Luận văn kiểm toán: Đánh giá việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bên ngoài của công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC - Pdf 38

Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

LỜI MỞ ĐẦU
Sự thành công của một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập
bằng chứng kiểm toán và đánh giá bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên. Phương
pháp kiểm toán là yếu tố quan trọng. Thực tế mỗi công ty áp dụng phương pháp khác
nhau, vận dụng vào những kỹ thuật kiểm toán riêng và cũng có những công ty gặp
phải khó khăn nhất định khi áp dụng, đặc biệt là phát hiện gian lận. Việc vận dụng các
chuẩn mực kiểm toán liên quan vào kiểm toán báo cáo tài chính là nhằm mục đích
đảm bảo công tác kiểm toán đạt hiệu quả cao cũng như tuân thủ các nguyên tắc kiểm
toán trong và ngoài nước. Các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã chú ý vận
dụng các chuẩn mực kiểm toán vào thực tiễn công tác, chẳng hạn như VSA 200, 220,
240, 300, 310, 320, 400, 500, 501, 505, 520, 530, 560, 570….Đây là những chuẩn mực
không chỉ có thể vận dụng trong công tác kiểm toán mà còn là thước đo về chất lượng
công tác kiểm toán. Tuy nhiên trong thực tế, điều này không phải lúc nào cũng được
vận dụng tốt tại các công ty kiểm toán. Vai trò của bằng chứng kiểm toán là không thể
phủ nhận trong một cuộc kiểm toán, trong đó bằng chứng được thu thập từ thông tin
bên ngoài có ý nghĩa quan trọng vì độ tin cậy mà nó đạt được. Do đó em thực hiện đề
tài: “Đánh giá việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bên
ngoài của công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC”. Ở đề tài này,em muốn đề cập
đến thực tế thu thập bằng chứng kiểm toán từ thông tin xác nhận bên ngoài cũng như
đánh giá được việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán số 505 – Thông tin xác nhận bên
ngoài của công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC. Đề tài sẽ phần nào nêu ra được
thực tế vận dụng chuẩn mực của ABC và nhận ra những mặt còn tồn đọng, từ đó nêu
kiến nghị một số giải pháp dựa trên lý thuyết tìm hiểu. Em hi vọng với những kiến
thức học tập trên trường và thực tế tìm hiểu được, đề tài này sẽ góp phần hoàn thiện
hơn công tác thu thập thông tin xác nhận từ bên ngoài trong quy trình thu thập bằng
chứng kiểm toán.
Nội dung của đề tài gồm 3 phần như sau:

2.1Các hoẠt đỘng và tình hình kinh doanh chỦ yẾu.............................................................76
2.2SỞ hỮu, các bên liên quan và cẤu trúc tỔ chỨc cỦa DN.................................................76
2.3Các thay đỔi lỚn vỀ quy mô hoẠt đỘng cỦA DN............................................................76
2.4HiỂu biẾt vỀ hỆ thỐng kẾ toán áp dỤng...........................................................................77
2.5KẾt quẢ kinh doanh và thuẾ..............................................................................................78
3. CÁC VẤN ĐỀ KHÁC......................................................................................................78
3.1Nhân sỰ chỦ chỐt cỦa DN................................................................................................78
3.2Nhân sỰ kẾ toán.................................................................................................................78
3.3Các thông tin hành chính khác............................................................................................78
GIAO DỊCH BẤT THƯỜNG VÀ CÁC RỦI RO PHÁT HIỆN.............................................79

Phụ lục

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
1. Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
2. Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức nhân sự
3. Bảng 3: Quy trình kiểm toán do VACPA ban hành
4. Bảng 4: Bảng cơ sở dẫn liệu cần xác nhận theo khoản mục
5. Bảng 5: Bảng chu trình kinh doanh cần tìm hiểu theo từng lĩnh vực
6. Bảng 6: Bảng hướng dẫn lựa chọn tỉ lệ xác định mức trọng yếu
7. Bảng 7: Bảng tổng hợp các khoản vay ngắn hạn theo đối tượng năm
2010 của công ty CP PP
8. Bảng 8: Bảng tổng hợp công nợ phải thu của công ty PP năm 2010

SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 2


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

9. Phụ lục 6: Mẫu A510 – Phân tích sơ bộ Báo cáo tài chính

Phần 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KIỂM
TOÁN SỐ 505 – THÔNG TIN XÁC NHẬN TỪ BÊN NGOÀI
I. Khái quát chung về kiểm toán tài chính và quy trình kiểm toán
1. Kiểm toán tài chính
I.1.

Khái niệm kiểm toán tài chính

Theo chuẩn mực kiểm toán số 200 - Kiểm toán tài chính là loại kiểm toán có
mục đích xác nhận mức độ trung thực, hợp lý và hợp pháp của các bản khai tài chính.
Mức độ trung thực, hợp lý, hợp pháp của các bản khai tài chính được xác minh dựa
trên chuẩn mực kiểm toán. Kết quả xác minh các bản khai tài chính được trình bày trên
báo cáo kiểm toán. Ngoài ra, kiểm toán viên có thể đưa ra những lời khuyên cho các
nhà quản lý thông qua thư quản lý.
SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 4


Luận văn tốt nghiệp
I.2.

GVHD:……………………………

Đối tượng, khách thể, chủ thể của kiểm toán tài chính

Đối tượng trực tiếp của kiểm toán báo cáo tài chính là các bản khai tài chính
“các bản kê khai thông tin có tính pháp lý, sử dụng thước đo giá trị”. Bộ phận quan
trọng nhất của các bản khai tài chính là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, ngoài

o Sự đánh giá: xác minh các đối tượng kế toán được đánh giá phù hợp với
nguyên tắc kế toán.
o Sự trình bày và khai báo: xác minh tài sản, nợ phải trả, vốn CSH, doanh thu,
chi phí được trình bày và thuyết minh phù hợp với chuẩn mực kế toán.
Mục tiêu kiểm toán cụ thể: là các mục tiêu kiểm toán riêng cho từng khoản mục
hoặc chu trình, được xác định trên cơ sở: mục tiêu kiểm toán chung; đặc điểm của
khoản mục hay chương trình; đặc điểm hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ
liên quan đến khoản mục hay chu trình đó.

2. Quy trình kiểm toán
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, để thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm
toán có giá trị để làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp
lý của thông tin trên Báo cáo tài chính đồng thời đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế, tính
hiệu lực của từng cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải xây dựng được quy trình cụ thể
SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 5


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

cho cuộc kiểm toán đó. Thông thường, mỗi quy trình kiểm toán được chia thành 3
bước: Lập kế hoạch kiểm toán; Thực hiện kiểm toán và Kết thúc kiểm toán
Bước 1: Lập kế hoạch kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số
300 thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán, trong đó mô
tả phạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán
phải đầy đủ, chi tiết để làm cơ sở cho chương trình kiểm toán. Trong bước công việc
này, bắt đầu từ thư mời kiểm toán, kiểm toán viên sẽ tìm hiểu khách hàng với mục
đích hình thành hợp đồng hoặc đưa ra được kế hoạch chung. Kiểm toán viên cần thu
thập các thông tin cụ thể về khách hàng, tìm hiểu đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ

9 năm 1997 sau Hội thảo về chuẩn mực kiểm toán được Bộ tài chính và dự án
EUROTAPVIET về kế toán và kiểm toán tổ chức tại Nha Trang. Được sự giúp đỡ của
EU và của WB từ 2002, chúng ta đã tập trung toàn lực cho việc nghiên cứu, tiếp cận
chuẩn mực kiểm toán quốc tế và từ đó đã và đang xúc tiến soạn thảo, công bố Hệ
thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.
1. Sự cần thiết của các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đối với thực tiễn
Việc ban hành các chuẩn mực kiểm toán là cần thiết vì vai trò quan trọng của
chúng:
o Giúp cho hoạt động của cơ quan kiểm toán và các kiểm toán viên có được
đường lối hoạt động rõ ràng, thực hiện công việc kiểm toán trôi chảy đạt chất lượng
SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 6


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

cao. Các chuẩn mực kiểm toán là điều kiện để các kiểm toán viên nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện được đạo đức nghề nghiệp.
o Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở kiểm tra đánh giá chất lượng, hiệu
quả và độ tuân thủ của các kiểm toán viên cũng như các đoàn kiểm toán khi thực hiện
kiểm toán tại các đơn vị. Ngoài ra, hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở kiểm tra
tính đúng đắn các nhận xét của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán và là cơ sở để
giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa kiểm toán viên, đoàn kiểm toán với các đơn vị
được kiểm toán, đồng thời cũng là cơ sở pháp lý cho các kiểm toán viên giải tỏa được
trách nhiệm của mình về các vấn đề có thể xảy ra trong tương lai.
o Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là tài liệu quan trọng giúp cho việc đào tạo,
bồi dưỡng kiểm toán viên và đánh giá chất lượng kiểm toán viên.
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được ban hành để đáp ứng yêu cầu
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tài chính, nâng cao chất lượng của kiểm toán độc lập,


SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 7


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

Đợt 4: Ban hành 5 chuẩn mực theo quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14
tháng 3 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính.
• Chuẩn mực 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán”
• Chuẩn mực 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán”
• Chuẩn mực 501 “Bằng chứng kiểm toán bổ sung đối với các khoản mục
và sự kiện đặc biệt”
• Chuẩn mực 560 “Các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán lập Báo
cáo tài chính”
• Chuẩn mực 600 “Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác”
Đợt 5: Ban hành 6 chuẩn mực theo quyết định số 195/2003/QĐ-BTC ngày 28
tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính.
• Chuẩn mực 401 “Thực hành kiểm toán trong môi trường tin học”
• Chuẩn mực 550 “Các bên liên quan”
• Chuẩn mực 570 “Hoạt động liên tục”
• Chuẩn mực 800 “Báo cáo kiểm toán về những công việc kiểm toán đặc
biệt”
• Chuẩn mực 910 “Công tác soát xét báo cáo tài chính”
• Chuẩn mực 920 “Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thỏa
thuận trước”
Đợt 6: Ban hành 6 chuẩn mực theo quyết định số 03/2005/QĐ-BTC ngày 18
tháng 01 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ tài chính.
• Chuẩn mực 402 “Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sử


GVHD:……………………………

Kiểm tra cân đối là phương pháp dựa trên các cân đối kế toán và các cân đối
khác để kiểm toán các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành quan hệ cân đối đó.
Các quan hệ cân đối: Nguồn lực – Kết quả; Số phát sinh Nợ - Số phát sinh Có; Tài sản
– Nguồn vốn
Đối chiếu trực tiếp là so sánh số liệu của cùng một chỉ tiêu trên các tài liệu
khác nhau, được áp dụng trong trường hợp các chỉ tiêu có tính so sánh.
Đối chiếu logic là việc xem xét các mức biến động tương ứng về trị số của các
chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp song có thể có mức biến động khác nhau và theo
hướng khác nhau, thường được sử dụng để xem xét khái quát tính hợp lý các mối quan
hệ kế toán tài chính thuộc đối tượng kiểm toán.
Kiểm kê là phương pháp kiểm tra tại chỗ các loại tài sản, phương pháp được
thích ứng về thời điểm, loại hình và công tác kiểm kê phải được thực hiện theo quy
trình chung: chuẩn bị - thực hiện – kết thúc.
Thực nghiệm là phương pháp diễn lại hoặc nghiên cứu, phân tích từng yếu tố
cấu thành của một tài sản đã có, một quá trình đã diễn ra và cần xác minh lại.
Điều tra là phương pháp xác định lại một tài liệu hoặc một thực trạng để đi đến
quyết định hay kết luận kiểm toán.
Các phương pháp trên đây được vận dụng vào các kỹ thuật thu thập bằng chứng
kiểm toán một cách linh hoạt, bao gồm: kiểm tra đối chiếu (kiểm tra vật chất và kiểm
tra tài liệu); quan sát; xác nhận; phỏng vấn; tính toán lại; phân tích; thực nghiệm.
Ngoài ra khi thực hiện kiểm toán, kỹ thuật chọn mẫu cũng được đề cao nhằm chọn ra
mẫu từ tổng thể, rồi dùng các đặc trưng của mẫu để rút ra các suy đoán đặc trưng của
toàn bộ tổng thể.
Trong kiểm toán tài chính, các phương pháp kiểm toán cơ bản được triển khai
theo hướng kết hợp lại hoặc chi tiết hơn tuỳ tình huống cụ thể trong suốt quá trình
kiểm toán. Trên cơ sở có dựa vào hay không dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ mà
hình thành 02 phương pháp kiểm toán tài chính:

2.1 Việc xác nhận thông tin từ bên ngoài
Việc xác nhận thông tin từ bên ngoài là quá trình thu thập và đánh giá bằng
chứng kiểm toán thông qua việc liên hệ trực tiếp với bên thứ ba để nhận được phúc
đáp của họ về các thông tin cụ thể ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu được Ban Giám đốc
lập và trình bày trong báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Để quyết định mức
độ sử dụng thông tin xác nhận từ bên ngoài, kiểm toán viên và công ty kiểm toán nên
cân nhắc đặc điểm của môi trường hoạt động của đơn vị được kiểm toán và khả năng
thu thập được các thông tin đó.
2.2 Xem xét sự cần thiết của việc sử dụng thủ tục xác nhận thông tin từ
bên ngoài
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần xem xét sự cần thiết phải sử dụng
thông tin xác nhận từ bên ngoài để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp
nhằm hỗ trợ cho cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính. Để đưa ra quyết định này, kiểm
toán viên cần phải xem xét mức độ trọng yếu, mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát, và cân nhắc xem những bằng chứng có được từ thủ tục kiểm toán thông tin xác
nhận từ bên ngoài đã và sẽ thực hiện cho các cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính có
làm giảm rủi ro kiểm toán xuống mức thấp có thể chấp nhận được hay không.
2.2.1 Các khoản mục và cơ sở dẫn liệu cần xác nhận từ bên ngoài
Xác nhận từ bên ngoài thường được sử dụng đối với số dư tài khoản và các bộ
phận cấu thành của nó. Ngoài ra, kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể yêu cầu
sự xác nhận từ bên ngoài về các điều khoản hợp đồng hay giao dịch của đơn vị được
kiểm toán với bên thứ ba. Các tình huống có thể thu thập thông tin xác nhận từ bên
ngoài, gồm:
 Số dư tài khoản tiền gửi, tiền vay và những thông tin khác từ ngân hàng,
kho bạc, tổ chức tài chính tương tự
 Số dư các khoản phải thu
 Cổ phiếu gửi bên thứ ba; hàng gia công, hàng gửi bán, hàng nhờ giữ hộ
 Những văn bản, giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản do luật sư
giữ, hoặc đang giữ trong két sắt của ngân hàng
 Những khoản đầu tư mua từ các nhà môi giới nhưng chưa được giao trước

ro kiểm soát
Chuẩn mực kiểm toán số 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” đã quy
định:
o Quá trình đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là để quyết định nội
dung, tính chất và lịch trình của các thử nghiệm cơ bản để giảm rủi ro phát hiện và từ
đó giảm rủi ro kiểm toán xuống mức có thể chấp nhận được.
o Nội dung và tính chất của bằng chứng kiểm toán thu thập được từ việc thực
hiện các thử nghiệm cơ bản phụ thuộc vào sự đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát. Mức độ đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát không thể ở mức thấp để
loại trừ việc cần thiết phải thực hiện các thử nghiệm cơ bản. Những thử nghiệm cơ bản
này có thể bao gồm cả thủ tục xác nhận từ bên ngoài cho cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài
chính.
Theo đó thì có các trường hợp sau:
 Nếu kiểm toán viên đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát càng cao
thì bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần thu thập từ thực
hiện các thử nghiệm cơ bản càng phải nhiều. Trong trường hợp này việc sử dụng thủ
tục xác nhận từ bên ngoài sẽ có hiệu quả trong việc cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm
toán thích hợp. Nếu đơn vị được kiểm toán phát sinh giao dịch bất thường hoặc phức
tạp và mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao thì kiểm
toán viên phải xem xét việc xác nhận từ bên ngoài về các nội dung liên quan đến các
nghiệp vụ này với các bên liên quan khác trong việc kiểm tra tài liệu được giữ tại đơn
vị.
 Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá
càng thấp, thì sự đảm bảo mà kiểm toán viên cần đạt được từ các thử nghiệm cơ bản
càng ít để đưa ra ý kiến về cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính.
2.3. Quá trình thực hiện xác nhận thông tin từ bên ngoài
2.3.1. Thiết lập nội dung xác nhận phù hợp
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần thiết lập những nội dung thông tin
cần xác nhận từ bên ngoài phù hợp với những mục tiêu kiểm toán cụ thể. Khi thiết lập
những yêu cầu đó, kiểm toán viên cần xem xét các cơ sở dữ liệu được kiểm toán và

liệu hoặc các thông tin khác cần xác nhận.
 Có thể ít nhận được thông tin phản hồi do người phản hồi phải thực hiện
một số công việc.
o Thư xác nhận đóng (dạng phủ định) chỉ đòi hỏi sự phản hồi khi không đồng
ý với thông tin yêu cầu xác nhận. Khi đồng ý với thông tin xác nhận thì không nhất
thiết phải phản hồi. Tuy nhiên, nếu không có sự phản hồi từ yêu cầu thư xác nhận
đóng thì kiểm toán viên sẽ không có bằng chứng rõ ràng rằng bên thứ ba đã nhận được
yêu cầu xác nhận và xác minh rằng thông tin đã thu thập được là đúng.
Đặc điểm:
 Cung cấp bằng chứng ít tin cậy hơn so với việc sử dụng thư xác nhận mở.
Trường hợp này kiểm toán viên cần phải xem xét thực hiện các thử nghiệm cơ bản bổ
sung cho việc sử dụng thư xác nhận phủ định.
 Thư xác nhận đóng thể được sử dụng để giảm rủi ro kiểm toán xuống mức
chấp nhận được khi:
a) Mức đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là thấp;
b) Có số lượng lớn các số dư nhỏ;
c) Một số lượng đáng kể sai sót không được dự kiến;
d) Kiểm toán viên không có lý do gì để cho rằng người phản hồi sẽ
không quan tâm đến các yêu cầu này.
Kiểm toán viên có thể kết hợp cả thư xác nhận dạng khẳng định và thư xác
nhận dạng phủ định.
2.3.3. Kiểm soát quá trình gửi

SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 12


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………


Sự tin cậy của bằng chứng kiểm toán được xác nhận từ bên ngoài bị ảnh hưởng
do năng lực, tính độc lập, thẩm quyền trả lời, sự hiểu biết về vấn đề cần xác nhận và sự
khách quan của người xác nhận. Do đó, kiểm toán viên nên gửi thư yêu cầu xác nhận
trực tiếp tới cá nhân liên quan, đồng thời cũng cần xem xét trong trường hợp các bên
cần xác nhận không cung cấp các thông tin khách quan về yêu cầu cần xác nhận. Kiểm
toán viên phải xem xét ảnh hưởng của những thông về khả năng, kiến thức, thiện chí
của các bên cần xác nhận trong việc thiết lập yêu cầu xác nhận cũng như đánh giá các
kết quả khác, bao gồm cả việc xem xét thêm các thủ tục cần thiết khác. Kiểm toán viên
cần xem xét sự chính xác và đầy đủ của một số thư xác nhận gửi tới bên thứ ba, mà
kiểm toán viên tin rằng sẽ được cung cấp các bằng chứng kiểm toán thích hợp.
Khi nhận được thư phúc đáp, kiểm toán viên có thể thẩm định lại nguồn và nội
dung của thông tin phản hồi qua điện thoại đối với người gửi thông tin đó. Ngoài ra,
kiểm toán viên có thể đề nghị người xác nhận gửi bản gốc trực tiếp cho mình thông
qua các hình thức lưu chuyển điện tử như fax hay thư điện tử. Sự xác nhận bằng lời
SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 13


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

nói phải được ghi bằng văn bản. Nếu những thông tin xác nhận bằng lời nói là quan
trọng, kiểm toán viên nên đề nghị bên liên quan gửi thư xác nhận qua giấy tờ trực tiếp
tới kiểm toán viên.
2.4.2 Thủ tục thay thế và các trường hợp cần áp dụng
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thực hiện các thủ tục kiểm toán khác
thay thế khi không nhận được thư xác nhận từ bên ngoài. Các thủ tục kiểm toán bổ
sung đó phải cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các cơ sở dẫn liệu
của báo cáo tài chính mà yêu cầu xác nhận định đưa ra .
Trường hợp không nhận được thông tin phản hồi, kiểm toán viên và công ty

3. Các chuẩn mực khác và một số nội dung liên quan tới chuẩn mực 505
3.1. Chuẩn mực 500 – Độ tin cậy của thông tin xác nhận từ bên ngoài và cơ
sở dẫn liệu cần xác nhận”
Theo chuẩn mực 500 về Bằng chứng kiểm toán, xác nhận bên ngoài cung cấp
bằng chứng kiểm toán liên quan đến một hoặc một số cơ sở dẫn liệu, phụ thuộc khoản
SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 14


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

mục: Khoản phải thu khách hàng, Hàng gửi đi bán,…Bằng chứng kiểm toán từ xác
nhận bên ngoài có độ tin cậy cao vì thu thập từ bên thứ ba và dưới dạng văn bản. Tuy
nhiên độ tin cậy này cần được đảm bảo bởi các yếu tố khác.
3.2. Chuẩn mực 400 - Việc đánh giá rủi ro khi xem xét mối quan hệ với thủ
tục xác nhận
Theo chuẩn mực 400 về Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, việc đánh giá rủi
ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát quy định lịch trình, phạm vi kiểm toán, nội dung và số
lượng bằng chứng kiểm toán.
Sau đây là tóm tắt về quy trình đánh giá rủi ro:
Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn
Rủi ro kiểm toán mong muốn là mức độ rủi ro tối đa mà kiểm toán viên dự kiến
có thể chịu đựng được nếu điều rủi ro ấy thực tế xảy ra. Mức rủi ro mong muốn phụ
thuộc vào các yếu tố chủ yếu như mức độ người sử dụng tin tưởng vào báo cáo tài
chính hay khả năng khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán
được công bố.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng
Theo VSA số 400 về “Đánh giá rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ”: “khi lập
kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro tiềm

GVHD:……………………………

Khi Ban giám đốc không đồng ý gửi thư xác nhận, kiểm toán viên cần thiết phải
xem xét có hợp lý hay không, thực hiện theo chuẩn mực 240 về Gian lận và sai sót nếu
kiểm toán viên tin tưởng rằng có gian lận, sai sót trong tình huống này.
Đánh giá rủi ro
Khi lập kế hoạch thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro về
những gian lận và sai sót có thể có, làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và
phải trao đổi với Giám đốc đơn vị về mọi gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiện
được. Trong đó những tình huống hoặc sự kiện làm tăng rủi ro do gian lận hoặc sai sót
có bao gồm những khó khăn liên quan đến thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán
thích hợp, trong đó có trường hợp Ban Giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải
trình không thỏa mãn yêu cầu của kiểm toán viên.
Phát hiện
Trên cơ sở đánh giá rủi ro, kiểm toán viên phải thiết lập các thủ tục kiểm toán
thích hợp nhằm đảm bảo các gian lận và sai sót có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo
tài chính đều được phát hiện. Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm
toán thích hợp để chứng minh là không có gian lận hoặc sai sót làm ảnh hưởng trọng
yếu đến báo cáo tài chính; hoặc nếu có gian lận, sai sót thì đã được phát hiện, được sửa
chữa hoặc đã trình bày trong báo cáo tài chính và kiểm toán viên phải chỉ ra ảnh hưởng của gian lận và sai sót đến báo cáo tài chính
Những thủ tục cần được tiến hành khi có dấu hiệu gian lận họăc sai sót.
Việc thực hiện các thủ tục kiểm toán sửa đổi và bổ sung thường giúp cho kiểm
toán viên khẳng định hoặc xóa bỏ nghi ngờ về gian lận hoặc sai sót. Trường hợp kết
quả của các thủ tục sửa đổi và bổ sung không xóa bỏ được nghi ngờ về gian lận và sai
sót, thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thảo luận vấn đề này với Ban Giám
đốc đơn vị được kiểm toán và phải đánh giá ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính
và báo cáo kiểm toán.

3.4. Chuẩn mực 530 - Lấy mẫu kiểm toán và đánh giá kết quả của quá
trình gửi thư xác nhận

ban đầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cũng như các đặc điểm của tổng thể
được thử nghiệm. Các phần tử đặc biệt có thể bao gồm:
• Các phần tử có giá trị lớn hoặc quan trọng như bất thường, có khả nghi, rủi
ro cao hoặc thường có sai sót trước đây.
• Tất cả các phần tử có giá trị từ một khoản tiền nào đó trở lên nhằm kiểm tra
một bộ phận lớn trong toàn bộ giá trị của một số dư tài khoản hoặc một loại nghiệp vụ.
• Các phần tử thích hợp cho mục đích thu thập thông tin về những vấn đề như
tình hình kinh doanh, nội dung các nghiệp vụ, hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát
nội bộ của đơn vị được kiểm toán.
• Các phần tử cho mục đích kiểm tra các thủ tục nhằm xác định một thủ tục
kiểm soát nội bộ có được thực hiện hay không.
Việc kiểm tra dựa trên lựa chọn các phần tử đặc biệt từ một số dư tài khoản
hoặc một loại nghiệp vụ thường là một phương pháp hiệu quả để thu thập bằng chứng
kiểm toán, nhưng không được xem là lấy mẫu kiểm toán. Kiểm toán viên phải xem xét
việc thu thập bằng chứng liên quan đến các phần tử còn lại của tổng thể nếu các phần
tử còn lại này được coi là trọng yếu.
Lấy mẫu kiểm toán
Kiểm toán viên có thể quyết định áp dụng lấy mẫu kiểm toán cho một số dư tài
khoản hoặc một loại nghiệp vụ. Lấy mẫu kiểm toán có thể áp dụng phương pháp thống
kê hoặc phương pháp phi thống kê tuỳ thuộc vào việc xét đoán nghề nghiệp của kiểm
toán viên xem phương pháp nào có hiệu quả hơn để thu thập được đầy đủ bằng chứng
kiểm toán thích hợp trong từng trường hợp cụ thể.
Khi áp dụng lấy mẫu thống kê, cỡ mẫu có thể xác định bằng cách sử dụng lý
thuyết xác suất thống kê hay sự xét đoán nghề nghiệp Khi áp dụng lấy mẫu phi thống
kê, kiểm toán viên vẫn có thể sử dụng các yếu tố của lấy mẫu thống kê.
Khi thiết kế mẫu kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét các mục tiêu thử
nghiệm và các thuộc tính của tổng thể dự định lấy mẫu.Kiểm toán viên phải xác định
các mục tiêu cụ thể và xem xét việc kết hợp các thủ tục kiểm toán để đạt được các mục
tiêu đó. Việc xem xét loại bằng chứng kiểm toán cần thu thập và những điều kiện có
thể phát sinh sai sót hoặc các đặc điểm khác liên quan đến các bằng chứng kiểm toán

xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên phải khách quan trong mọi trường hợp.
Về việc lựa chọn các phần tử của mẫu, kiểm toán viên phải lựa chọn các phần
tử của mẫu sao cho tất cả các đơn vị lấy mẫu trong tổng thể đều có cơ hội được chọn.
Lấy mẫu thống kê đòi hỏi các phần tử được chọn vào mẫu một cách ngẫu nhiên để mỗi
đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được chọn như nhau. Đơn vị lấy mẫu có thể là hiện vật
(Ví dụ: hoá đơn) hoặc đơn vị tiền tệ. Theo phương pháp lấy mẫu phi thống kê, kiểm
toán viên sử dụng xét đoán nghề nghiệp để chọn các phần tử của mẫu. Mục đích lấy
mẫu là để rút ra kết luận về tổng thể nên kiểm toán viên cần lựa chọn mẫu đại diện
gồm các phần tử mang đặc điểm tiêu biểu của tổng thể, tránh thiên lệch, chủ quan.
Phương pháp chủ yếu để lựa chọn các phần tử của mẫu là sử dụng bảng số ngẫu
nhiên hoặc chương trình chọn số ngẫu nhiên, lựa chọn theo hệ thống hoặc lựa chọn bất
kỳ.
3.4.2. Đánh giá kết quả mẫu
Trước hết kiểm toán viên cần xem xét bản chất và nguyên nhân của sai sót và
ảnh hưởng của các sai sót đó đối với từng mục tiêu thử nghiệm cụ thể cũng như đối
với những khâu khác của cuộc kiểm toán.
Khi phân tích những sai sót đã được phát hiện, kiểm toán viên có thể nhận thấy
nhiều sai sót có đặc điểm chung có thể do cố ý và có khả năng có gian lận và kiểm
toán viên phải mở rộng thủ tục kiểm toán.
Khi kiểm toán viên chứng minh được một sai sót phát sinh từ một sự kiện cá
biệt mà sự kiện này không lặp lại trừ khi xảy ra những tình huống đặc biệt thì sai sót
này không đại diện cho những sai sót trong tổng thể. Để khẳng định sai sót là cá biệt,
kiểm toán viên phải thực hiện một số công việc bổ sung đủ để khẳng định rằng sai sót
không ảnh hưởng đến phần còn lại của tổng thể.
Kiểm toán viên phải đánh giá kết quả mẫu để khẳng định tính phù hợp và đầy
đủ của tổng thể hoặc quyết định xem có cần phải điều chỉnh cho phù hợp không?
Khi đánh giá kết quả lấy mẫu dẫn đến phải điều chỉnh những đánh giá ban đầu
của kiểm toán viên về tính chất của tổng thể thì kiểm toán viên cần phải:
SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 18


Điện thoại:
Fax:
E-mail:

SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 19


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

Website:
Logo:
Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán ABC (thành viên của Polaris
International) trước đây là một trong năm công ty kiểm toán đầu tiên trực thuộc Bộ tài
chính, được thành lập từ tháng 4 năm 1993 và tái cơ cấu vào tháng 3 năm 1995. Đến
tháng 5 năm 2007, ABC chuyển đổi hình thức sở hữu từ doanh nghiệp Nhà nước trực
thuộc Bộ tài chính thành công ty Trách nhiệm hữu hạn. Tháng 9 năm 2008, ABC trở
thành thành viên của tổ chức kiểm toán quốc tế Polaris International (tổ chức này có
trụ sở chính tại Hoa Kỳ và hơn 250 thành viên hoạt động trên phạm vi toàn cầu). Hiện
nay ABC có trụ sở chính tại thành phố Đà Nẵng, chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí
Minh và các văn phòng đại diện tại nhiều tỉnh thành trong cả nước. ABC có 132 nhân
viên chuyên nghiệp và 29 kiểm toán viên quốc gia.
Qua 18 năm hoạt động, ABC đã xây dựng được đội ngũ kiểm toán viên chuyên
nghiệp, có kỹ năng hành nghề thành thạo và tuân thủ tốt các chuẩn mực đạo đức
chuyên nghiệp. Trong những năm gần đây, đặc biệt là khi trở thành thành viên của
Polaris International, ABC đã đẩy nhanh tiến trình quốc tế hóa đội ngũ kiểm toán viên
chuyên nghiệp.
Với tư cách thành viên Polaris International, ABC có cơ hội tiếp cận mạng lưới
khách hàng toàn cầu được chuyển tiếp giữa các hãng thành viên trong tổ chức. Đặc

GVHD:……………………………

đổi nguồn nhân lực từ Polaris International và các hãng thành viên. Hiện nay, theo
thống kê của VACPA thì ABC nằm trong nhóm 10 công ty kiểm toán trên toàn quốc
có số lượng kiểm toán viên cấp quốc gia nhiều nhất.

2.

Phương châm hoạt động và phương hướng phát triển

ABC hoạt động theo phương châm “Độc lập, khách quan, trung thực và bí mật
số liệu khách hàng” và đó cũng là lời cam kết của ABC đối với khách hàng. Mục tiêu
hoạt động của ABC là giúp khách hàng và những người quan tâm bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của mình, cung cấp cho họ những thông tin thiết thực và các giải pháp tối ưu
cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh; tư vấn hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ, điều hành dự án cũng như việc lựa chọn và đưa ra các quyết định đầu tư
phù hợp với thực tiễn.
Với ABC, Lợi ích và niềm tin của khách hàng là thước đo của chất lượng dịch
vụ của ABC. Trong quá trình hoạt động, ABC đã được các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức nghề nghiệp và cộng đồng đánh giá cao về chất lượng dịch vụ.
ABC đã được Bộ công thương bình chọn là một trong năm công ty kiểm toán
tốt nhất Việt Nam năm 2007, được trao cúp Thương mại dịch vụ - Top trade Services
trong các năm 2007, 2008. Năm 2009, ABC được Đài tiếng nói Việt Nam, Bộ Công
thương, Bộ Lao động thương binh xã hội, Bộ Y tế, Bộ Truyền thông và Thông tin, Bộ
Văn hóa – Thông tin – Du lịch...bình chọn và trao cúp vàng Doanh nghiệp Việt Nam
tiêu biểu; được Hiệp hội kinh doanh Chứng khoán Việt Nam (VASB), Tạp chí Chứng
khoán Việt Nam, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Trung tâm thông tin Tín dụng Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (CIC)..trao tặng danh hiệu Tổ chức kiểm toán công ty niêm
yết uy tín.


Kế toán:

Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán

Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán
SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 21


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………


Lập báo cáo tài chính định kỳ

Chuyển đổi các báo cáo tài chính được lập theo VAS, IAS.

Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán cho các đơn vị
Tư vấn thuế:

Tư vấn việc áp dụng chính sách thuế

Tư vấn lập kế hoạch thuế.

Tư vấn công khai kê khai và quyết toán thuế

Tư vấn về các thủ tục hoàn thuế và khiếu nại về thuế

Hỗ trợ việc cập nhật thông tin về thuế và thuế quan
Tư vấn tài chính và quản lý

Cơ cấu tổ chức

Mô hình tổ chức quản lý và hoạt động của ABC được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý

NHÂN SỰ

SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 22


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức nhân sự

 Tổng giám đốc: Là người đại diện toàn quyền của công ty, chịu trách nhiệm
trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty:
 Đánh giá rủi ro của một hợp đồng kiểm toán liên quan đến hoạt động của
công ty.
 Duy trì mối quan hệ với các cán bộ cao cấp của công ty.
 Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quan
trọng.
 Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã được thực hiện.
 Chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán và thư quản lý.
 Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộc
kiểm toán hoặc ủy quyền lại.
 Phó tổng giám đốc:
 Phó giám đốc được phân công uỷ quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên
quan đến nhân lực, hành chính, khách hàng và các vấn đề về nghiệp vụ.

toán nhưng chưa được Nhà nước công nhận trúng tuyển kỳ thi Kiểm toán viên cấp
Quốc gia. Tùy vào năng lực, thâm niên công tác mà trợ lý kiểm toán viên chia làm ba
cấp:
 Trợ lý kiểm toán viên cấp 1: là người sau thời gian thử việc ba tháng, được
trúng tuyển chính thức vào công ty cho đến một năm sau đó. Theo thông lệ, những
người mới tốt nghiệp các trường các trường kinh doanh, các trường đại học và những
người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kiểm toán và kế toán có thể
làm việc cho công ty với tư cách là một trợ lý mới vào nghề.
 Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: là người làm việc ở công ty kiểm toán được hai
năm chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó.
 Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: là người làm việc ở công ty được ba năm, có
nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng đoàn kiểm toán.

II. Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại ABC
Hiện nay, công ty đang áp dụng chương trình kiểm toán mẫu do Hội kiểm toán
viên hành nghề Việt Nam VACPA ban hành. Chương trình kiểm toán gồm các giai
đoạn sau:
Bảng3: Quy trình kiểm toán do VACPA ban hành

SVTH: ………………………………………………………………………..Trang 24


Luận văn tốt nghiệp

GVHD:……………………………

Qua sơ đồ trên cho thấy:

Một cuộc kiểm toán được tiến hành qua 03 giai đoạn: (1) Lập kế hoạch
kiểm toán; (2) Thực hiện kiểm toán và (3) Tổng hợp, kết luận và lập báo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status