Giai cấp công nhân Việt Nam
Trường Đại Học DL Phú Xuân
Khoa Xã Hội Nhân Văn
Lớp: Lịch Sử 4A-K3
Họ và Tên: HỒ THỊ THƯƠNG
KIỂM TRA HỌC TRÌNH
Chuyên Đề: GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
Đề bài: Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành từ bao giờ. Bằng lý luận và thực
tiễn, anh (chị) hãy làm rõ vấn đề này.
Bài làm.
Ăng ghen trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, tập 1, đã định
nghĩa: Giai cấp vô sản là giai cấp không có của (không có tư liệu sản suất) nhưng họ là
những người đóng góp nhiều nhất vào sự sinh tồn của xã hội. Trong tác phẩm “nguyên lý
của chủ nghĩa Mác”, Ăng ghen định nghĩa: Giai cấp vô sản là giai cấp xã hội hoàn toàn
sống dựa vào việc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản chứ không phải sống dựa vào
lợi nhuận của bất cứ một tư bản nào. Do đó, họ là một giai cấp hạnh phúc và đau khổ, sống
và chết. Toàn bộ sự sống của họ đều phụ thuộc vào yêu cầu về việc mình có bán được sức
lao động hay không? Giai cấp vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX.
Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của nền triết học cổ điển Đức”, Mác xác định: thoạt
đầu điều kiện kinh tế đã biết số đông dân chúng thành công nhân và sự thống trị của tư bản
đã tạo cho số đông này một tình trạng, một đặc trưng như nhau. Và như thế họ trở thành
một tập đoàn trong xã hội có tình trạng bị bóc lột như nhau và chính tập đoàn ấy lúc đầu
đối đầu với giai cấp tư sản.
Như thế, khối người như Mác nói đã thực sự hình thành ở Việt Nam những năm
đầu thế kỉ XX gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất tuy rằng đang còn là giai
cấp tự phát.
Về vấn đề sự hình thành của giai cấp công nhân Việt Nam có rất nhiều quan điểm
khác nhau: Theo GS. Trần Văn Giàu và các thầy giáo trong khối các trường đại học thì giai
cấp công nhân Việt Nam hình thành sớm nhất từ đầu thế kỉ XX, gắn với cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ nhất (1897-1919); theo GS. Trần Huy Liệu và các nhà khoa học của viện
sử học Việt Nam thì giai cấp công nhân Việt Nam hình thành sau chiến tranh thế giới thứ
đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Quá trình hình thành của giai cấp công nhân Việt Nam gắn
liền với quá trình chủ nghĩa tư bản pháp khai thác và bóc lột ở nước ta”.
Như đã biết, sự thất bại của phong trào Cần Vương-1896, đưa đến cho pháp thuận
lợi: tình hình Đông Dương tương đối ổn định bởi các cuộc nổi đậy đã bị dập tắt. Đến 1897,
Pháp cử viên toàn quyền Đông Dương Pôn Đume sang triển khai cuộc khai thác thuộc địa
lần thứ nhất từ 1897-1914. Trong cuộc khai thác này, Pháp không muốn nền công nghiệp
thuộc địa cạnh tranh với công nghiệp chính quốc mà để phục vụ cho chính quốc và để chạy
theo phục vụ lợi nhuận cho pháp nên pháp không để lại một công trình công nghiệp lớn
nào cả.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”, Lên
nin đã định nghĩa đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc Pháp là “đế quốc cho vay lấy lãi”.
Nghĩa là, trong khai thác thuộc địa pháp không bao giời muốn đầu tư, bỏ vốn, trang thiết bị
kỹ thuật mà chỉ muốn bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt, bỏ vốn ít nhất mà thu lời nhanh
nhất, nhiều nhất. Do vậy, làm cho nền kinh tế Việt Nam hết sức kiệt quệ.
Tuy nhiên, trong đợt khai thác này, pháp đầu tư cho Việt Nam 492 triệu phăng và
mở rất nhiều các xí nghiệp (trên 200 xí nghiệp), chủ yếu là các xí nghiệp nhỏ. Mặc dù vậy,
pháp không chủ trương phát triển công nghiệp toàn diện mà chỉ phát triển những nền công
nghiệp nhẹ, đẩy mạnh khai thác các hệ thống mỏ và các đồn điền để trồng cây công
nghiệp. Pháp đã chiếm khoảng 322000 ha ruộng đất và đưa hàng hóa tràn vào nhằm biến
Việt Nam thành thị trường tiêu thụ đã làm phá sản hàng loạt nông dân, hàng nghàn làng thủ
công nghiệp. Vì thế nông dân, thợ thủ công, ngay cả trí thức đều chạy vào các đồn điền của
pháp để xin việc làm. Kết quả là đã tạo ra một đội ngũ công nhân.
Theo GS. Trần Văn Giàu trong tác phẩm “Giai cấp công nhân Việt Nam” năm
1906 ở Việt Nam có khoảng 49.500 công nhân, năm 1909 có 55.000 công nhân và đến năm
1913 lên đến 100.000 công nhân. Còn theo số liệu của Lê Thành Khôi trong tác phẩm “Le
Việt Nam” thì trong cuộc khai thác này có 5,4 vạn công nhân. Như vậy đội ngũ công nhân
Việt Nam này đã trở thành tập đoàn người mang đặc trưng chung lợi ích chung.
Mặt khác, theo GS.Trần Văn Giàu, trong 49.500 công nhân (1906) thì có 1.800 thợ
chuyên môn và trong 10 vạn công nhân này (1913) đã đạt đến một khối lượng công nhân
nhất định, riêng số thợ mỏ là 12000 người. Theo tài liệu của Robequan thì năm 1905 ở
cũng đồng loạt bãi công chống lại bọn đốc công. Năm 1906, nổ ra cuộc bãi công của công
nhân mỏ Hà Tu đấu tranh đồng loạt đòi phụ cấp đi đường và buộc chúng phải thực hiện.
Điều này thể hiện ý thức đoàn kết đấu tranh đòi thắng lợi của công nhân. Đến năm 1907,
công nhân Việt Nam làm trên con đường xe lửa Nam Ti (Vân Nam), đấu tranh đòi bọn chủ
trả lương đúng hạn và đầy đủ.
Điển hình, tháng 5-1909, ở Hà Nội 200 công nhân và viên chức của hãng LU.C.I đã
đồng loạt bỏ việc bãi công đòi được nghỉ ngày chủ nhật có lương. Trước tình hình đó,
chính phủ Đông Dương phải chấp nhận và ra luật bảo hộ lao động mới… và trong báo
“Trung Bắc” số ra ngày 8-5-1909 nói: “Việc phải đến đã đến rồi và chúng ta có thể “tự
hào” với việc ấy.Việc ấy là bãi công…bãi công đã xuất hiện ở Bắc kì. Những người làm
công của LU.C.I…tranh đua đạt thành tích với công nhân bưu điện Pari, đã đồng loạt bỏ
việc, trăm người như một; bằng hành động tự hào và cũng là tự phát ấy, họ khẳng định
quyền độc lập của kẻ bị bảo hộ đối với người bảo hộ”.
Như vậy, trên cơ sở 1 vạn công nhân cuối thế kỉ XIX và 10 vạn công nhân đầu thế
kỉ XX, giai cấp công nhân Việt Nam đã hình thành trước chiến tranh thế giới thứ nhất gắn
với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp dù đây vẫn là một giai cấp tự
phát.
Tuy nhiên, có thể nói rằng, sự hình thành giai cấp công nhân Việt Nam khác với
giai cấp công nhân ở các nước Tây Âu. Bởi nếu như ở các nước Châu Âu giai cấp công
nhân là sản phẩm của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa của một nước nhất định: Giai cấp công
HỒ THỊ THƯƠNG-LỊCH SỬ AK3
3
Giai cấp công nhân Việt Nam
nhân Pháp là sản phẩm của nền kinh tế tư bản Pháp; Giai cấp công nhân Anh là sản phẩm
của nền kinh tế tư bản Anh; Giai cấp công nhân Đức là sản phẩm của nền kinh tế tư bản
Đức…Điều đó có nghĩa, chủ nghĩa tư bản của nước đó đẻ ra giai cấp công nhân. Còn ở
Việt Nam, ngay từ thế kỉ XVI-XVII-XVIII, nền kinh tế hàng hóa phát triển đã làm nảy sinh
mầm mống tư bản chủ nghĩa, nhưng đến triều Nguyễn-từ đầu thế kỉ XIX -với chính sách
“trọng nông ước thương”, chính sách kìm hãm mầm mống tư bản chủ nghĩa không thể
phát triển lên thành kinh tế tư bản chủ nghĩa. Mãi đến năm 1858, thực dân Pháp xâm lược
4