GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ SUY NGẪM
Trương Giang Long
Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về tổ chức, giỏi về chuyên môn, vững
vàng về bản lĩnh chính trị, đủ sức làm chủ quá trình đổi mới, chủ động và tích
cực hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa là trách nhiệm của toàn Đảng và cả hệ
thống chính trị. Giai cấp công nhân Việt Nam chính là nền tảng và là cơ sở
chính trị - xã hội vững chắc của Đảng. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh
trong điều kiện hiện nay về thực chất là góp phần quan trọng vào quá trình xây
dựng Đảng.
Hơn 20 năm đổi mới vừa qua, nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng
và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân.
Nhờ đó, giai cấp công nhân Việt Nam đã có bước phát triển lớn mạnh, trưởng thành
về chất và có những đóng góp to lớn vào quá trình đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh mặt
tích cực, giai cấp công nhân nước ta đang phải đối mặt với không ít thách thức,
những con số khảo sát dưới đây thực sự là những vấn đề rất đáng để chúng ta suy
ngẫm.
1 - Chất lượng nguồn nhân lực - thách thức của quá trình phát triển.
Cùng với sự tăng trưởng nhanh của dòng vốn đầu tư nước ngoài và xu thế phát
triển của các doanh nghiệp trong nước, đội ngũ công nhân nước ta đang bộc lộ dấu
hiệu hụt hẫng và bất cập. Tình trạng thiếu hụt lao động có tay nghề cao và các chức
danh quản lý có trình độ đang là hiện thực. Số liệu khảo sát tại tỉnh Đồng Nai cho
thấy, 72,55% công nhân lao động trong các doanh nghiệp có độ tuổi từ 18 - 35. Tuyệt
đại bộ phận đều là học sinh phổ thông và xuất thân từ nông thôn, trong đó lao động
phổ thông chiếm đến 43%; 27% có tay nghề đáp ứng được yêu cầu của công việc
đang đảm nhận nhưng đại đa số chưa qua đào tạo và không có bằng cấp. Số đã qua
đào tạo có bằng cấp chỉ chiếm 30%, trong số đã được đào tạo, tỷ lệ có tay nghề cao
cũng rất ít[1]. Bậc 1- 3 chiếm tỷ lệ 66,51%, bậc 4 - 5 chiếm tỷ lệ 25,01%, bậc 6 và 7
chiếm chỉ có 6,88%. Không cần phải cảnh báo, với tốc độ thu hút FDI và xu thế phát
triển như 2 năm gần đây (2006 - 2007), vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực có tay nghề
sẽ càng trở nên trầm trọng. Giai cấp công nhân nước ta không những bất cập so với
yêu cầu phát triển chung của thời đại mà đang thực sự bất cập với chính yêu cầu phát
Nước ta hiện đang thuộc nhóm quốc gia có số lượng lao động thất nghiệp cao,
nhiều công nhân thiếu việc làm. Tuy thiếu việc làm nhưng nhìn chung cường độ làm
việc của công nhân tại các doanh nghiệp lại rất căng. Hầu hết các doanh nghiệp đều
tăng ca để bảo đảm kế hoạch và tăng doanh thu. Điều đáng nói là Luật Lao động quy
định công nhân làm việc không quá 200h/người/năm, nhưng trong nhiều doanh
nghiệp công nhân đã phải làm việc bình quân tới 500 - 600h/người/năm[4].
Ở khía cạnh đời sống, tuy người công nhân vẫn đang chấp nhận được với mức
lương hiện nay, nhưng không phải lĩnh vực này không có vấn đề. Tại Thành phố Hồ
Chí Minh, trung tâm công nghiệp lớn nhất của cả nước, thu nhập của khối cán bộ,
công chức hành chính, giáo dục bình quân 1.300.000đ/người/tháng; khối doanh
nghiệp nhà nước 1.425.000đ/người/tháng; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.400.000đ/người/tháng; khối văn phòng và công nhân kỹ thuật cao
4.000.000đ/người/tháng.
Doanh
nghiệp
ngoài
quốc
doanh
1.150.000đ/người/tháng[5]. Ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu...
cũng có những số liệu không mấy cách biệt.
Không ít các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt siêu lợi nhuận, nhưng
công nhân Việt Nam vẫn chỉ nhận được những đồng lương rất ít ỏi. Như vậy, nếu so
với đóng góp chung và với cường độ lao động hiện nay, cộng với sự tăng lên của giá
cả và các loại dịch vụ, đời sống của công nhân lao động trực tiếp sản xuất vẫn còn rất
nhiều khó khăn.
Đời sống vật chất là như vậy, điều kiện làm việc về tinh thần còn đáng lo ngại
hơn thế nhiều. Phải khẳng định nhiều doanh nghiệp chưa thực sự chăm lo đời sống
vật chất và tinh thần cho công nhân tương xứng với quan điểm, chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng. Số lượng các khu công nghiệp gia tăng rất nhanh, nhưng
đến nay chỉ có khoảng 2% công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất được thuê
doanh nghiệp nhà nước là 6,9%, doanh nghiệp tư nhân 30%, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất 66,5%[7]. Nguyên nhân của các cuộc đình
công phần lớn đều xuất phát từ phía người sử dụng lao động không thực hiện đúng,
đầy đủ các quy định của pháp luật: Không trả lương đúng bảng lương đã đăng ký, tự
ý thay đổi định mức lao động, sa thải công nhân vô cớ, hà khắc trong quản lý điều
hành, điều kiện lao động không bảo đảm vệ sinh tối thiểu, tiền phụ cấp độc hại thấp,
không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ cho công nhân... Đáng nói hơn cả
là tỷ lệ ký kết các hợp đồng lao động với công nhân rất thấp. Nếu có ký chủ yếu cũng
chỉ là các hợp đồng ngắn hạn. Hiện nay mới chỉ có 21% doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho công nhân, 69% còn lại chưa được
bảo đảm về những quyền lợi tối thiểu[8].
4 - Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong phong trào công nhân.
Cùng với sự nghiệp đổi mới, giai cấp công nhân nước ta đã có sự trưởng thành
vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, chưa bao giờ chúng ta có lực lượng công nhân
đông đảo như hiện nay. Tính đến cuối năm 2005, tổng số công nhân lao động làm
việc trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã lên đến 11,3 triệu
người. Trong đó doanh nghiệp nhà nước là 1,84 triệu, công nhân trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước 2,95 triệu, tăng 6,86 lần; 1,3 triệu công nhân làm việc trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,3 lần; doanh nghiệp cá thể 5,29
triệu, tăng 1,63 lần so với 1995[9].
Công nhân làm việc trong các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 70,9%,
ngành dịch vụ và thương mại chiếm 24,3%, các ngành khác chiếm 4,8%. Riêng các
cơ sở kinh tế cá thể công nhân chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ và thương
mại chiếm 66,67%; 33,33% còn lại làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp[10].
Các số liệu trên đây cho thấy, đội ngũ và cơ cấu giai cấp công nhân tăng nhanh,
nhưng công tác phát triển đảng và vai trò của Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Liên
hiệp thanh niên trong công nhân chưa tương xứng, thậm chí rất mờ nhạt.
chuyên trách dưới sự quản lý, lãnh đạo trực tiếp của chủ doanh nghiệp. Các cuộc đình
công, bãi công thời gian qua, ngoài những nguyên nhân khách quan, còn có một
nguyên nhân thực tế khác, đó là sự yếu kém của các tổ chức công đoàn. Hàng loạt các
vấn đề bức xúc nảy sinh giữa giới chủ và công nhân không được các tổ chức công
đoàn phát hiện hòa giải kịp thời. Nhiều vụ việc công nhân bị ngược đãi, trù dập
không có nhiều tổ chức công đoàn lên tiếng bênh vực, bảo vệ. Tổ chức công đoàn
đang có dấu hiệu thoát ly khỏi phong trào công nhân, không gắn và chưa thực sự đại
diện cho lợi ích chính đáng của công nhân. Chúng ta đang thực sự thiếu một cơ chế
chính sách đủ tầm cho hoạt động công đoàn. Đã đến lúc cần một cuộc cải biến thực
sự mang tính cách mạng trong hoạt động công đoàn, trong đó đặc biệt chú trọng đến
công tác đào tạo cán bộ công đoàn chuyên trách. Xem việc thành lập tổ chức công
đoàn là điều kiện bắt buộc đối với các nhà đầu tư, xây dựng tổ chức công đoàn thực
sự là tổ chức chính trị của giai cấp công nhân.
Từ thực tiễn và các vấn đề nêu trên, xin có một số kiến nghị đề xuất.
Một là: Cần định hướng lại mục tiêu của giáo dục cho sát với yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực thích ứng
với mục tiêu phát triển cụ thể của từng giai đoạn. Thực hiện nhất quán chủ trương xã
hội hóa giáo dục, trong đó Nhà nước và các tổ chức xã hội có nhiệm vụ đào tạo cơ
bản ban đầu, các doanh nghiệp trực tiếp sử dụng công nhân phải có trách nhiệm đào
tạo nâng cao tay nghề, cập nhật kiến thức chuyên môn, tiêu chuẩn hóa chức danh
nghề nghiệp trong mỗi doanh nghiệp.
Quan tâm đến đội ngũ giai cấp công nhân hiện nay là phải quan tâm đến trình độ
văn hóa, năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp và ý thức chính trị của họ.
Xây dựng giai cấp công nhân phải thể hiện trước hết ở việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng
nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn. Cần xem việc đào tạo nghề nghiệp, nâng
cao trình độ chuyên môn là một trong những chỉ tiêu pháp lệnh như mọi chỉ tiêu phát
triển kinh tế - xã hội khác. Một thế hệ công nhân mới giỏi về chuyên môn, vững vàng
về ý thức chính trị, tự họ sẽ vươn lên làm chủ và đủ sức đối đầu với mọi thách thức.
ích văn hóa công, chế độ nghỉ dưỡng, thưởng thức các chương trình văn hóa nghệ
thuật ở trong từng doanh nghiệp, ở mỗi cụm dân cư và các khu công nghiệp tập trung.
Khuyến khích động viên và khen thưởng, cổ vũ mạnh mẽ các doanh nghiệp làm tốt,
phê bình và xử lý thích đáng các đơn vị cố tình không làm tốt, hoặc làm có tính chất
đối phó, chiếu lệ... Sự thiếu thốn và nghèo nàn về đời sống văn hóa tinh thần sẽ làm
cho đại bộ phận lao động trẻ sống và làm việc trong môi trường không có cảm hứng
sáng tạo, tính tích cực xã hội không có điều kiện phát huy, lao động chắc chắn sẽ
không đem lại hiệu quả mong muốn, thiệt thòi trước hết cho chính các doanh nghiệp.
Tóm lại, xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh là sự nghiệp cách mạng lâu dài
khó khăn và đầy thách thức. Chúng ta không thể nói giữ vững và tăng cường bản chất
giai cấp công nhân một khi giai cấp không hoàn thành được những trọng trách và
những nhiệm vụ kinh tế - xã hội cụ thể do sự nghiệp đổi mới đang đặt ra. Vì thế phải
bằng sự nhạy cảm và bản lĩnh chính trị kiên định, Đảng ra sức phấn đấu làm cho giai
cấp công nhân, bằng lao động sáng tạo của mình, tạo ra sự giàu có và phát triển ổn
định cho đất nước. Chuẩn bị cho họ những điều kiện để thông qua những đóng góp
cống hiến của mình, giai cấp công nhân được xã hội trân trọng, tôn vinh. Nhờ đó mà
phát triển đội ngũ về số lượng, chất lượng và tổ chức, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh
chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, vươn lên trở thành giai cấp công nhân trí
thức, lực lượng trụ cột của Đảng và của toàn xã hội.
[1] Báo cáo của Ban Tuyên giáo tỉnh Đồng Nai, năm 2006
[2] Báo cáo của Ban Tuyên giáo tỉnh Đồng Nai, năm 2006
[3] Tạp chí Cộng sản, Chuyên đề cơ sở số 8/2007, tr 42
[4] Báo cáo của Viện Công nhân và Công đoàn Việt Nam, 2006
[5] Báo cáo của Liên đoàn Lao động TP.Hồ Chí Minh, năm 2006
[6] Số liệu của Viện Nghiên cứu Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006
[7] Xem tài liệu Hội thảo khoa học về Nâng cao đời sống văn hóa - tinh thần cho
công nhân các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Bình Dương, năm 2006
[8], [9] Số liệu Viện nghiên cứu công nhân - Công đoàn Việt Nam, năm 2006
[10] Số liệu Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng. Tổng Cục thống kê 2006
vừa là nỗi bức xúc của xã hội. Đội ngũ cán bộ, công nhân tiếp tục làm việc trong các
doanh nghiệp cổ phần hóa, về cơ bản, được đào tạo, rèn luyện và trưởng thành trong
môi trường làm việc cũ nên một bộ phận trình độ còn hạn chế, tay nghề thấp, ý thức
tổ chức kỷ luật kém, nặng tâm lý trông chờ ỷ lại, an phận... nên không ít người không
đáp ứng được những đòi hỏi của tác phong, quy trình, công nghệ sản xuất mới trong
điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
Cùng với sự xuất hiện ồ ạt của các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, các liên doanh đã tạo ra những khu công nghiệp - khu chế xuất tập
trung, thu hút một đội ngũ công nhân mới, rất đông đảo, trẻ và có trình độ văn hóa.
Nhưng, đội ngũ công nhân này cơ bản có nguồn gốc từ nông thôn, mang nặng tâm lý,
ý thức, lối sống của người nông dân; không được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ một
cách cơ bản; chưa được giáo dục một cách đầy đủ về ý thức chính trị, ý thức giai cấp;
mục đích đơn giản của họ là có việc làm, có thu nhập, ý thức làm thuê kiếm sống là
chính. Thu nhập của đội ngũ công nhân này rất thấp, đời sống vật chất và tinh thần vô
cùng khó khăn, nhất là về nhà ở, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường, văn hóa...
Để giai cấp công nhân Việt Nam phát triển và trưởng thành, ngày càng xứng đáng
là lực lượng quan trọng nhất để xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và chế
độ xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần sớm có một chiến lược quốc gia tổng thể, đồng bộ
xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong thời gian tới. Chúng tôi
xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:
1. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội một cách hài hòa. Vừa tăng trưởng
kinh tế với tốc độ cao, ổn định vừa bảo đảm phát triển văn hóa - xã hội hài hòa, lành
mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động, đặc
biệt là giai cấp công nhân; giữ vững ổn định chính trị; bảo đảm an ninh quốc phòng,
trật tự an toàn xã hội. Một xã hội ổn định, phát triển toàn diện và hài hòa không chỉ là
môi trường thuận lợi cho sự phát triển của giai cấp công nhân mà còn của mọi người
dân trong xã hội.
2. Tiếp tục phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quy
nguồn nhân lực mới là nhân tố quyết định cho sự phát triển và tăng trưởng cao. Đối
với người lao động, khi tham gia thị trường lao động nếu chưa được đào tạo cơ bản,
đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động, thì rất khó tìm được việc làm, và
nếu có, thì cũng thường là việc làm không ổn định, lao động giản đơn, nặng nhọc và
thu nhập thấp. Tính cạnh tranh cao cùng với sự sôi động của thị trường lao động đòi
hỏi Nhà nước cần có một chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực vừa đông
đảo, có chất lượng cao vừa phong phú, đa dạng nhằm đáp ứng kịp thời và lâu dài nhu
cầu nguồn lực con người cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Thiết thực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân.
Trong xã hội hiện nay, cùng với nông dân, giai cấp công nhân là những người nghèo
trong xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của người công nhân lao động còn nghèo
nàn. Đây là một nghịch lý rất đáng suy nghĩ. Giai cấp tiên tiến, ưu tú, nắm quyền lãnh
đạo xã hội mà lại nghèo. Vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước cần cấp thiết có một chiến lược
thiết thực chăm lo đời sống người công nhân, nhất là đội ngũ công nhân trẻ mới vào
nghề, tập trung đông ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong đó, trước hết, là các
chính sách mới về việc làm, nhà ở và tiền lương. Có như thế, giai cấp công nhân mới
thoát khỏi những bức bách của đời sống, có điều kiện học tập, rèn luyện nâng cao tay
nghề và ý thức xã hội. Chỉ khi đó, đội ngũ công nhân trẻ này mới gắn bó sâu sắc với
sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, có ý thức giai cấp, có lý tưởng xã hội chủ
nghĩa.
6. Xây dựng giai cấp công nhân gắn liền với cuộc vận động thực hiện Quy
chế Dân chủ ở cơ sở và chống tham nhũng. Xây dựng và phát triển giai cấp công
nhân phải được thực hiện trong một môi trường kinh tế - xã hội mà mỗi người công
nhân luôn có điều kiện phát huy năng lực của mình và được thụ hưởng thành quả lao
động do chính mình làm ra. Muốn thế, cần thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế Dân chủ
trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Một khi người công nhân được tôn
trọng, được thực sự góp phần vào quá trình phát triển doanh nghiệp thì sẽ tạo ra một
động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, công nhân yên tâm và hăng say làm việc, sáng
tạo mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và bản thân.
đối với tổ chức công đoàn sẽ là một sức mạnh mới thiết thực góp phần bảo vệ, chăm
sóc và phát triển giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân cũng là một cách xây
dựng và phát triển giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay.
Tạp chí cộng sản, số 144 /2007.
Tạp chí cộng sản, số 143 /2007.
TƯ TƯỞNG CỦA CÁC MÁC VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP
CÔNG NHÂN VÀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY
TS Nguyễn An Ninh
Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
(ĐCSVN)-Các Mác sinh ngày 5 - 5 - 1818, năm nay,
2007 là kỷ niệm lần thứ 189 ngày sinh của vị lãnh tụ vĩ
đại
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người
dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng GCCN,
nhân dân lao động. Cùng với phương pháp duy vật lịch
sử
và học thuyết về giá trị thặng dư, học thuyết về sứ
mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN là một trong ba
cống hiến vĩ đại của C.Mác. Từ đây, GCCN thế giới có
được “vũ khí lý luận” sắc bén trong cuộc đấu tranh để
tự Các Mác
giải phóng và lý luận chỉ đạo quá trình xây dựng xây
dựng xã hội XHCN và CSCN.
Sứ mệnh lịch sử thế giới của GCCN là một tất yếu khách quan bắt nguồn từ chính
thực tiễn sản xuất hiện đại, từ nhu cầu phát triển theo xu hướng xã hội hóa của lực
lượng sản xuất (LLSX) mà sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện
đại là biểu hiện tập trung nhất. Sứ mệnh đó còn bắt nguồn từ địa vị kinh tế - xã hội
hóa, lao động bớt nặng nhọc hơn, có chút ít cổ phần trong doanh nghiệp... thì họ càng
bị ràng buộc chặt chẽ hơn vào guồng máy sản xuất của tư bản, càng bị bóc lột nặng
nề và tinh vi hơn. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tỷ suất bóc lột giá trị thặng
dư trung bình ở thế kỷ XIX là 20, thì hiện nay là 300, cá biệt có nơi, như tập đoàn
Microsoft tỷ suất này lên tới 5000. Từ một chiều cạnh khác, hiện nay sự tăng lên
lượng tri thức khoa học và văn hóa của công nhân lại cũng là một tiền đề quan trọng
để giúp họ nhận thức và cải tạo xã hội. Họ đang phê phán CNTB và đến với CNXH
như đến với cái đúng và do sự thôi thúc của lý trí chứ không chỉ do nghèo đói. Với tri
thức và khả năng làm chủ công nghệ cao, với năng lực sáng tạo và ý thức về sứ
mệnh, GCCN hiện đại đang có thêm điều kiện để tự giải phóng.
Nhờ có những điều chỉnh lớn và tận dụng được thành tựu của cách mạng khoa
học và công nghệ, đặc biệt là qua toàn cầu hóa kinh tế, CNTB đang còn khả năng tiếp
tục kéo dài sự tồn tại nhưng không thể tránh được “định mệnh” mà Mác đã vạch ra từ
sứ mệnh lịch sử thế giới của GCCN. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay là biểu
hiện tập trung của xu thế xã hội hóa LLSX và cũng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn cơ
bản trong lòng CNTB. Nó khai triển mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất
TBCN đến mọi ngõ ngách của thế giới qua những biểu hiện xã hội đa dạng. Đó là
mâu thuẫn giữa GCCN hiện đại đang bị CNTB toàn cầu bóc lột giá trị thặng dư với
một GCTS “ngày càng trở nên là giai cấp thừa” trong sản xuất và phản động về chính
trị; Đó là mâu thuẫn giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, hay
“phương Bắc và phương Nam”, giữa “trung tâm và ngoại vi”...; là mâu thuẫn của lợi
ích từng quốc gia - dân tộc với lợi ích của các tập đoàn tư bản; giữa những nước phát
triển và đang phát triển; giữa chủ quyền quốc gia - dân tộc với xu thế đồng hóa cưỡng
bức; giữa văn hoá dân tộc với cuộc xâm lăng bằng tư tưởng, lối sống của những nước
đế quốc trong môi trường toàn cầu đang vận hành theo những cơ chế bất bình đẳng;
Đó còn là mâu thuẫn giữa các nước tư bản xung quanh việc tranh giành vị trí, thế lực
và ảnh hưởng thông qua việc chiếm lĩnh ưu thế về KH&CN, những nguồn tài
nguyên...
hoàn thiện và phát triển.
Kỷ niệm ngày sinh của Các Mác vĩ đại, GCCN cùng toàn Đảng, toàn dân ta tiếp
tục thực hiện lý tưởng cao đẹp của Người, xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam
và góp phần xứng đáng vào quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của
GCCN./.
Website báo Đảng cộng sản ngày 5/5/2007
XÂY DỰNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Đặng Ngọc Tùng
Ủy viên BCHTƯ Đảng
Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam
Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ biến đổi và phát
triển. Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, GCCN Việt Nam trở thành giai cấp
lãnh đạo cách mạng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa sự
nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc đến thắng lợi hoàn toàn; và ngày
nay đang giành được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu
dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cùng với quá trình đi lên
của đất nước, GCCN Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất
lượng và cơ cấu.
Hiện nay, đội ngũ công nhân, viên chức và lao động trong các loại hình doanh
nghiệp và cơ sở kinh tế ở nước ta có khoảng 11,3 triệu người, chiếm 13,5% dân số và
26,4% lực lượng lao động xã hội. Nhìn chung, tuổi đời của công nhân, lao động
(CNLĐ) tương đối trẻ: từ 18 đến 30 chiếm 36,4%; còn trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, tuổi dưới 25 chiếm tới 43,2%. Trình độ học vấn, chuyên môn
nghề nghiệp của CNLĐ những năm gần đây được nâng lên đáng kể (năm 1985, trình
độ trung học phổ thông là 43%; hiện nay là 69,3%);... tỷ lệ công nhân được đào tạo
nghề cũng tăng lên. GCCN Việt Nam có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, các
ngành nghề và là một lực lượng sản xuất cơ bản, chủ yếu; có vai trò đặc biệt quan
trọng đối với nền kinh tế quốc dân. GCCN Việt Nam luôn giữ vững bản chất cách
mạng, truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, khắc phục khó khăn, đưa sự nghiệp
sự cạnh tranh giữa trong với ngoài nước diễn ra ngày càng gay gắt; sự tác động của
kinh tế thị trường đang tạo nên tính đa dạng trong cơ cấu kinh tế và phức tạp trong cơ
cấu GCCN. Sự phân hóa giầu nghèo trong GCCN cũng diễn ra ngày một sâu sắc;
quan hệ lao động cũng đang có những diễn biến phức tạp; một số chính sách liên
quan đến quyền lợi của CNLĐ còn bị vi phạm, nhưng chưa được kiểm tra thường
xuyên và có biện pháp xử lý nghiêm khắc, kịp thời...
Ngày nay, tiếp tục chăm lo xây dựng, phát huy vai trò của GCCN Việt Nam, phù
hợp với tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và HNKTQT là vấn đề sống còn
của cách mạng, của chế độ XHCN ở nước ta. Cần nhận thức đúng rằng, đầu tư xây
dựng GCCN là đầu tư chiến lược, đầu tư trực tiếp cho phát triển, để củng cố và tăng
cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội.
Trước hết, cần quán triệt sâu sắc quan điểm coi xây dựng GCCN là nhiệm vụ tất
yếu, mang tính chiến lược; gắn liền với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị của dân,
do dân, vì dân; với thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, đối
ngoại và với từng bước đi của quá trình CNH, HĐH đất nước. Xây dựng, phát huy
vai trò của GCCN phải được thực hiện thông qua đường lối của Đảng; được thể chế
bằng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ của Nhà nước; bằng các biện
pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trước mắt, Đảng cần tập trung lãnh đạo,
sớm hoạch định chiến lược quốc gia về xây dựng, phát triển GCCN hiện đại, làm cơ
sở để Nhà nước ban hành các văn bản luật pháp, xây dựng các cơ chế, chính sách phù
hợp, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai thực hiện. Vấn đề có ý nghĩa then chốt
hiện nay là, phải không ngừng tăng cường bản chất GCCN của Đảng, thường xuyên
củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; làm cho Đảng ta có sự phát triển vượt
bậc về trí tuệ, năng lực, có trình độ lý luận, tư duy khoa học và bản lĩnh chính trị cao,
ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chính trị, trình
độ giác ngộ giai cấp, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường cho
GCCN. Nội dung tuyên truyền, giáo dục cần tập trung làm cho GCCN nắm vững thực
chính sách khuyến khích xã hội đối với CNLĐ. Cần thấy rằng, chính sách xã hội là
đòn bẩy quan trọng của tính tích cực xã hội. Do đó, cần rà soát để xóa bỏ những cơ
chế đã và đang kìm hãm tính tích cực, chủ động, sáng tạo của CNLĐ; đồng thời, tạo
lập cơ chế mới, đảm bảo giải phóng người lao động về mọi mặt, tạo điều kiện để
CNLĐ phát huy khả năng của mình trong lao động, học tập và cống hiến. Chính sách
xã hội trong điều kiện mới cần phải coi trọng đáp ứng các điều kiện thiết yếu cho
hoạt động của người lao động nói chung, cho GCCN nói riêng; đồng thời, phải thể
hiện sự quan tâm đến nguyện vọng chính đáng của CNLĐ là được trả công tương
xứng với sức lao động mà họ đã bỏ ra; được chăm lo đến điều kiện lao động, điều
kiện sống, việc làm ổn định, kể cả sự công bằng xã hội. Trước mắt, cần tiếp tục hoàn
thiện chính sách tiền lương và công tác tổ chức tiền lương trong các loại hình doanh
nghiệp, thuộc các thành phần kinh tế, nhằm đảm bảo giá trị tiền lương thực tế và đời
sống cho CNLĐ; thực hiện tốt nguyên tắc phân phối theo lao động, hạn chế tối đa sự
chênh lệch quá cao về thu nhập của CNLĐ giữa các ngành nghề, các thành phần kinh
tế và giữa các bộ phận công nhân ngay trong cùng một doanh nghiệp. Cần có quy
định ưu đãi với công nhân lành nghề, thợ bậc cao, để khuyến khích đội ngũ CNLĐ
tích cực phấn đấu vươn lên. Nhanh chóng hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư
phát triển nhà ở cho CNLĐ; có chính sách cụ thể hỗ trợ về nhà ở cho những gia đình
CNLĐ nghèo. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Lao động, bảo hộ
lao động; xử lý nghiêm những vi phạm quyền lợi đối với người lao động. Chú trọng
chăm lo, cải thiện điều kiện lao động; phòng, chống có hiệu quả tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp; xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chính sách chăm sóc sức khỏe
công nhân, nhất là với công nhân nữ, công nhân làm việc nặng nhọc, độc hại. Không
ngừng phát triển, nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh của các cơ sở y tế ngành
nghề.
Cùng với chính sách bảo đảm xã hội, Nhà nước cần hết sức quan tâm thực hiện
tốt chính sách khuyến khích xã hội đối với CNLĐ, bao gồm chính sách thi đua - khen
thưởng, tôn vinh các cá nhân, tập thể xuất sắc, có nhiều cống hiến, nhất là những
người trực tiếp lao động; có cơ chế động viên kịp thời, phù hợp với những CNLĐ
trang
chức Công đoàn trong tình hình mới. Bản thân tổ chức Công đoàn ở từng cấp phải
đổi mới mạnh mẽ hơn nội dung, phương thức hoạt động; kiên quyết khắc phục tình
trạng xơ cứng, trì trệ và hiện tượng “hành chính hóa” trong tổ chức hoạt động của
mình. Đồng thời, đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng, để thu hút đông đảo
CNLĐ tham gia Công đoàn và hoạt động tích cực, có hiệu quả. Các cấp ủy Đảng phải
tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để Công đoàn thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của
mình trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan; thường xuyên tiếp xúc,
lắng nghe ý kiến của Công đoàn và công nhân, viên chức, lao động, tạo điều kiện để
tổ chức Công đoàn được góp tiếng nói xứng đáng của mình vào việc hoạch định
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và trong quản lý Nhà nước, xã hội.
Cần tăng cường chỉ đạo kiểm tra các cấp, các ngành và các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế trong việc triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước đối với GCCN. Nhà nước cần chú trọng phối hợp chặt
chẽ với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, triển khai có hiệu quả các chương trình
hoạt động và tạo điều kiện thuận lợi về kinh phí để Công đoàn hoạt động, góp phần
xây dựng GCCN Việt Nam không ngừng lớn mạnh.
Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 5/2007
Để nâng cao chất lượng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
(ĐCSVN) - Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng,
các tổ chức chính quyền nhà nước, các đoàn thể nhân dân và toàn thể nhân dân.
1. Giai cấp công nhân: khái niệm, quá trình phát triển
Thuật ngữ “công nhân” xuất hiện lần đầu vào khoảng thế kỷ XVI, khi chủ nghĩa
tư bản bắt đầu phát triển. Trước đó, người ta dùng thuật ngữ “thợ thủ công”. Giữa
thuật ngữ “công nhân” và “vô sản” tuy thống nhất, nhưng không đồng nhất. Trung
Quốc trước đây gộp cả thành phần “cố nông” vào hàng ngũ “vô sản”. Dưới chế độ tư
bản, công nhân được hiểu như người lao động làm thuê, người làm công ăn lương,
không có tài sản riêng. Khi C.Mác và Ph.Ăngghen viết “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”
vào cuối năm 1857, đầu năm 1858, các ông đã bắt đầu nâng vị trí người công nhân từ
chức. Đến nay, toàn thế giới có khoảng 950 triệu công nhân, viên chức. Giai cấp công
nhân có các tổ chức công đoàn, các tổ chức chính trị và các tổ chức khác của mình.
300 triệu công nhân thế giới đã được hợp thành các công đoàn tại các nước riêng lẻ.
Sự phát triển của giai cấp công nhân trong lịch sử được chia làm ba giai đoạn: 1)
Giai cấp công nhân là một khối người thụ động, bị bóc lột; 2) Giai cấp công nhân với
tư cách là một nhân tố mới trong cuộc đấu tranh kinh tế và xã hội; 3) Giai cấp công
nhân với tư cách là lực lượng xã hội có ý thức, đội tiên phong của những người lao
động và chiến sĩ tích cực đấu tranh để giải phóng toàn thể loài người khỏi bóc lột, áp
bức dân tộc và áp bức xã hội.
Về tổ chức, trong lịch sử đã có một thời kỳ dài khoảng 70 năm (từ những năm 90
thế kỷ XIX đến những năm 60 thế kỷ XX), các đảng cộng sản và đảng công nhân
(khoảng 90 đảng) nắm được giai cấp công nhân. Từ những năm 60 thế kỷ XX đến
nay, giai cấp công nhân thế giới bị chi phối bởi các đảng cộng sản cầm quyền và các
đảng xã hội dân chủ (dân chủ xã hội) cầm quyền. Các tổ chức quần chúng mang tính
chất quốc tế trước đây do Quốc tế Cộng sản nắm, nay các tổ chức này do Quốc tế xã
hội nắm và chi phối, cấp kinh phí cho để hoạt động.
Về phong trào, từ khi Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra (năm 1917) đến những
năm 80 thế kỷ XX, giai cấp công nhân trưởng thành nhanh trong cuộc đấu tranh giai
cấp và đấu tranh dân tộc, nhiều lúc đã vươn lên thành cao trào. Từ những năm 80, 90
thế kỷ XX đến nay, do sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở châu
Âu, chủ nghĩa xã hội khoa học bước vào thoái trào, cho nên phong trào công nhân thế
giới cũng đang ở vào giai đoạn thoái trào. Khẩu hiệu “Vô sản thế giới đoàn kết lại”
và khẩu hiệu “Vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” đang bị bóc tách
ra từng mảng riêng rẽ.
Phương hướng tiến lên của giai cấp công nhân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
ra sau khi Người đi dự Hội nghị 81 đảng cộng sản và công nhân vào năm l960, tại
Mátxcơ va, Liên Xô về: “Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước mình và chú ý đến
tình hình quốc tế, các đảng cộng sản cần nắm vững và giương cao ngọn cờ dân tộc
Trong lịch sử của mình, giai cấp công nhân Việt Nam đã theo đội tiên phong của
mình là Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện thành công cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ (đến năm 1947 bổ sung thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) tiến lên cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Những ngày chuẩn bị thành lập Đảng, giai cấp công nhân
Việt Nam đã có những cuộc đấu tranh quyết liệt chống thực dân và tư bản nước
ngoài, giành quyền lợi chính trị và kinh tế cho giai cấp mình và dân tộc mình. Rất
nhiều công nhân chân chính đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh này để cho giai cấp
và dân tộc mình hồi sinh. Sự gắn bó giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân
trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người đã
tạo nên sức mạnh của cách mạng.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cứu nước, rất nhiều công nhân đã xung
phong tình nguyện vào bộ đội chiến đấu. Từ công nhân trở thành quân nhân. Nhiều
công binh xưởng do công nhân bộ đội đảm nhiệm đã sản xuất rất nhiều vũ khí cung
cấp cho các chiến trường. Anh hùng công nhân Ngô Gia Khảm là một trong những
người có nhiều công lao trong việc sản xuất vũ khí giết giặc. Hậu phương thi đua với
tiền phương đã trở thành phong trào quần chúng rộng rãi trong công nhân và nông
dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai cấp công nhân Việt Nam ở
miền Bắc và ở miền Nam đã có những cống hiến đặc biệt xuất sắc. Nhiều anh hùng,
liệt sĩ trong cuộc kháng chiến này xuất thân từ công nhân, trong đó có anh hùng liệt sĩ
công nhân Nguyễn Văn Trỗi. Hàng chục vạn công nhân miền Bắc đã rời xưởng máy
của mình để vào miền Nam chiến đấu. Nhiều cán bộ công đoàn ở miền Bắc đã tình
nguyện vào miền Nam để gây dựng các tổ chức công đoàn ở miền Nam trong lúc
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ác liệt.
Từ năm 1955 đến năm 1960, miền Bắc bước vào khôi phục và cải tạo kinh tế. Từ
năm 1960 đến năm 1975, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ quá độ. Các
nhà máy, xí nghiệp ở miền Bắc thời kỳ này phần lớn là quốc doanh, tiếp đến là công
tư hợp doanh, một số xưởng sản xuất nhỏ là của tư nhân. Giai cấp công nhân miền
Bắc thời kỳ này sôi nổi thi đua phấn đấu theo lời kêu gọi của Bác Hồ: “Mỗi người
sang các doanh nghiệp cổ phần hoá, làm cho số công nhân ngoài khu vực kinh tế nhà
nước tăng đáng kể. Trước năm 1986 và những năm đầu đổi mới, khu vực kinh tế nhà
nước gần như rơi vào tình trạng ngưng trệ, nhưng từ năm 1991 đến nay, đã phát triển
khá nhanh. Đến năm 2002, có xấp xỉ 50 nghìn doanh nghiệp ngoài nhà nước với 1,4
triệu công nhân. Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngoài nhà nước chủ yếu là doanh
nghiệp nhỏ, chỉ có một số rất ít có quy mô sử dụng lao động từ 500 đến l.000 công
nhân. Công nhân khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gồm khoảng 600 nghìn
lao động làm việc trong hơn 2 nghìn doanh nghiệp (có 466 nghìn công nhân làm việc
trong 1.337 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài). Công nhân Việt Nam lao động ở
nước ngoài tính đến nay có khoảng 450 nghìn người. Công nhân trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước (có sách, báo viết là doanh nghiệp dân doanh) nhìn chung trẻ,
xuất thân từ nông dân, tay nghề thấp, chưa được đào tạo cơ bản, chưa được giác ngộ
chính trị. Tiền lương thấp, thậm chí trong doanh nghiệp dân doanh không có thang
lương, bảng lương theo quy định của luật pháp.
Từ ngày đất nước bước vào thực hiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp quốc
doanh đang đi dần vào cổ phần hoá. Rất nhiều doanh nghiệp tư nhân (gọi là dân
doanh) trong và ngoài nước mọc lên. Công nhân ở những doanh nghiệp này, trên thực
tế, trở thành người làm thuê, làm công ăn lương. Chủ doanh nghiệp, trên thực tế, họ
là nhà tư bản. Chỗ khác nhau giữa chủ xí nghiệp, nhà máy của những năm 30 – 40 thế
kỷ XX với chủ doanh nghiệp hiện nay là chủ xí nghiệp, nhà máy của những năm 30 40 thế kỷ XX ở Việt Nam 1à sống dưới chế độ thực dân, đế quốc phong kiến, còn chủ
doanh nghiệp hiện nay là sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Công nhân làm việc
theo chế độ hợp đồng. Ngoài đồng lương ra, hầu như không có các khoản phúc lợi
nào khác đáng kể. Ngay như nhà ở tập thể của công nhân, chủ doanh nghiệp cũng
không giải quyết được. Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố lớn, các khu công nghiệp
tập trung chưa xây dựng nhà ở lưu trú cho công nhân. Cả nước hiện có 131 khu công
nghiệp, khu chế xuất với 900 nghìn công nhân, nhưng chỉ có 2% số công nhân được
thuê nhà ở do doanh nghiệp xây dựng. Đồng lương rẻ mạt, điều kiện ăn, ở không có,
sinh hoạt văn hoá, tinh thần nghèo nàn đã dẫn đến sự bần cùng hoá công nhân trong
có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường và xây dựng đất nước kiên cường.
Đảng phải có kế hoạch tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng
viên trong các doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đảng phải có chương trình, kế hoạch cụ thể đào tạo đội ngũ cán bộ, trước hết là cán
bộ công đoàn trong giai cấp công nhân. Định kỳ, các cấp lãnh đạo đảng, chính quyền
địa phương, công đoàn tiếp xúc với công nhân, giải quyết những vấn đề bức xúc của
công nhân. Đảng phải thấy rằng, với hiện trạng tỷ lệ lao động có trình độ cao hiện
còn rất thấp, lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, giai cấp công nhân rất khó đáp
ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, do đó, đòi
hỏi Đảng phải đổi mới căn bản chiến lược và chính sách đạo tạo nguồn nhân lực cho
đất nước, trước hết là đào tạo giai cấp công nhân.
Phấn đấu trong một thời gian gần, tất cả các doanh nghiệp quốc doanh, cổ phần
hoá, tư doanh (kể cả các doanh nghiệp của người nước ngoài) đều phải tổ chức công
đoàn, công nhân lấy đó làm đoàn thể hoạt động và đây cũng là nơi gửi gắm tư tưởng,
tình cảm của mình đối với Đảng, Nhà nước, đoàn thể và nhân dân.
- Đối với Nhà nước phải có chính sách nhà ở, tiền lương, thực hiện ký kết thoả
ước lao động tập thể, hợp đồng lao động, thiết chế văn hoá trong tất cả các doanh
nghiệp để bảo vệ lợi ích chính đáng cho công nhân, ít nhất cũng phải giải quyết cho
công nhân những quyền lợi cơ bản như vấn đề ăn, ở, sinh hoạt văn hoá, tinh thần,
bằng phương tiện công để đi làm việc.
Nhà nước nên có sự tính toán cẩn trọng trong việc cổ phần hoá các doanh nghiệp
nhà nước, đừng nên biến các doanh nghiệp này, tài sản và vốn có của nhà nước, bỗng
dưng biến thành của một nhóm người tư nhân, trong đó có cả cán bộ nhà nước. Liên
Xô trước đây, khi tổng kết về chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1941 - 1945) rút ra kinh
nghiệm là trong chiến tranh nếu không có các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh giúp
sức, thì cuộc chiến tranh rất khó kết thúc, vì không đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật để
phục vụ cho chiến tranh và tiến hành chiến tranh. Thời bình, kinh tế phát triển có thể
dựa vào tất cả các thành phần kinh tế, nhưng thời chiến, kinh tế của đất nước lại phải
Website Báo Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 22/8/2007
Một số ý kiến về định nghĩa, đặc điểm của giai cấp công nhân việt nam hiện
nay
I. Về định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam
Trong các sách báo và tài liệu trong nước những năm gần đây, có nhiều tác giả
bàn đến giai cấp công nhân Việt Nam, vai trò và sứ mạng của nó trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc và trong công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, qua theo dõi các tài
liệu hiện có, chúng tôi cho rằng, có lẽ hiện nay chưa có cách hiểu thống nhất về thế
nào là giai cấp công nhân hiện đại và giai cấp công nhân Việt Nam. Nếu không xác
định được rõ ràng giai cấp công nhân Việt Nam là gì và ai sẽ được đưa vào thành
phần của giai cấp công nhân thì chúng ta sẽ không thể làm rõ được thực trạng và
không làm rõ được thực trạng thì không thể đưa ra được các giải pháp để xây dựng và
phát triển giai cấp đó.
Để giải quyết vấn đề thế nào là giai cấp công nhân Việt Nam, theo chúng tôi,
trước hết, cần trở lại những quan điểm cơ bản của C. Mác, Ph. Ăngghen và Hồ Chí
Minh về giai cấp công nhân, những người đã đặt nền móng cho cách hiểu về giai cấp
công nhân nói chung và giai cấp công nhân Việt Nam nói riêng. Trong những tác
phẩm quan trọng của mình, C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu ra những chỉ dẫn quan
trọng về giai cấp công nhân mà các ông gọi là giai cấp vô sản như:
- Giai cấp vô sản là giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống vào việc phải bán sức lao
động của mình, chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ tư bản nào.
- Giai cấp vô sản hay là giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động thế
kỷ XIX.
- Giai cấp vô sản là giai cấp do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra.
- Giai cấp vô sản là giai cấp những người công nhân làm thuê hiện đại.
- Sự ra đời của giai cấp vô sản gắn với nền đại công nghiệp hiện đại và là sản
phẩm của nền đại công nghiêp. “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai
cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Các giai cấp khác
họ làm nghề gì cũng đều thuộc về giai cấp công nhân.
Chủ chốt của giai cấp ấy là những công nhân ở các xí nghiệp như: nhà máy, hầm
mỏ, xe lửa, v.v. Những công nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa
hàng, những cố nông, v.v., cũng thuộc về giai cấp công nhân. Nhưng chỉ công nhân
công nghệ là hoàn toàn đại biểu cho cái đặc tính của giai cấp công nhân” . Đây có thể
coi là một trong những định nghĩa của Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân. Giai cấp
công nhân, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, là tất cả những người không có tư liệu
sản xuất, phải bán sức lao động để kiếm sống. Khái niệm giai cấp công nhân như vậy
là rất rộng, nhưng trong quan niệm của Người, chỉ có giai cấp công nhân công
nghiệp, làm việc trong nhà máy mới đại diện tiêu biểu cho giai cấp công nhân.
Thứ hai, sau khi cách mạng giành được chính quyền nhà nước, công nhân không
còn là người làm thuê nữa mà cùng với tầng lớp nhân dân lao động khác trở thành
người làm chủ nhà nước về mọi mặt, làm chủ cả trong sản xuất lẫn phân phối. Người
viết: “Công nhân ta chẳng những không còn là người “culi” như dưới chế độ thực dân
phong kiến, mà cũng không phải là người vô sản theo nghĩa đen của chữ đó, tức là
không có của cải gì. Ngày nay, công nhân ta là người làm chủ tập thể của các xí
nghiệp, là giai cấp lãnh đạo nước nhà” .
Thứ ba, công nhân là những người đấu tranh dũng cảm nhất, cách mạng nhất.
Nhờ có lý luận cách mạng soi đường, công nhân đã trở thành lực lượng lãnh đạo cách
mạng. Đồng thời, giai cấp công nhân có thể hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của
mình nhờ có Đảng tiên phong, có liên minh công nông vững chắc, có công đoàn làm
trường học cách mạng của giai cấp. Hồ Chí Minh viết: "Đặc tính cách mạng của giai
cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật. Lại vì là giai cấp
tiên tiến nhất trong sản xuất, gánh vác trách nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc,
để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng
cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời tinh thần đấu tranh của họ
ảnh hưởng và giáo dục tầng lớp khác. Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và
hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo” .
Thứ tư, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa xã hội
là phải nâng cao năng suất lao động và tham gia quản lý sản xuất, quản lý xã hội, đi