộ tại xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Tìm hiểu mức độ hài lòng
của người dân đối với dịch vụ cung ứng giống tại xã. Xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ cung ứng giống tại xã Hòa
Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Hương Thông
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Viết Tuân
Tóm tắt đề tài:
- Giới thiệu đề tài:
Đối với một cơ quan, công ty doanh nghiệp nói chung và Trung tâm ứng
dụng KHKT và bảo vệ cây trồng vật nuôi Hương Khê, Công ty CP giống cây
trồng nói riêng khách hàng hay người dân có tầm quan trọng và ảnh hưởng rất
lớn. Đặc biệt là các Công ty kinh doanh trong lĩnh vực cung ứng đầu vào phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp, đối tượng khách hàng là những nông dân nên
ngoài yêu cầu chất lượng sản phẩm đảm bảo thì khâu cung ứng dịch vụ cũng hết
sức quan trọng. Nó giúp cho người dân có một cái nhìn toàn diện hơn về công

năm...được sự hỗ trợ kỹ thuật từ đối tác cung ứng, sự an tâm khi sử dụng giống
được đánh giá khá tốt. Người dân có những đánh giá về chất lượng giống cây
trồng ở mức khá cao. Và về sự quan tâm đối với nhu cầu của bà con được đánh
giá chưa cao, cán bộ trình độ vẫn còn hạn chế chưa thể giải đáp hết thắc mắc của
người dân.
- Kết luận
Người dân luôn băn khoăn và gặp khó khăn trong việc chọn đối tác cung
ứng giống cho sản xuất của họ. Người dân chưa thực sự hài lòng về dịch vụ
cung ứng giống tại xã với một số nội dung. Do đó các đối tác cung ứng giống
cây trồng cần có những chiến lược hay thay đổi như thế nào để nâng cao sự hài
lòng của người dân đối với dịch vụ cung ứng giống cây trồng tại xã Hòa Hải.
Giáo viên hướng dẫn

Sinh viên thực tập

TS Nguyễn Viết Tuân

Phạm Thị Hương Thông


PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong những hoạt động chủ chốt của nước ta. Hiện
nay có 70% dân số Việt Nam sống dựa vào nông nghiệp. Trong thời gian qua,
nông nghiệp đang trên đà tăng trưởng và phát triển, đặc biệt xuất khẩu các mặt
hàng nông sản đã đem lại giá trị cao cho nền thu nhập quốc dân. Tuy nhiên thì
hiện nay nông nghiệp nông thôn cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề khó
khăn, người dân thu nhập còn thấp, cuộc sống không ổn định. Sự biến động thị

người dân đối với dịch vụ cung ứng giống cây trồng tại xã Hòa Hải, huyện
Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh”. Để có một cái nhìn khách quan và khoa học mức
độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ cung ứng giống cây trồng, trên cơ sở
đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu
người dân.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất cây trồng của nông hộ tại xã Hòa Hải,
huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Tìm hiểu mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ cung ứng giống
tại xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với
dịch vụ cung ứng giống tại xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

2


PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về sản phẩm giống cây trồng
2.1.1.1 Khái niệm về sản phẩm giống cây trồng
a. Khái niệm:
Thuật ngữ giống dùng để chỉ một quần thể các sinh vật cùng loài do con
người chọn tạo ra và có các đặc điểm di truyền xác định. Tất cả các cá thể của
cùng một giống đều có các tính trạng hay thường được gọi là các đặc tính về
hình thái giải phẫu, sinh lí-sinh hóa, năng suất,… hầu như giống nhau và ổn định
trong những điều kiện sinh thái và kỹ thuật sản xuất phù hợp [8].
Vậy giống cây trồng có thể hiểu: “Là quần thể cây trồng thuộc cùng một
cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ

thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng [8].
b. Đặc điểm sản phẩm giống cây trồng
Hàng nghìn năm qua, nông dân ta đã đúc rút kinh nghiệm làm ruộng một
cách tổng quát: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Trong khâu giống, lại
nêu kỹ hơn: “Làm ruộng không giống, sống cũng như chết”. Như vậy, giống là
một trong những điều kiện quyết định mùa màng có được thu hoạch hay không
và muốn được mùa hơn cần phải có giống tốt.
Giống tốt có rất nhiều thuộc tính chất lượng thông qua một tập hợp các
thông số kỹ thuật phản ánh cho năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu
của khách hàng.
Các thuộc tính kỹ thuật phản ánh đặc trưng hoạt động của sản phẩm giống
cây trồng và hiệu quả của quá trình sử dụng sản phẩm như: Phẩm chất hạt giống,
độ nảy mầm, quá trình sinh trưởng, phát triển, thời gian sinh trưởng, thích hợp
với chất đất nào, thời vụ nào, các biện pháp chăm sóc, năng suất mùa màng …
Khác với sản phẩm khác, sau khi mua xong, người tiêu dùng sử dụng
ngay và biết được chất lượng sản phẩm. Với sản phẩm giống, người ta phải theo
dõi cả một vụ sản xuất từ gieo cấy đến thu hoạch mới biết được sản phẩm giống
tốt hay xấu.
Từ cách phân loại "sản phẩm" bao gồm: Phân loại sản phẩm theo độ bền
của sản phẩm và phân loại theo mục đích sử dụng sản phẩm kết hợp với những
đặc thù của sản phẩm giống cây trồng, ta có thể phân loại sản phẩm giống cây
trồng vào nhóm sản phẩm phân loại theo mục đích sử dụng sản phẩm. Cụ thể
hơn là sản phẩm giống cây trồng thuộc “hàng tư liệu sản xuất” – vật tư nông
4


nghiệp. Sản phẩm giống cây trồng chính là nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá
trình sản xuất nông nghiệp [8].
2.1.2 Khái quát chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người dân
2.1.2.1 Chất lượng dịch vụ

chuẩn nào đó trước khi đưa chúng tới khách hàng như trường hợp sản phẩm
5


hữu hình. Vì vậy, việc đo lường và đánh giá chất lượng các dịch vụ được thực
hiện theo phạm vi và góc độ tiếp cận khác với sản phẩm vật chất.
Có nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này nhưng phổ biến nhất và biết
đến nhiều nhất là các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman et al.
Năm 1985, Parasuraman et al đã đưa ra 10 nhân tố quyết định chất lượng dịch
vụ được liệt kê dưới đây :
1) Khả năng tiếp cận
2) Chất lượng thông tin
3) Năng lực chuyên môn
4) Phong cách phục vụ
5) Tôn trọng khách hàng
6) Đáng tin cậy
7) Hiệu quả phục vụ
8) Tính an toàn
9) Tính hữu hình
10) Am hiểu khách hàng
Các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ rất đa dạng và được xác định khác
nhau tùy lĩnh vực nghiên cứu. Vì vậy, các tài liệu nghiên cứu được nêu ra trên
đây là cơ sở tham khảo cho việc xác định cụ thể các thang đo chất lượng dịch vụ
trong lĩnh vực tiếp cận thông tin về giống vật nuôi trong nghiên cứu này [3].
Và đến năm 1988, ông đã khái quát hóa thành 5 nhân tố cụ thể như sau:
(1) Sự tin cậy: Nói lên khả năng cung ứng dịch vụ chính xác, đúng giờ và
uy tín. Điều này đòi hỏi sự nhất quán trong việc thực hiện dịch vụ và tôn trọng
các cam kết cũng như giữ lời hứa với khách hàng.
(2) Sự đáp ứng: Dịch vụ tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Do đó,
chất lượng dịch vụ nhất thiết phải đáp ứng nhu cầu khách hàng và lấy yêu cầu

xét khách hàng mình hiện đang cần những gì để có thể đáp ứng được nhu cầu
cho họ. Các dịch vụ đi kèm tốt thì đồng nghĩa với việc chăm sóc khách hàng tốt.
(3) Sự cam kết: Cam kết phục vụ khách hàng, đem lại những gì tốt nhất
cho họ, sự cam kết thể hiện ở dịch vụ mà họ đưa ra có đáp ứng được những nhu
cầu của khách hàng hay không.
(4) Sự hữu hình: là hình ảnh bên ngoài của các cơ sở vật chất, thiết bị,
máy móc, phong thái của đội ngũ nhân viên, tài liệu, sách hướng dẫn và hệ
thống thông tin liên lạc của công ty.
(5) Sự hoàn hảo: Trong bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, muốn đạt
được sự hoàn hảo thì cần phải thực hiện được tất cả các yếu tố sau:
- Ý tưởng kinh doanh của công ty.
- Đặt ra các mục tiêu rõ ràng và thành quả đạt được.
- Nghiên cứu và phân tích thị trường.
- Phân tích thế mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức.
- Kế hoạch marketing....
Sự hoàn hảo thể hiện ở chỗ, ngoài sản phẩm đưa ra tốt, dịch vụ cũng phải
7


tốt lúc đó khách hàng mới đánh giá công ty là tốt.
Đến năm 2001, Sureshchandar et al cũng đưa ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng dịch vụ bao gồm [3]:
(1) Yếu tố dịch vụ cốt lõi: Đây là yếu tố cốt lõi quyết định đến chất lượng
dịch vụ. Muốn đáp ứng nhu cầu cho khách hàng thì công ty cần phải có các
chiến lược marketing, đưa ra những dịch vụ gì là hợp lý nhất, những dịch vụ gì
mà khách hàng đang mong đợi.
(2) Yếu tố con người: Đội ngũ nhân viên công ty sẽ quyết định chất lượng
dịch vụ đó như thế nào, nó thể hiện qua hành vi ứng xử, thái độ phục vụ, tiếp
xúc khách hàng, phong thái phục vụ và tinh thần tất cả vì khách hàng...
(3) Yếu tố kỹ thuật: Đây là yếu tố khách hàng nhận được thông qua việc

là trạng thái cảm nhận của một người thông qua việc tiêu dùng sản phẩm về mức
độ lợi ích mà một sản phẩm thực tế mang lại so với những gì người đó kỳ vọng
(mong đợi) [2].
Theo Hansemark và Albinsson (2004), “Sự hài lòng của khách hàng là
một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một
cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và
những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong
muốn”[1].
Theo Zeithaml & Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là sự đánh
giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu
và mong đợi của họ [4].
Kotler (2000), định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc
thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của
sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”[4].
Sự hài lòng của khách hàng là việc khác hàng căn cứ vài những hiểu biết
của mình đối với một sản phẩm hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá
hoặc phán đoán chủ quan. Đó là một dạng cảm giác về tâm lý sau khi nhu cầu của
khách hàng được thỏa mãn. Sự hài lòng của khách hàng được hình thành trên cơ
sở những kinh nghiệm, đặc biệt được tích lũy khi mua sắm và sử dụng sản phẩm
hay dịch vụ. Sau khi mua và sử dụng sản phẩm khách hàng sẽ có sự so sánh giữa
hiện thực và kỳ vọng, từ đó đánh giá được hài lòng hay không hài lòng.
Như vậy, có thể hiểu được là cảm giác dễ chịu hoặc có thể thất vọng phát
sinh từ việc người mua so sánh giữa những lợi ích thực tế của sản phẩm và
những kỳ vọng của họ.Việc khách hàng hài lòng hay không sau khi mua hàng
phụ thuộc vào việc họ so sánh giữa những lợi ích thực tế của sản phẩm và những
kỳ vọng của họ trước khi mua. Khái niệm sản phẩm ở đây được hiểu không chỉ
là một vật thể vật chất thông thường mà nó bao gồm cả dịch vụ.
9



2002) [7]. Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm
có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm
cho khách hàng hài lòng. Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng khách hàng, nhà
cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, chất lượng
10


dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau
(positive relationship), trong đó chất lượng dịch vụ là cái được tạo ra trước và
sau đó quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Mối quan hệ nhân quả giữa
hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng
của khách hàng. Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai yếu tố này, Spreng
và Mackoy (1996) cũng chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng
khách hàng [1].
Chất
lượng
mong đợi
Chất
lượng cảm
nhận

Nhu cầu
được đáp
ứng

Chất
lượng dịch
vụ

Nhu cầu

Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, nghĩa là số lượng tiền
phải trả cho hàng hoá đó. Về nghĩa rộng đó là số tiền phải trả cho một hàng hoá,
một dịch vụ, hay một tài sản nào đó. Giá cả của hàng hoá nói chung là đại lượng
thay đổi xoay quanh giá trị. Khi cung và cầu của một hay một loại hàng hóa về
cơ bản ăn khớp với nhau thì giá cả phản ánh và phù hợp với giá trị của hàng hoá
đó, trường hợp này ít khi xảy ra.
Xem xét các khía cạnh: Giá so với chất lượng, giá so với đối thủ cạnh
tranh, giá so với mong đợi của người dân.
c. Thời gian chờ đợi
Chờ đợi là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với nhiều dịch vụ bởi vì
một trong những đặc điểm của dịch vụ là không lưu trữ được, không thể tách rời
và nhu cầu là không thể đoán trước ( Zeithaml, Parasuraman và Berry, 1985).
Khách hàng thường rất coi trọng thời gian mà họ phải chờ đợi ( Hornik, 1984;
Katz, Larson & Larson 1991), và khi nhận thức về thời gian chờ đợi càng tăng
thì sự hài lòng của khách hàng có xu hướng giảm ( Katz et al 1991)[1].
Thời gian chờ đợi là một yếu tố quan trọng đến sự đánh giá của khách
hàng đối với dịch vụ. Các tác động tiêu cực của sự chờ đợi lên sự đánh giá dịch
vụ của khách hàng đã được nhiều nhà nghiên cứu kiểm chứng như Katz, Larson
& Larson 1991; Taylor 1994…..Tom và Lucey 1995 cũng chỉ ra rằng sự hài
lòng hay không hài lòng của khách hàng trong một tình huống mà khách hàng
phải chờ đợi, không chỉ phụ thuộc vào thời gian chờ đợi mà còn phụ thuộc vào
nguyên nhân của sự chờ đợi [1].
Đôi khi nhà quản lý dịch vụ có thể giảm nhẹ được tác động của sự chờ đợi
đối với khách hàng những sự kiểm soát này có giới hạn nhất định. Nếu không
thể kiểm soát thời gian chờ đợi thực tế thì các nhà cung cấp dịch vụ có thể có
những hành động để giảm tác động tiêu cực do chờ đợi mà không thay đổi thời
gian chờ đợi thực tế như dùng âm nhạc đánh lạc hướng khách hàng.
Vì thế việc tìm hiểu nhận thức khách hàng về sự chờ đợi sẽ giúp cho các
nhà quản trị đề ra các chiến lược để giảm thiểu sự bất mãn với chờ đợi và nâng
cao sự hài lòng của khách hàng.

khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ (khách hàng) hiểu biết dễ dàng và lắng nghe
về những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết
khiếu nại thắc mắc.
- Tin nhiệm (Credibility): nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng,
làm cho khách hàng tin cậy vào công ty. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và
tiếng tăm của công ty, nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với
khách hàng.
- An toàn (Security): liên quan đến khả năng bảo đảm sự an toàn cho
khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật
thông tin.
13


- Hiểu biết khách hàng (Understanding customer): thể hiện qua khả năng
hiểu biết và nắm bắt nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi
hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng
thường xuyên.
- Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục
của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị hỗ trợ cho dịch vụ.
2.1.2.4 Đánh giá sự hài lòng
Tất cả các thang đo các khái niệm nghiên cứu trong mô hình đều là thang đo
đa biến, ngoại trừ thang đo khái niệm sự thỏa mãn được đo bằng một biến. Các
thang đo này sử dụng dạng Likert, năm điểm với 1: hoàn toàn không đồng ý và 5:
hoàn toàn đồng ý. Thang đo thành phần tin cậy của đối tác cung ứng bao gồm bốn
thành phần: thực hiện đúng chương trình,cung ứng đúng thời hạn, giải quyết thắc
mắc và khiếu nại thỏa đáng, an tâm khi sử dụng dịch vụ cung ứng giống cây trồng.
Thang đo đáp ứng bao gồm 4 thành phần: nhân viên sẵn sàng giúp đỡ, phục vụ
nhanh chóng, phục vụ nhiệt tình, phục vụ chu đáo dù bận rộn. Thang đo thành phần
khả năng phục vụ của nhân viên được đo lường bằng bốn biến quan sát và tập trung
vào kiến thức để trả lời câu hỏi, cung cách ohục vụ tạo sự tin tưởng, nhân viên thái

( Lê Thị Thùy Trang,năm 2015)
Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy chất lượng dịch vụ cung ứng được
xem xét dưới các chỉ tiêu như địa điểm mua hàng thuận lợi; thái độ của nhân
viên nhiệt tình; mức độ sẵn sàng tư vấn, giải đáp thắc mắc cho người dân; thăm
vườn và kiểm tra vườn; phong cách phục vụ và khả năng đáp ứng cho khách
hàng. Trên cơ sở đó đề tài đã chỉ ra được chất lượng dịch vụ cung ứng giống cây
trồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên giống cây trồng Quảng
Bình hiện tại được đánh giá là tốt, từ đó tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao
chất lượng sản phẩm và dịch vụ để nâng mức hài lòng của người dân từ khá lên
mức hài lòng và rất hài lòng. Đồng thời, làm cho sản phẩm giống cây trồng của
công ty TNHH MTV luôn là sự lựa chọn hàng đầu của người dân.
Kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình trên, đề tài “Nghiên cứu sự
hài lòng của người dân đối với dịch vụ cung ứng giống cây trồng tại xã Hòa
Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh” đi sâu nghiên cứu sự thỏa mãn của
người dân đối với dịch vụ giống cây trồng của các đối tác cung ứng tại xã Hòa
Hải. Tìm hiểu thực trạng hoạt động nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người
dân đối với dịch vụ “giống cây trồng” của các đối tác cung ứng tại xã trong
những năm gần đây, từ đó chỉ ra những mặt đã làm được, chưa làm được và
nguyên nhân của nó và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần cải
thiện mức độ hài lòng củangười dân, qua đó nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các công ty trong thời gian tới.

15


2.3 Cơ sở thực tiễn
Năm 1989, chỉ số đo mức độ hài lòng đầu tiên được ra đời tại Thụy Điển
nhằm thiết lập chỉ số hài lòng của khách hàng đối với việc mua và tiêu dùng
sản phẩm/ dịch vụ nội địa. Những năm sau đó, chỉ số này được phát triển rộng
rãi tại Đức năm 1992, Mỹ năm 1994, New Zeland và Đài Loan khoảng năm

16


- Tình hình cung ứng giống cây trồng tại xã Hòa Hải
Trong những năm qua, nhờ gắn kết chặt chẽ sản xuất với dịch vụ nên các
công ty giống cây trồng đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu sản xuất, góp phần
nâng cao sản lượng cây trồng hàng năm, đảm bảo an ninh lương thực của người
dân xã Hòa Hải.
Mặt khác để có nguồn đầu vào ổn định phục vụ sản xuất, đơn vị đã vận
dụng chính sách rất hợp lý với các đối tác. Theo mức giá đã hợp đồng nếu mùa
giá giống lên thì vẫn không thay đổi nên các cơ sở này tin tưởng hợp tác lâu dài.
Những năm gần đây hoạt động của các đối tác cung ứng khá ổn định, năm 2015
diện tích lúa vụ xuân là 410 ha với số lượng giống cần là 24,6 tấn. Trung tâm
ứng dụng KHKT và bảo vệ cây trồng vật nuôi chỉ cung ứng vụ xuân đủ 390 ha
với số lượng là 23,4 tấn, vụ hè thu cung ứng đủ 240 ha với 14,4 tấn. Trong đó
giống năng suất, chất lượng cao chiếm 75% tổng lượng giống. Công ty CP giống
cây trồng Hà Tĩnh với diện tích lạc 110 ha thì lượng giống cung ứng đủ cho 70
ha tương ứng với 9,8 tấn lạc giống, và 1,1 tấn ngô, 3,3 tấn giống đậu xanh.
Ngoài ra còn cung ứng cho các địa phương trên địa bàn huyện góp phần hạn chế
tình trạng sốt giá vật tư nông nghiệp trong các vụ sản xuất. Để chủ động cung
ứng hạt giống đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng. Các đối tác này cũng có
những thử nghiệm giống mới trên địa bàn xã, làm cơ sở đánh giá năng suất, khả
năng chống chịu sâu bệnh bổ sung vào cơ cấu giống.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status