ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
----------
CHUYÃN ÂÃÖ TÄÚT NGHIÃÛP
ÂAÛI HOÜC
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ
VIỆT NAM CHI NHÁNH HUẾ
HỒ TIẾN THẮNG
KHÓA HỌC: 2011-2015
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
----------
CHUYÃN ÂÃÖ TÄÚT
NGHIÃÛP ÂAÛI HOÜC
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ
VIỆT NAM CHI NHÁNH HUẾ
Sinh viên thực hiện: Hồ Tiến Thắng
Giáo viên hướng dẫn
tập tại đơn vị và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tìm
hiểu tình hình thực tế tại đơn vị và góp phần làm cho đề
tài tốt nghiệp của tôi được thành công tốt đẹp. Xin cảm
ơn các anh chị phòng dịch vụ khách hàng tại Ngân hàng
đã tận tình giúp đỡ và cung cấp đầy đủ số liệu làm cho
đề tài của tôi hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!
Ngày 10, tháng 05, năm 2015
Sinh viên
thực hiện
Hồ Tiến Thắng
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
-NHTM
Ngân hàng thương mại
-NHNN
Ngân hàng nhà nước
-TMCP
7
8
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
9
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trước hết là, tìm hiểu tổng quan về ngân hàng Quốc tế chi nhánh Huế và
phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua số liệu thống kê 3 năm
để nắm được tình hình hoạt động chung của ngân hàng là tốt hay xấu
Kế đến là tập trung phân tích thực trạng hoạt động tín dụng tại đơn vị thông
qua số liệu từ năm 2012-2014, để nắm được thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh.
Từ đó, tìm ra những thành tựu, yếu kém và nguyên nhân của nó để có thể đánh giá
thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng một cách chính xác và hiệu quả
nhất.
Cuối cùng, từ các kết quả phân tích trên,kết hợp với những định hướng phát
triển hoạt động tín dụng của ngân hàng trong tương lai để đề ra các giải pháp và
kiến nghị góp phần nâng cao năng lực quản trị tín dụng tại chi nhánh hiện nay.
10
PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời gian thực tập tại ngân hàng VIB chi nhánh Huế, nhận thức được tầm
quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với ngân hàng VIB – Huế và với
mong muốn tìm hiểu thực tế công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nên em
quyết định chọn đề tài: “ Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ
phần Quốc Tế Việt Nam chi nhánh Huế” làm chuyên đề tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
của các NHTM.
- Định hình và hệ thống các dạng thức về thực trạng trong công tác quản trị
rủi ro tín dụng.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng đối với
Ngân hàng VIB Huế nói riêng và đối với các NHTM nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các giải pháp góp phần hạn chế rủi ro
tín dụng để có thể góp phần nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Quốc tế VIB - chi nhánh Huế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB) chi nhánh Huế
Phạm vi thời gian: Thu thập các số liệu của ngân hàng TMCP Quốc tế VIB Huế
trong 3 năm 2012, 2013, 2015
4. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, đề
tài nghiên cứu đã được thực hiện.
12
- Thu thập số liệu, tổng hợp các số liệu, so sánh, phân tích thực tế về hoạt động
tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB chi nhánh Huế
các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng, các NHTM khác.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động tín dụng của NHTM
Có thể nhận thấy về thực chất tín dụng ngân hàng là một quan hệ kinh tế giữa
ngân hàng và người đi vay, mối quan hệ này được thể hiện với nhau thông qua sự vận
động của giá trị vốn tín dụng mà ngân hàng chuyển sang người đi vay và sau một thời
gian nhất định quay về ngân hàng với lượng giá trị lớn hơn lúc ban đầu. Hoạt động tín
dụng của NHTM có các đặc điểm:
14
- Tín dụng là có lòng tin: bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng latinh
“creditum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm về tín
dụng cũng cho thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn
biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của ngân hàng vào người đi vay. Yếu tố lòng
tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm
trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh. Khi quyết
định cung cấp một khoản tín dụng, nếu ngân hàng không tin tưởng vào khả năng hoàn
trả của khách hàng thì quan hệ tín dụng có thể không phát sinh.
- Tín dụng có tính thời gian: khác với các quan hệ mua bán thông thường, quan
hệ tín dụng chỉ trao đổi quyển sử dụng giá trị của khoản vay chứ không trao đổi quyền
sở hữu khoản vay. Ngân hàng trao giá trị khoản vay dưới dạng tiền tệ cho khách hàng
sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi khai thác giá trị sử dụng của
khoản vay trong thời hạn cam kết trên hợp đồng tín dụng, người đi vay phải hoàn trả
toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lãi vay theo đúng cam kết.
- Tín dụng có tính hoàn trả: đây là đặc điểm thuộc vè bản chất vận động của tín
dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác. Sau
khi kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về
trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả cho ngân hàng kèm theo
một phần lãi theo cam kết trong hợp đồng tín dụng.
quan hệ lâu dài với ngân hàng… thì ngân hàng có thể cấp tín dụng theo hình thức này.
- Cho vay có tài sản đảm bảo: là hình thức cho vay mà để được vay thì người đi
vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với
khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có sự bảo
đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có một nguồn thu thứ hai bổ
sung khi nguồn thu nợ thứ nhất không đầy đủ. Đồng thời tài sản thế chấp này bảo đảm
cho khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích cam kết.
* Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng:
16
- Tín dụng bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung
cấp bằng tiền. Đây là loại tín dụng chủ yếu của các ngân hàng.
- Tín dụng bằng tài sản là hình thức cho vay bằng tài sản như tài trợ thuê
mua…
* Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các
khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như chiết
khấu thương mại, mua nợ… Ngoài ra, ngân hàng còn cho vay dưới hình thức bảo
lãnh…
1.2. Rủi ro tín dụng
1.2.1. Khái niệm
Theo Timothy W-Koch: Khi một ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời, rủi ro xảy
ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi
theo thoả thuận. Rủi ro tín dụng có sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá
của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn (Bank
management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107).
Phát sinh lãi treo
Phát sinh nợ khó
hạn
đóng băng
đòi
Không thu được
vốn đúng hạn
lãi đúng hạn
Phát sinh lãi treo
Khả năng thanh toán giảm, Hiệu quả kinh doanh giảm, Thất thoát
vốn, Phá sản.
1.2.2. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Nguyên nhân khách quan
* Môi trường tự nhiên:
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất
kinh doanh, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam còn phụ thuộc quá nhiều
vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phục vụ nông nghiệp và thủ công nghiệp,…
Điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự báo, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại
lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy khi có thiên tai, dịch họa xảy ra,
khách hàng của ngân hàng sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, nguồn thu bị ảnh hưởng…điều
đó đồng nghĩa với việc ngân hàng cùng gánh chịu rủi ro với khách hàng của mình. Rủi
trong nhiều trường hợp đã đặt các ngân hàng vào tình trạng đưa ra phán quyết tín dụng
trong điều kiện thông tin không hoàn hảo, gây rủi ro cho ngân hàng.
1.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan
19
* Nguyên nhân từ phía khách hàng vay:
+ Sử dụng vốn sai mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng
phương án, mục đích xin vay, hiệu quả kinh doanh không được phát huy triệt để nên
khi đến hạn không trả được nợ cho ngân hàng.
+ Khách hàng vay vốn không có thiện chí trả nợ, trây ỳ không trả nợ hoặc cố
tình lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng.
+ Do sự yếu kém trong kinh doanh. Tính toán các phương án kinh doanh, hoạch
định ngân quỹ không chính xác, không dự tính hết các khoản chi tiêu dẫn đến xác định
sai thu nhập trả nợ ngân hàng.
* Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
+ Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân
tích và đánh giá khách hàng,…dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phương án xin
vay, hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hơp với phương án kinh
doanh của khách hàng.
+ Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không phát
hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn sai mục đích.
+ Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo
chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay.
+ Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng, việc chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu
chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay.
* Nguyên nhân từ phía các bảo đảm tín dụng:
+ Giá cả các tài sản bảo đảm biến động theo chiều hướng bất lợi, dẫn đến
trường hợp giá trị thị trường của tài sản bảo đảm giảm, không đủ bù đắp cho các khoản
tín dụng khi xảy ra rủi ro. Sự biến động các tài sản bảo đảm còn phụ thuộc vào đặc
Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát về mặt tài chính mà ngân hàng phải
gánh chịu liên quan tới việc người vay vốn không trả đúng hạn hay không thực hiện
21
đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Nói như vậy hàm ý rủi ro tín dụng có ảnh
hưởng lớn tới tình hình tài chính của ngân hàng.
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho
vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này
làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, lợi nhuận của ngân hàng bị giảm sút,
kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Khi không thu được nợ thì
vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả.
Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử dụng
các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, ngân
hàng không có đủ vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất
khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản. Và kết quả làm
thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm.
Kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ
hoặc đưa đến bờ vực của sự phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
Nói tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ
nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi
ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và
mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản,
gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng.
1.3. Quản trị rủi ro tín dụng
1.3.1. Khái niệm
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các
chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu
quả và phát triển bền vững. Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn
suất trả nợ thành công của khách hàng. Việc đánh giá lịch sử các khoản vay và thanh
toán các khoản vay, dù là của cá nhân hay các khoản vay thương mại cũng được coi là
chỉ báo cho khả năng chi trả trong tương lai.
Capital (Cấu trúc vốn): Là số vốn khách hàng đầu tư vào doanh nghiệp. Ngân
hàng sẽ yên tâm hơn nếu khách hàng có vốn chủ sở hữu đủ lớn. Vốn chủ sử hữu có thể
23
được huy động trong quá trình hoạt động, giúp đảm bảo cho trạng thái khoản vay của
ngân hàng. Ngân hàng cũng nhìn nhận vốn chủ sở hữu như là chỉ báo của mức độ cam
kết cũng như mức rủi ro của khách hàng đối với kinh doanh của mình và sẽ cảm thấy
thoải mái hơn nếu biết khách hàng sẽ mất rất nhiều nếu công việc kinh doanh của họ
không thành công. Sẽ tốt hơn nếu nguồn vốn này được lấy từ chính tài sản của cổ đông.
Collateral (Tài sản thế chấp): Ngân hàng có thể xử lý tài sản thế chấp của
khách hàng khi khách hàng bị phá sản hoặc mất khả năng chi trả nợ. Ngân hàng được
đảm bảo quyền ưu tiên xử lý tài sản thế chấp của khách hàng trước các chủ nợ khác.
Ngân hàng cũng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng các tài sản cá nhân khác ngoài
công ty làm tài sản thế chấp. Đối với ngân hàng, đây là sự đảm bảo và là nguồn trả nợ
thay thế ngoài dòng tiền trả nợ dự tính. Một số ngân hàng có thể yêu cầu có bảo lãnh
cùng với tài sản đảm bảo. Bảo lãnh là hình thức bên thứ ba ký bảo lãnh cam kết thanh
toán nếu người vay không trả được nợ.
Character (Thái độ, sự thể hiện của khách hàng): Là ấn tượng chung khách
hàng để lại đối với ngân hàng. Ấn tượng này có thể là khá chủ quan. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp, đối với nhiều ngân hàng, thái độ của khách hàng quyết định liệu
một khoản vay nhỏ có được phê duyệt hay không. Các vấn đề chủ yếu liên quan đến
thái độ đáng ngờ bao gồm: sự kém hợp tác với ngân hàng, lừa dối, các vụ kiện tụng và
thua lỗ. Thời gian, chi phí kiện tụng và chi phí cơ hội có thể phát sinh do khoản vay
gặp vấn đề có thể lớn hơn nhiều so với thu nhập dự tính (Vấn đề này, tuy nhiên, trở
nên kém quan trọng hơn đối với các khoản vay cho công ty lớn được điều hành bởi
một nhóm cá nhân). Ngoài ra, một số yếu tố định tính khác như trình độ học vấn, kinh
Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ
cao.
- Z < 1,8: Khách hàng có khả năng rủi to cao
- 1,8 < Z < 3: Không xác định được
- Z > 3: Khách hàng không có khả năng vỡ nợ
Bất kỳ khách hàng nào có điểm số Z