Giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại-
Đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của nó
tận ngày nay, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là đối tượng
tấn công quyết liệt của những thế lực thù địch, mà trư¬ớc hết là từ phía
giai cấp tư¬ sản và các lực lượng phản cách mạng khác. Và, mỗi lần
như¬ vậy, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin lại vư¬ợt qua những
ảo tư¬ởng, những ấu trĩ và những hạn chế của lịch sử để rồi hoàn thiện
và phù hợp hơn với tiến trình phát triển của xã hội.
Ngày nay, tr¬ước sự biến động phức tạp, khó l¬ường của tình hình thế
giới, trước sự phát triển quanh co của lịch sử, nhất là từ sau khi chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phong trào cách mạng
thế giới lâm vào thoái trào, chủ nghĩa tư bản tạm thời thắng thế, làn
sóng hận thù chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin lại dấy lên khắp
mọi nơi. Nhân cơ hội đó, đã có không ít những người vốn là mác xít,
nay trở cờ, lật lọng quay lại phê phán, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa
Mác- Lênin, phủ nhận học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân và rêu rao về sự “tận cùng của lịch sử”.
Trong bối cảnh đó, việc làm sáng tỏ và nhận thức lại đúng đắn hơn về
giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó là vấn đề có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc và thiết thực.
1. Về khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam
Bàn về khái niệm giai cấp công nhân, cho tới nay, tuỳ thuộc vào lập
trường giai cấp, thái độ chính trị, trình độ nhận thức và phư¬ơng pháp
tiếp cận , vẫn còn những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngư¬ợc nhau.
C. Mác trong bức thư¬ gửi Vây-Đơ Maye (năm 1852) đã thừa nhận, việc
phát hiện ra giai cấp và đấu tranh giai cấp, không phải là công lao của
các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, công lao đó thuộc về các
nhà sử học Pháp: G. Phrăngxoa Ghi đô (1776-1874), Ô. Guyxtanh Chirey
(1795-1856), Phrăngxoa Mi nhê (1796-1884) Công lao của C. Mác chỉ
là phát hiện ra: vấn đề đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính
mộc v.v Đó là lớp công nhân cao cấp, một phần có tri thức khoa học,
một phần có tính thủ công, đứng ngoài giới công nhân công x¬ởng và
chỉ được kết hợp với những công nhân này thôi. Sự phân công lao động
đó có tính chất thuần tuý công nghệ”[2]
Ngoài ra, khi phân biệt bản chất cách mạng của giai cấp công nhân gắn
với vai trò, sứ mệnh mệnh sử thế giới của nó với sự biến dạng bản chất
ấy, sự tha hoá, đánh mất mình của giai cấp vô sản trong tình trạng bị nô
dịch bởi chủ nghĩa tư¬ bản, các nhà kinh điển đã sử dụng những thuật
ngữ đối ngược nhau: “giai cấp vô sản cách mạng” và tầng lớp “vô sản
l¬uư manh” mất gốc, những phần tử cặn bã của xã hội t¬ư sản. Đồng
thời, cũng để phân biệt giai cấp công nhân cách mạng với bộ phận công
nhân đã khuất phục và trở thành công cụ của giai cấp tư¬ sản để phá
hoại phong trào công nhân từ bên trong, m¬uư toan kìm hãm và khuôn
cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong trật tự của “chủ nghĩa công
liên” vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư¬ t¬ởng t¬ư sản
và tiểu t¬ư sản thao túng, các ông cần sử dụng thuật ngữ “công nhân
quý tộc”. Vậy là, theo các ông “ công nhân quí tộc” và tầng lớp vô sản
l¬uư manh không còn là bộ phận của giai cấp công nhân nữa mà hoặc
đã trở thành bộ phận của giai cấp tư¬ sản hoặc là tầng lớp cặn bã của
xã hội.
Tất cả những diễn đạt nêu trên về khái niệm giai cấp công nhân của các
nhà kinh điển được đặt trong hoàn cảnh lịch sử từ nửa sau thế kỷ XIX
đến đầu thế kỷ XX, trên cơ sở các ông đã đư¬a vào hai tiêu chí để phân
định giai cấp công nhân với các giai tầng xã hội khác:
Thứ nhất, về phư¬ơng thức lao động, ph¬ương thức sản xuất: giai cấp
công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp hay gián
tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng
hiện đại và xã hội hoá, quốc tế hoá cao. Đây cũng là tiêu chí cơ bản
phân biệt người công nhân hiện đại vời người thợ thủ công thời trung
cổ hay người thợ trong công trường thủ công. C. Mác viết: “Trong công
nghĩa cộng sản”, Ph. Anghen đã đ¬a ra định nghĩa về giai cấp vô sản:
“Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán
sức lao động của mình, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của
công việc làm ăn, vào sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn
cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản
là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX Giai cấp vô sản là do cuộc cách
mạng công nghiệp sản sinh ra”[7].
Phát triển học thuyết của Mác và Ph. Anghen trong Thời đại Đế quốc
chủ nghĩa và cách mạng vô sản, đặc biệt trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội hiện thực, trên cơ sở quan niệm đúng và mới về giai cấp,
Lênin đã bổ sung thêm những thuộc tính mới của giai cấp công nhân.
Theo Lênin, sự phân chia giai cấp trong xã hội phải dựa vào địa vị và sự
khác nhau của các tập đoàn người trong quan hệ đối với chế độ sở hữu
tư liệu sản xuất, sự khác nhau trong quan hệ đối với quản lý sản xuất và
khác nhau trong quan hệ phân phối sản phẩm. Trong tác phẩm “Sáng
kiến vĩ đại”, Lênin đã đ¬a ra một định nghĩa nổi tiếng về giai cấp; trong
những tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga”, “Nhà
n¬ước và cách mạng”, “Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô
sản” Lênin đã đư ra một định nghĩa mẫu mực về giai cấp công nhân:
“là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong
cuộc đấu tranh lật đổ ách t¬ư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội
mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.
Xu h¬ướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ tự thủ tiêu mình
với tư¬ cách là giai cấp vô sản”[8].
Xuất phát từ quan niệm trên, có thể đi tới định nghĩa về giai cấp công
nhân nh¬ư sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn người ổn định, hình
thành và phát triển gắn liền với nền sản xuất công nghiệp ngày càng
hiện đại và nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển với trình độ xã hội
hoá, quốc tế hoá cao và rộng lớn; là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên
tiến của thời đại hiện nay; là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh