Đất nước ta đang bước những bước dài trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đạt được những thành tựu quan trọng.
Nền kinh tế thị trường đã tạo nên động lực to lớn nhưng cũng tạo nên nhiều áp
lực không nhỏ bởi những mặt trái của nó. Tôn giáo là một trong những vấn đề
rất nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội ở từng quốc gia,
dân tộc cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Ở nước ta, tôn giáo đang và sẽ tồn
tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giải quyết
vấn đề tôn giáo nhằm tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, vấn đề tôn
giáo hiện nay đã được Đảng và Nhà nước ta xem xét, đánh giá lại trên quan
điểm khách quan hơn, không xoá bỏ một cách duy ý chí như trước nữa mà nhìn
nhận trên quan điểm phát huy những mặt tích cực, gạt bỏ những mặt tiêu cực
trong các tôn giáo, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay, toàn cầu hóa, quốc
tế hóa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
cần đánh giá xác đáng những tác động của nó đến thế giới quan tôn giáo của một
bộ phận nhân dân, để từ đó phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cùng
thực hiện mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong
bài thu hoặc ngắn của mình, tác giả muốn tìm hiểu những tác động của quá trình
hội nhập quốc tế tới vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước
ta hiện nay.
* Khái quát quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay
Hiện nay Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc
và toàn diện hơn bao giờ hết. Tính đến năm 2015, chúng ta đã có quan hệ ngoại
giao với 185 quốc gia, có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 220 quốc
gia và vùng lãnh thổ. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) năm 2007 đã đưa quá trình hội nhập của đất nước từ cấp độ khu vực
(ASEAN năm 1995) và liên khu vực (ASEM năm 1996, APEC năm 1998) lên
đến cấp độ toàn cầu. Việt Nam đã đảm nhận thành công vị trí Ủy viên không
định, bổ sung và đến Đại hội IX phát triển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là
đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc
lập và phát triển”. Như vậy, quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng đã đưa
đến việc xác lập những nội dung, tính chất cơ bản trong đường lối đối ngoại từ
“rộng mở”, “là bạn” đến “đa dạng hóa, đa phương hoá quan hệ quốc tế” và
“sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy”. Đây là sự thể hiện tinh thần độc lập tự chủ,
sáng tạo, kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược, gắn kết mục tiêu
cách mạng và định hướng phát triển đất nước vào những xu thế phát triển của
thời đại. Với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại như đã nêu, Việt Nam đã từng
bước phá được thế bị bao vây cấm vận, hóa giải tương đối thành công những khó
khăn, bất cập trong quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc
tế, hội nhập ngày càng chủ động, tích cực và sâu rộng với khu vực và thế giới.
Có thể nói rằng, trong những thắng lợi to lớn và toàn diện của sự nghiệp
đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Ðảng ta suốt ba mươi
qua, không thể không kể đến những thắng lợi của sự nghiệp ấy về tư duy lý
luận, đường lối và chính sách tôn giáo.
* Một số vấn về nhận thức và chính sách với công tác tôn giáo hiện nay.
Kể từ khi có Nghị quyết 24/NQ/TƯ ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị (khóa
VI) về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới", lần đầu tiên trong
lịch sử Ðảng ta, vấn đề tôn giáo được nhìn nhận, xem xét với tư duy mới, nhận
thức mới. Không chỉ có những luận điểm có "tính đột phá" trong nhận thức,
Ðảng và Nhà nước ta còn có hàng loạt chính sách đổi mới về tôn giáo, góp phần
quyết định tạo ra sự ổn định và có nhiều điểm sáng trong đời sống ở nước ta,
giải quyết tốt hơn mối quan hệ Ðạo - Ðời.
Tuy nhiên để tiếp tục sự nghiệp đổi mới cũng như tiếp tục đổi mới tư duy về
tôn giáo và công tác tôn giáo, trước mắt, chúng ta cần nhìn nhận tôn giáo trong
bối cảnh hội nhập quốc tế một số vấn đề cơ bản.
Thứ nhất, chúng ta đã thừa nhận tôn giáo còn là một thực tại xã hội,
chung của Tổ quốc và dân tộc nhằm đảm bảo cho quyền lợi cá nhân có điều kiện
được thực thi. Người nói: "Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên
quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho văn hoá
cũng như chính trị, kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều phát triển tự do”. Tự do tín
ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền với độc lập tự do của Tổ quốc, dân tộc. Công tác
tôn giáo hiện nay trước hết và cơ bản vẫn là công tác vận động quần chúng và
song song với đó là kiên quyết lên án những âm mưu, hoạt động núp bóng tôn
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 9
giáo nhằm trục lợi, trái với lợi ích của Tổ quốc, dân tộc. Theo Người, Đạo - Đời
phải luôn gắn chặt với mục tiêu chung của dân tộc là độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội.
Đảng và Nhà nước ta đã có những nhận định mang tính khách quan, khoa
học về tôn giáo, xác định tôn giáo còn tồn tại lâu dài và có một số giá trị đạo đức
phù hợp với lợi ích của toàn dân, với công cuộc xây dựng xã hội mới và do vậy,
cần phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo. Điều này có
ý nghĩa quan trọng trong việc họach định chính sách tôn giáo, bảo vệ và tu tạo
các di sản văn hóa tôn giáo.
Việc tìm hiểu, chỉ ra chân giá trị của các tôn giáo còn có ý nghĩa nhất định
trong công cuộc đổi mới hiện nay, khi mà chúng ta cần phải huy động mọi
nguồn lực tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, trong đó có vấn đề quan trọng là củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và
kế thừa, phát huy những "hạt nhân hợp lý', những giá trị văn hóa đạo đức trong
tôn giáo vào việc xây dựng nền đạo đức mới, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Đặc biệt cần nhận thức đúng đắn và khai thác đa dạng những giá trị
đạo đức của tôn giáo.
Có quan điểm cho rằng, đạo đức tôn giáo không chứa đựng những yếu tố
thiện, tránh xa điều ác... Trong Khoa học và tôn giáo, Bertrand Russeli cho rằng,
một tôn giáo lớn bao giờ cũng có hệ thống tín điều, hệ thống đạo đức và giáo
hội. Người theo tôn giáo không phải sống thế nào cũng được, mà phải sống theo
những khuôn phép đạo đức hợp với tín điều của tôn giáo mình, hành động
không phải chỉ là thực hành một số hình thức nghi lễ, mà còn phải sống theo
những quy tắc đạo đức nhất định. Vì vậy, đương nhiên, một số nội dung của đạo
đức trở thành bộ phận cấu thành nội đung của tôn giáo.
Vấn đề trung tâm của Phật giáo là “diệt khổ" để hướng đến giải thoát,
chứng được Niết bàn. Muốn đạt được điều đó, con người không chỉ cần có niềm
tin tôn giáo, mà còn cần cả sự phấn đấu nỗ lực của bản thân bằng cách thực hành
một đời sông đạo đức. Từ đó, Phật giáo đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức rất
cụ thể để con người tu tập, phấn đấu. Trong đó, phổ biến nhất là Ngũ giới
(không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống
rượu) và Thập thiện (ba điều thuộc về thân: không sát sinh, không trộm cắp,
không tà dâm, ba điều thuộc về ý thức: không tham lam, không thù hận, không
si mê, bốn điều thuộc về khẩu: không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai
chiều, không ác khẩu). Những chuẩn mực này, nếu lược bỏ màu sắc mang tính
chất tôn giáo sẽ là những nguyên tắc ứng xử phù hợp giữa người với người, rất
có ích cho việc duy trì đạo đức xã hội.
Trong đạo đức Kitô giáo, giới răn yêu thương được xem là nền tảng. Con
người trước hết phải yêu Thiên Chúa rồi yêu thương đến bản thân mình. Đây là
cơ sở để thực hiện tình yêu tha nhân. Kinh thánh khuyên con người phải yêu
chồng vợ, cha mẹ, con cái, anh em, làng xóm, cộng đồng... Những điều mà Kinh
thánh răn cấm cũng rất cụ thể: không giết người, không lấy của người, không
nói sai sự thật, không ham muốn chồng hoặc vợ của người, không làm chứng giả
để hại người... Ngoài ý nghĩa đức tin vào cái siêu nhiên (Thượng đế, Chúa),
những chuẩn mực, quy phạm đạo đức ấy là những quy phạm đạo đức rất cụ thể
hướng con người đến điều thiện, tránh xa điều ác.
song hành phát triển.
Tuy nhiên phát triển đến bao giờ và như thế nào thì cần phải phụ thuộc
vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể và phải đi về nghiên cứu lý luận gốc về bản chất
của tôn giáo chúng ta mới có cái nhìn toàn diện. Tôn giáo dường như sẽ mất dần
đi chỗ đứng của mình, điều đó là tất nhiên bởi theo qui luật của sự phát triển thì
cái cũ sẽ bị thay thế bởi cái mới phát triển hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và
quốc tế hóa hiện nay, tôn giáo có sự phát triển hết sức đa dạng, phức tạp. Con
người càng ngày càng phát triển và dưới sức mạnh của khoa học công nghệ thì
con người ngày nay đã có những nhận thức đầy đủ về thế giới và họ có thể cải
biến tự nhiên cũng như xã hội bằng khả năng và theo ý muốn của mình. Nhìn
nhận sự tồn tại của tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa,
quốc tế hóa và đặc điểm của những điều kiện lịch sử, truyền thống, phong tục,
văn hóa ở nước ta hiện nay cần có cách nhìn khách quan, tránh phiến diện, áp
đặt theo những khuân mẫu và nguyên tắc về chính sách. Điều quan trọng nhất là
phát huy những giá trị của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập quốc tế hiện nay.
Hai là: Trong bối cảnh Toàn cầu hóa, hiện đại hóa, mọi tôn giáo đều có
khuynh hướng trở thành "tôn giáo xã hội", thích ứng và hội nhập xã hội ngày
càng cao.
Quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa đã tạo ra một “thị trường tôn giáo
mới” không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Sự đa dạnh của các nền văn
hóa, của con người đã tạo nên những siêu thị tâm linh mà ở đó người ta có thể tự
do lựa chọn một hay nhiều món hàng tinh thần mà mình muốn. Thực tế trong xã
hội chúng ta cũng có thể dễ dàng quan sát và nhận thấy ngày càng có nhiều
người từ bỏ quan điểm độc đoán bằng cách chấp nhận có một tôn giáo khác
ngoài tôn giáo của họ và tôn giáo đó cũng có chân lý của nó. Những hiện tượng
tôn giáo mới, đạo lạ ngày càng xuất hiện nhiều. Nếu như trước kia việc xuất
hiện tôn giáo gắn với lịch sử các cuộc bành trướng thực dân, thì ngày nay xu thế
chính trị thù địch: khuyến khích xu hướng Thế tục hóa đi liền với sự cảnh giác
trước xu thế Giải thế tục.
Ba là: Luôn luôn quan tâm phát triển kinh tế khi thực hiện các chính sách về
tôn giáo.
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay còn thiếu bền vững, cơ cấu kinh tế chậm
chuyển dịch theo hướng hợp lý và hiệu quả. Trong lúc đời sống kinh tế thế giới
không ngừng vận động nhanh chóng, mang tính đột phá và linh hoạt, ta hội nhập
nhưng phát triển dàn trải chưa chú vào những khâu trọng tâm. Đồng thời, nguồn
lực đầu tư cho hội nhập và phát triển cũng hạn chế, năng lực cạnh tranh tổng hợp
của Việt Nam (năm 2013,2014) chỉ xếp 70/148, khả năng tích lũy vốn, nhân lực và
tiến bộ công nghệ còn khiêm tốn, năng xuất lao động chưa cao.
Ba mươi năm nỗ lực miệt mài nhưng dường như chúng ta đã ‘‘lỡ hẹn’’
so với mục tiêu phấn đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra. Sự kém
hiệu quả của nền kinh tế tạo nên những nhân tố gây bất an cho cơ thể xã hội. Sự tụt
hậu, nghèo nàn, chậm phát triển về kinh tế là nguyên nhân vừa sâu xa, vừa cơ bản
và trực tiếp nhất khiến bất kỳ dân tộc nào cũng phải đối mặt với hiểm họa rơi vào
vòng lệ thuộc nước ngoài trên nhiều phương diện trong đó có cả phương diện văn
hóa, tư tưởng và ngay cả đời sống tôn giáo.
Sự phát triển kinh tế được coi là yếu tố hàng đầu quyết định sức mạnh
tổng hợp quốc gia. Không thể giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nếu
như chỉ có một nền kinh tế yếu ớt, thiếu bền vững. Xét trên phương diện đời sống
tôn giáo trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay thì khi kinh tế càng mạnh, ta
càng có nhiều điều kiện hơn để đầu tư vào thực hiện các chính sách xã hội, phát
triển cơ sở hạ tầng, để xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, tạo nền
tảng phát triển xã hội bền vững trong đồng bào có đạo.
Vì vậy, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, nhiệm vụ xây dựng, phát
triển kinh tế ở nước ta càng phải thực sự được đặt cao là trọng tâm hàng đầu. Sức
Trong bối cảnh hiện nay, để thực hiện tốt các chủ trường, chính sách của
Đảng, Nhà nước về công tác tôn giáo cần phải.
Quán triệt sâu sắc quan điểm đổi mới của Đảng ta về công tác tôn
giáo.:"Đồng bào các tôn giáo là bộ phận cấu thành của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc… Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là điểm
tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc". Đồng thời, cần khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng
thiện… trong các tôn giáo và tuyên truyền, giáo dục, khắc phục mê tín dị đoan,
chống việc lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng thực hiện ý đồ chính trị xấu. Với tinh
thần đổi mới, Đảng và Nhà nước ta xác định: tôn giáo còn tồn tại lâu dài, còn là
nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; tôn giáo có những giá trị văn hoá,
đạo đức tích cực phù hợp với xã hội mới; đoàn kết, tập hợp rộng rãi lực lượng
cách mạng, trong đó có một bộ phận quan trọng là đồng bào các tôn giáo. Công
tác tôn giáo vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng,
vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Nội
dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Làm tốt
công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh
đạo.
Thực hiện tốt nhiệm vụ, công tác tôn giáo hiện nay, trong đó tập trung
thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. Đẩy mạnh
phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống "tốt đời đẹp đạo" trong quần
chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Tăng cường công tác quản lý nhà
nước về tôn giáo. Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, tự giác phối
hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn
giáo, dân tộc để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ. Hướng dẫn các tôn
giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và
Nhà nước. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Nhà