LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận này cùng với sự nỗ lực, cố gắng của bản
thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo Bùi Thị
Nguyệt Quỳnh. Ngoài ra tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy,
cô trong khoa Sử - Địa, thư viện trường Đại Học Tây Bắc, thư viện tỉnh Hòa
Bình cũng như gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô
giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh - Giảng viên khoa Sử - Địa cũng như toàn thể
các thầy cô trong khoa Sử - Địa Trường Đại Học Tây Bắc.
Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn thư viện trường Đại Học Tây
Bắc, thư viện tỉnh Hòa Bình, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Đề tài hoàn thành chắc chắn sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng bạn đọc để đề tài
được hoàn thiện hơn.
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Hà Huyền Trang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 3
4. Cơ sở tư liệu, phương pháp nghiên cứu ........................................................... 3
5. Cấu trúc đề tài .................................................................................................. 3
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI Ở TỈNH HÒA BÌNH ........................... 4
1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình .................................... 4
1.1.1 Vị trí địa lí ................................................................................................... 4
1.1.2. Điều kiện tự nhiên ....................................................................................... 4
2.18. Lễ Uá Nhụ Đang của người Mông ............................................................. 38
2.19. Lễ đặt tên - cấp sắc (đằng mai sẩy cò - thênh sẩy cò) của người Dao Quần
Chẹt …………………………………………………………………………….39
2.20. Tết nhảy của người Dao Quần Chẹt ......................................................... 40
2.21. Lễ hội Nàng Hai của người Tày ................................................................. 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 42
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN, PHÁT
HUY CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH HÒA
BÌNH 43
3.1. Lễ hội của các dân tộc ở Hòa Bình biểu hiện giao lưu văn hóa................... 43
3.2. Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng: ..................................... 45
3.3. Giá trị hướng về cội nguồn........................................................................... 46
3.4. Giá trị cân bằng đời sống tâm linh: .............................................................. 46
3.5. Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa: ........................................................ 47
3.6. Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa: ......................................................... 48
3.7. Giá trị trọng mỹ tục, chống hủ tục ............................................................... 49
3.8. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống ........................... 50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ...................................................................................... 53
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 56
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt nam là một quốc gia có bề dày truyền thống lịch sử - văn hóa. Từ khi
hình thành cho đến ngày nay dân tộc ta đã trải qua biết bao những thăng trầm và
biến cố lịch sử. Đó là cả một qúa trình dựng nước và giữ nước lâu dài, từng
bước đánh đuổi các thế lực ngoại xâm, giành quyền tự chủ cho dân tộc. Có được
những thành quả đó là sự đóng góp, đoàn kết, đấu tranh chung của cả cộng đồng
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số
ở nước ta được đẩy mạnh và thu hút được khá nhiều những thành tựu đáng kể,
góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam. Trong đó, việc
nghiên cứu về các lễ hội truyền thống cũng được khá nhiều người quan tâm. Có
rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như:
+ Cuốn “Địa chí Hòa Bình” của Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban
nhân dân tỉnh Hòa Bình có đề cập đến các lễ hội truyền thống của các dân tộc ở
tỉnh Hòa Bình nhưng chưa đầy đủ, chủ yếu vẫn là các lễ hội của dân tộc Mường
và chưa đi sâu vào giá trị của các lễ hội. [11]
+ Cuốn “Văn hóa truyền thống một số tộc người ở tỉnh Hòa Bình” của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga cũng có đề cập đến các lễ hội truyền thống
nhưng là khái quát chung, chưa đi tìm hiểu sâu vào các lễ hội. [7]
+ Cuốn “Văn Hóa dân gian Mường” của tác giả Bùi Thiện đã đề cập đến
một số lễ hội truyền thống, nhưng chỉ là lễ hội truyền thống của người Mường
mà chưa đề cập đến lễ hội của các dân tộc khác. [9]
+ Cuốn “Lễ hội cổ truyền” của tác giả Lê Trung Vũ cũng đã đề cập đến
một số lễ hội cổ truyền ở Hòa Bình nhưng chưa đầy đủ. [15]
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình của nhiều nhà nghiên cứu, tác giả, nhà
văn, nhà báo, các cán bộ, ban ngành quan tâm như: Sở văn hóa thông tin tỉnh
Hòa Bình, Bảo tàng tỉnh Hòa Bình… Tuy nhiên, các công trình ít đi sâu vào giá
trị của các lễ hội.
Vì vậy, để ngiên cứu về các lễ hội truyền thống của các dân tộc trong tỉnh.
Trên cở sở nguồn tư liệu trên và quá trình tìm hiểu, tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu
các lễ hội truyền thống của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình” nhằm góp phần làm
rõ vấn đề đáng quan tâm hiện nay.
2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.1.1 Vị trí địa lí
Hòa Bình là một tỉnh miền núi giáp với đồng bằng sông Hồng và vùng núi
Tây Bắc; phía Bắc giáp Phú Thọ, phía Tây giáp Sơn La, phía Nam giáp Thanh
Hóa và Ninh Bình, phía Đông giáp Hà Nội và Hà Nam. Tỉnh Hòa Bình trải dài
từ 20018’ đến 2108’ vĩ độ Bắc và từ 104 độ 50’ đến 1050 52’ kinh độ Đông. Hòa
Bình có diện tích tự nhiên là 4.811 km2 với dân số là 757.637 nghìn người
(1999) và 803,3 nghìn người năm 2003. [10; tr 79]
Hòa Bình án ngữ miền Tây Bắc của tổ quốc, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội
đi theo quốc lộ 6. Hòa Bình có vị trí địa lí quan trọng, là đầu mối giao thông nối
liền miền xuôi với miền núi Tây Bắc trên trục kinh tế Hà Nội - Hà Đông - Hòa
Bình - Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên - Lai Châu. Theo các tuyến đường 12A,
12B, 21A, đường Hồ Chí Minh, Hòa Bình ở vào vị trí trung chuyển giữa Tây
Bắc và Bắc Trung Bộ qua Ninh Bình, Thanh Hóa. Hơn hết, Hòa Bình chiếm vị
trí trung chuyển giữa miền núi Tây Bắc núi non trùng điệp, giàu tiềm năng tài
nguyên thiên nhiên nhưng thiếu lao động với miền đồng bằng châu thổ sông
Hồng phì nhiêu nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế quan trọng, có nguồn lực
lao động lớn nhất cả nước. Với vị trí đó đã tạo ra được những điều kiện thuận lợi
cho Hòa Bình phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
* Điều kiện tự nhiên:
Địa hình: Địa hình tỉnh Hòa Bình tương đối phức tạp bị chia cắt nhiều và
thấp dần theo hướng Tây - Đông. Núi rừng Hòa Bình có địa thế địa hình khá
hiểm trở chia thành hai tiểu vùng.
Tiểu vùng thứ nhất, trải dài từ Đà Bắc qua Tân lạc, Lạc Sơn, Mai Châu nối
liền với núi thượng du Thanh Hóa. Đó là núi cao nối tiếp giữa dãy Hoàng Liên Sơn
và dải Trường Sơn. Vùng này có độ cao trung bình 400 - 500m so với mực nước
biển, với nhiều ngọn núi cao trên 1000m như ở Hang Kia (1044m), dải núi đá vôi
Pà Cò (1343m), Pu Chanh (1420m) [10; tr 84]. Đây là vùng cao của Hòa Bình.
4
trong tỉnh còn có nhiều con sông như: sông Bưởi, sông Bôi, sông Bùi, sông
5
Lãng… Bên cạnh đó còn có nhiều con suối rải rác khắp các huyện trong tỉnh
như suối nước khoáng Kim Bôi là suối nước khoáng lớn… tạo điều kiện cho
việc cung cấp nước tưới tiêu cho đồng ruộng, giao thông đường thủy, thủy điện
và cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, ngoài ra hàng năm mang lại nguồn thủy
sản khá lớn và hơn nữa còn có thể phát triển du lịch.
* Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất đai: Đất đai trồng trọt của Hòa Bình không nhiều. Trước
cách mạng tháng tám năm 1945, diện tích đất cấy lúa chỉ có 4500 ha vì chủ yếu
dựa vào điều kiện tự nhiên. Sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay, sau
nhiều năm nỗ lực làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, khai phá đất đai diện tích cấy
lúa nước đã lên tới 28.000 ha và hàng năm diện tích ngày càng tăng lên.
Về tính chất đất, do tác động của khí hậu địa hình Hòa Bình có 7 nhóm đất
chính với 23 loại đất khác nhau. Song nhìn chung loại đất Feralit là nhóm đất
chủ yếu ở Hòa Bình, với 302.350 ha, chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh (68%)
và gấp 18 lần đất phù sa và chủ yếu phát triển trên độ dốc dưới 200C, ngoài ra ở
Hòa Bình còn có các loại đất khác như đất phù sa ở ven các con sông tạo điều
kiện cho phát triển trồng cây hàng năm như: lạc, đậu, lúa, rau củ… và cây lâu
năm như chè, vải, nhãn… đặc biệt là trồng rừng nguyên liệu.
Tài nguyên khoáng sản: Hòa Bình là tỉnh có tài nguyên khoáng sản khá
phong phú với tiềm năng ở mức độ khác nhau. Nhiều loại khoáng sản đã được
thăm dò, khai thác, sử dụng từ lâu. Có loại đang được nghiên cứu và khai thác
bước đầu.
Khoáng sản trong tỉnh có thể chia làm một số loại như: khoáng sản nhiên
liệu, kim loại, phi kim… Nhóm nhiên liệu quan trọng nhất là than với khoảng 9
triệu tấn và tập trung ở Lạc Thủy và Yên Thủy; nhóm kim loại gồm sắt, vàng,
đồng, chì, kẽm, đặc biệt là có trữ lượng đá vôi khá lớn… hơn nữa còn có nguồn
(72 người trên 1km vuông). [10; tr 96]
Cho đến nay dân số Hòa Bình có khoảng trên 800.000 người. Với số dân
trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp nguồn lao động cho tỉnh và cả
nước, thúc đẩy nền kinh tế tỉnh phát triển.
1.2.2. Dân tộc
Hòa bình là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, song người Mường chiếm đại
7
bộ phận dân cư tập trung ở hầu khắp các huyện như: Lương Sơn (90,2% dân số),
Kim Bôi và Tân Lạc (trên 80%), Kì Sơn và Yên Thủy (trên 60%) và các huyện
trong tỉnh. Hòa Bình Chiếm 43,4% số dân tộc Mường của cả nước [10; tr 95].
Hòa Bình chính là cái nôi văn hóa Mường của Việt Nam. Người Mường
đóng vai trò là chủ thể của mọi mặt kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng bào Mường
Đã tạo dựng nền văn hóa Mường độc đáo trong kho tàng văn hóa các dân tộc
Việt Nam.
Ngoài người Mường trong tỉnh còn có các dân tộc khác sinh sống: Kinh,
Thái, Dao, Tày, H’Mông… Trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 30% dân số
toàn tỉnh chỉ đứng sau dân tộc Mường, tập trung ở thành phố Hòa Bình (chiếm tỉ
lệ 70% số dân thành phố) và các trung tâm của các huyện trong tỉnh. Bên cạnh
đó dân tộc Thái tụ cư chủ yếu ở Mai Châu (chiếm 61% dân số toàn huyện), tộc
người Tày chủ yếu sinh sống ở Đà Bắc. tất cả các dân tộc trong tỉnh đã đoàn kết
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đã tạo nên cộng đồng đa dân tộc
với nền văn hóa đa dạng.
1.3. Khái quát về các lễ hội ở tỉnh Hòa Bình
1.3.1. Chuẩn bị chung của các lễ hội
Thông thường địa phương nào mở hội cũng đều tiến hành theo ba bước sau:
Chuẩn bị: Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn chuẩn
bị cho mùa lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần. Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau
được tiến hành ngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có
của các dân tộc Mường, Dao, Thái, Tày… ở đây thường tập trung thành các khu
riêng, có vẻ khép kín mà các lễ hội của họ không có quy mô lớn, không nổi trội,
vượt ra xa khỏi khu vực họ sống. Ngay cả người Mường cũng được chia ra
thành bốn mường chính, có những sự tự tri nhất định ở mỗi nơi, làm cho nó có
phần nào hơi bị khép kín.
Cả người Kinh, Mường, Thái, Dao, Mông,… sống ở đây đều không có
một lễ hội nào có quy mô lớn. Song những lễ hội của họ như lễ Khuống Mùa
(xuống đồng), Sắc Bùa, Chá Chiêng,… không kém phần đặc sắc và bao hàm
nhiều ý nghĩa nhân văn.
Lễ hội của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình gắn liền với những đặc điểm cụ
thể về địa lí, tự nhiên và đời sống xã hội của các cộng đồng cư dân tồn tại ở đây
từ lâu đời. Đặc biệt, những cộng đồng người Mường có những mối quan hệ hết
9
sức gần gũi với người Việt và đã có một nền văn hóa khá phong phú mà nhiều
sắc thái còn giữ được cho đến ngày nay. Nền văn hóa đó đã góp một phần lớn
vào nền văn hóa Hòa Bình và đã trở thành một hện tượng văn hóa được thế giới
công nhận.
1.3.3. Lễ hội của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình mang đậm các tín ngưỡng
dân gian
Ở người Kinh, những tín ngưỡng dân gian ngày càng có sự thay đổi do quá
trình giao lưu văn hóa kể từ thời du nhập văn hóa phương Tây. Ngay cả những
yếu tố tín ngưỡng cũng được khoác lên những yếu tố hiện đại như lễ vật thờ,
hình thức tiến hành, nghệ thuật trang trí. Lấy ví dụ như ở hội Gióng, Gia Lâm,
Hà Nội, những tín ngưỡng thờ vị thần nông nghiệp được phủ lên bằng hình ảnh
anh hùng làng Gióng đánh giặc Ân, hình ảnh 28 tướng giặc Ân mang bóng dáng
của 28 vì sao trong tư duy thiên văn cổ… Những nghi lễ nông nghiệp thuần chất
trong những lễ hội đó may ra chỉ còn thấy ở một vài tục hèm như thờ bát cơm
quả cà ở hội Gióng, tục thả 100 bánh trôi ở hội làng Bình Đà, Hà Tây; thổi cơm
chứ hoàn toàn không áp đặt, chinh phục, phá hoại thiên nhiên một cách vô tội
vạ. Đó chính là tư tưởng bảo vệ thiên nhiên và phát triển bền vững trong thời
hiện đại này. Người Mường vì thế mà:
“Chắp tay lạy bốn đức vua
Lạy vua Dù, vua Khói, vua Lò
Bên trên là Tần, Kẻ, Khang
Bên bang lạy Kem, Cả, Chấu, Khụ
Mụ, Chí, Ý, Chầu, Chấu, Tịch, Quen, Tài, Kem Vua”.
(Lời khấn lễ cầu mùa)
Hay: “Thỉnh mời cả vua Út, vua Ả, Thánh Tản núi Ba Vì, vua Cun, vua
Hải ở đền Trắng, đền Vành” (lễ hội Đình Cổi). Đương nhiên, những nhân
thần, những người có công với bản, với mường luôn được những người dân
lưu ý thờ phụng.
Như vậy, có thể thấy hệ thống tín ngưỡng của các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình
là vô cùng phong phú, từ đó dẫn đến sự phong phú của các nghi lễ thờ phụng,
những lễ cầu mùa, cầu mưa, lễ cơm mới, lễ xên bản, xên mường, thờ đức Thánh
Tản, thờ ma núi, ma nước, thần lúa, thần cây,… Mỗi một nghi lễ ấy lại kèm theo
những hình thức sinh hoạt văn hóa như đánh chiêng cồng, mo, đánh trống, thổi
11
kèn, múa kiếm,… Những hình thức nghệ thuật này từ chỗ để truyền đạt lên thần
linh niềm mơ ước, khát vọng, sự biết ơn của con người, sau đó trở thành những
hoạt động nghệ thuật để đáp ứng chính đời sống trần tục hang ngày của họ.
Trước một cuộc sống vất vả vì miếng cơm manh áo, giữa rừng thiêng nước độc
với bao hiểm nguy rình rập, con người muốn xóa đi sự cô đơn, nỗi buồn luôn ám
ảnh bên cạnh họ. Vì vậy, họ phải tập hợp bên nhau, co cụm lại, đoàn kết lại để
đối phó với bên ngoài, đồng thời cũng là để an ủi chính bản thân mình. Vì vậy,
những dịp tiến hành nghi lễ cộng đồng là những nét sinh hoạt văn hóa hết sức
quan trọng đối với họ. Cũng chính từ những hiện tượng tín ngưỡng ấy mà bộ
những nét mộc mạc trong các lễ hội, tạo cho người dân những không gian thoải
mái, vui vẻ sau những ngày làm việc vất vả, cho họ cảm nhận được cuộc sống
này vui vẻ biết bao.
13
CHƯƠNG 2. CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC
Ở HÒA BÌNH
2.1. Lễ hội xuống đồng (khuống mùa) của người Mường
Đây là một lễ hội rất phổ biến ở người Mường xưa, giống như lễ hội Lồng
Tồng của người Tày - Nùng vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang... Mục đích
của lễ hội là để cầu cho mùa màng của một năm mới thịnh vượng, may mắn.
Đồng thời, việc thực hành những nghi lễ cầu mùa cũng là dịp để người Mường
nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và bày tỏ những ước vọng của mình về một cuộc
sống tươi đẹp và bình yên.
Lễ hội này thường diễn ra vào dịp đầu xuân, như ở vùng Mường Bi tổ chức vào
dịp lễ Khai Hạ (ngày 7 tháng giêng) và chậm nhất đến ngày 10 tháng giêng phải
kết thúc. Vào ngày này, người ta lựa chọn một địa điểm có thể thu hút được sự
tham gia của toàn mường. Ở xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, người ta tổ chức hội
Xuống Đồng ở xóm Luỹ. Tại đây, người ta dựng một miếu lớn bằng gỗ thờ Đức
Thánh Tản Viên, trong hậu cung miếu có tượng người bằng đá.
Thay mặt cho toàn dân bản, ông thầy mo mặc áo thụng, đội mũ tai én làm lễ
khấn Thánh Tản phù trợ cho mùa màng tươi tốt. Dân xã mổ một con hoẵng (nếu
không có hoẵng thì mổ bò cúng thay, chứ không mổ trâu), sau đó thịt hoẵng
(hay bò) sẽ được mọi người ăn chung, người đi hội tự mang theo cơm nắm.
Dân xã tổ chức rước kiệu đưa Thánh Tản từ ngoài bãi vào miếu, đám rước
có kèin nhạc. Ớ giữa bãi cỏ có treo một lá cờ thần lớn và trên bãi rộng này, đội
cồng của các xóm và mường bạn đến để đua tài với nhau. Người dự hội vui chơi
thoải mái. Xung quanh bãi có các lán bày sẵn rượu cần. Mọi người tự do chơi,
Sau tất cả những hoạt động trên đây, nhà lang ấn định ngày mở hội. Mở đầu
là thủ tục dâng lễ ở các nơi trong vùng.
Cả ba địa điểm miếu Đầm Đụn, khu ruộng người Mường Tôm và chùa
Vóng ở xóm Đồng đều được dâng cỗ cùng một lúc để cúng vào buổi sáng sớm.
Mâm cỗ ngoài thịt nai, thịt lợn rừng còn có cá suối, mụn măng, ruột cây lay
(đằng lau), lá lốt (đắc lốt), cá mọc, nếp đồ, rượu cần do ậu lang, ậu viềng (người
giúp việc lang) sắm sửa và dâng lên trường thờ. Sau lễ dâng là lễ xuống ruộng.
Cánh đồng được chọn là cánh đồng Cạn (bao gồm cả ruộng lang và ruộng của
dân), mỗi mường một khu ruộng riêng.
Bắt đầu ngày cày bừa, ậu cháu xuống ruộng cày trước. Bắt đầu ngày cấy,
các vợ ậu cháu cấy trước, sau đó thường dân mới được lội ruộng. Trong số ậu
cháu được "xông” ruộng phải chọn những người ăn nên làm ra, tính tình mát mẻ,
hiền hoà.
16
Vì là lễ mang tính tượng trưng, nên cả khu vực ruộng đồng Cạn chỉ chốc lát
đã được cấy xong. Mọi người vui vẻ ai về nhà nấy ăn cơm tại gia đình, chỉ có
lang, ậu ăn uống tập trung tại một địa điểm nào đó.
Buổi chiều bắt đầu diễn ra các trò chơi ở sân mường như đánh quay, chơi
còn, chơi máng (quả máng tròn bằng miệng chén), đi cà kheo, thi bắn nỏ, chọi
gà, chọi cỏ,... Ớ sân nhà lang có sắc bùa và đâm đuống. Tiếng đâm đuống rộn
ràng cùng tiếng sắc bùa trầm bổng ngân vang làm cho lòng người thêm náo nức,
không khí ngày hội thêm tưng bừng.
2.2. Hội sắc bùa (xéc bùa) của người Mường
Theo người Mường, sắc bùa hay còn gọi là xéc bùa, có nghĩa là xách cồng,
là một hội vui có tính chất giải trí diễn ra vào dịp đầu năm mới ở những bản
mường để người ta cầu chúc nhau may mắn, mạnh khoẻ. Ngoài ra, những dịp
vui khác người ta cũng sắc bùa như đón khách quý từ xa đến, dựng nhà mới, đón
dâu hoặc những dịp vui khác.
phường bùa đứng ngoài ngõ đánh cồng, hát bài "Khoá rác". Hát xong, cổng
được mở ra, phường bùa tiến vào sân nhà, vừa đi vừa đánh cồng, sau đó là
những bài hát gồm những lời chúc tụng, ngợi ca gia đình sang năm mới sức
khoẻ, hạnh phúc, phát đạt:
“Anh em phường bùa chúng tôi bước vào.
Ở ngoài trông thấy rào chung quanh cắm rợ.
Cột cửa kén chạm đuôi con cá.
Xà cửa cả chạm đuôi con muông...”.
Hoặc:
"Đất ông chào ông
Đất chúa chào chúa
Lúa nhà ông cấy từ trong năm
Đã mọc xanh xanh rười rượi
Con dưới vươn ngọn lên
Con trên rủ ngọn xuống...".
Cứ như vậy người hát và cồng say sưa hát, còn những người trong gia đình
đón nhận một cách nồng nhiệt món ăn tinh thần này. Sau khi các bài hát chúc đã
hết, người trùm phường theo lệ cất tiếng hát mời:
18
Thương thiết hỡi lại thương nồng
Thương công ở đây rồng bỏ vắng
Núi cái Tản Viên, Ba Vì
Chúng tôi dậy đi
Chưa kịp chào hết cây vu (mục)
Chưa kịp chào hết tổ kiến bống
Con trai đến nhà này chẳng muốn lại
Con gái đến nhà này chẳng muôn về
vị quan hầu được thờ cúng, cho nên khi đọc bài khấn còn nhắc đến tên các vị đó:
Chắp tay lạy ba bốn đức vua
Lạy vua Dù, vua Khói, vua Lò
Bên trên là Tần, Kẻ, Khang
Bên bang lạy Kem, Cả, Chấu, Khụ, Mụ,
Chí, Y, Chầu, Châu'Tịch, Quen, Tài, Kem Vua.
Miếu thờ vua Dù lúc đầu đặt tại xóm Ngọc (Trụm), sau lần lượt chuyển qua
Đa Đình, Bưa Kiệu, Suối Khăng, Đống Loóc (còn gọi là đồi Miếu) thuộc xóm
Cáo, xã Quý Hoà, huyện Lạc Sơn. Năm 1945, miếu bị phá huỷ.
Lễ vật dâng cúng trong lễ cầu mùa bao gồm: xôi nếp, thịt trâu, bánh khoai,
rượu cần, một gánh khoai sọ, bánh dồi (khoai nhồi lòng lợn), bánh khoai vuông
(khoảng hơn gang tay), bánh đóng ba, đóng bốn (nặn bằng tay hình thù như củ
gừng). Trâu tế lễ phải là con có vòng bụng 12 nắm tay trở lên.
Người đứng ra tổ chức lễ là các quan lang trong mường. Ngoài quan lang
còn có ậu các xóm làm nhiệm vụ vận động nhân dân đóng góp lương thực, thực
phẩm. Ngoài ra, người tổ chức lễ còn mời thầy mo thạo bài khấn cúng và những
người đánh trống, kẹt, bạt (xập xeng), một số thiếu niên con nhà dân thường.
Những người tham gia lễ này chỉ là đàn ông, tất cả đều vấn khăn, mặc quần áo
mới, riêng ông thầy mo mặc quần đỏ, áo lụa dài, thắt khăn màu quanh eo, mũ
mão diêm dúa, tay cầm kiếm, tay cầm quạt, vai đeo túi khót (túi vải đựng đồ
thiêng của thầy mo).
Trước ngày hội, không khí cả mường nhộn nhịp. Người ta chuẩn bị củi,
bánh, góp tiền, góp gạo, đổi trâu vì phải tìm cho được con trâu đúng tiêu chuẩn
làm vật tế lễ.
20
Tại miếu thờ, người coi miếu được gọi là chúa quan, có nhiệm vụ quét dọn
hàng ngày, thắp hương vào các dịp ngày sóc, ngày vọng hàng tháng. Tối hôm
2.4. Lễ Cầu mưa của người Mường
Vào những năm hạn hán hay mùa mưa đến muộn, dân chúng đội nước để
làm ruộng mà trời vẫn không cho mưa, dân làng tổ chức lễ cầu mưa. Đây là lễ
hội của người dân Mỹ Hoà, Tân Lạc. Dân bản Đống Chuông thực hành lễ cầu
mưa tại bãi Tênh Lìm do xóm Đon làm chủ lễ. Lễ vật gồm một con gà trắng
được luộc chín đặt lên mâm cùng hương và các sản vật khác. Người ta chọn xóm
Đon vì nơi đó có mó nước chảy từ núi đá ra, từ xa xưa dân ở đây đã thờ vua
Nước. Người dân quan niệm rằng, do ma Khú ngủ quên không nghe thấy sấm
gọi nên không dậy lấy nước cho dân chúng làm mùa. Vì thế, trên mâm lễ, ngoài
gà còn có trứng và gạo vì người ta nghĩ ma Khú ăn các thứ đó.
Sau khi làm lễ xong, dân chúng kéo đến mó nước lấy đá ném xuống vũng
nước cạn có ý đánh thức ma nước dậy. Cùng với việc ném đá, người ta còn hò
reo vang dậy như để cho ma Khú nghe thấy rõ mà dậy. Nhiều người còn mang
theo cả súng bắn chỉ thiên lên trời.
Hai xóm Đon và Chuông còn bày binh diễn trận, trong đó xóm Chuông
đóng vai bên giặc và hai bên đánh trận giả với nhau. Khi đó, chủ tế xóm Đon
mới cầu khấn vua Nước gây ra mưa để tiêu diệt quân của đối phương.
2.5. Lễ rửa lá lúa của người Mường
Lễ rửa lá lúa thường được tổ chức vào lúc lúa đang đứng cái, khoảng tháng
7, tháng 8 âm lịch. Các gia đình đan các sọt tre, có cắm 6 lông gà vòng quanh
sọt và làm nhiều chiếc gậy cao trên 1m, có cắm chéo lông gà trên ngọn làm cánh
rồi đem những sọt đó đặt ở đầu ruộng và đem những chiếc gậy ra cắm ở ruộng.
Người ta còn cho trẻ em đem lông gà ra cắm quanh bờ ruộng.
Lễ vật cúng là một mâm bày nhiều bát cháo thịt gà. Mâm lễ được mang đặt
ở đầu ruộng để thầy mo cúng. Trong lời khấn của mình, thầy mo cầu mong cho
mùa màng ít sâu bệnh, lúa tốt và kể về thời tiền sử, ngày đất đai chưa có hạt lúa
để nuôi người. Vua Dịt Dàng sai các con vật đi tìm. Cuối cùng, con chuột lên
gặp bà Chu Mường ở trời cao xin về cho người hạt lúa đỏ cùng với 40 giống lúa
ruộng, 30 giống lúa nương. Cho nên, chuột giao ước với người là người nhận số