Bài tập lớn lịch sử thế giới. - Pdf 38

MỞ ĐẦU
Nhà nước phong kiến đã đi vào lịch sử, xong một thời, một giai đoạn nhà nước
phong kiến đã có sự phát triển đáng kể, để rồi ghi vào dấu trang của dòng chảy thời
đại. Giờ đây quay ngược lại dòng thời gian, trở về với thời đại phong kiến. Bài viết
của em đi tìm hiểu về Luật pháp Trung Quốc phong kiến – Một trong những nhà
nước tiêu biểu cho chế độ phong kiến Phương Đông.
NỘI DUNG
I . CƠ SỞ HÌNH THÀNH, NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT PHONG KIẾN
TRUNG QUỐC.
1 . Cơ sở hình thành và phát triển của pháp luật phong kiến Trung Quốc.
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng quan trọng và rộng lớn nhất thuộc kiến
trúc thượng tầng, hai hiện tượng này thường xuyên có sự vận động và biến đổi
không ngừng.Sự hình thành và phát triển của nhà nước gắn với sự hình thành và
phát triển của pháp luật. Do đó cơ sở của sự hình thành và phát triển pháp luật
cũng dựa trên cơ sở hình thành và phát triển của nhà nước:
- Cơ sở kinh tế: Chế độ sở hữu ruộng đất đóng vai trò chủ đạo và sự tồn tại
của công xã nông thôn tạo nên cơ sở vật chất của nhà nước quân chủ chuyên chế
- Cơ sở chính trị – xã hội: Giai cấp địa chủ phong kiến hầu hết là trung và đại địa
chủ- đây là giai cấp thống trị trong xã hội
- Cơ sở tư tưởng: Là học thuyết chính trị nho giáo
2 . Nguồn của Luật pháp phong kiến Trung Quốc.
Luật pháp của nhà nước phong kiến Trung Quốc có năm nguồn chủ yếu đó là:
Lệnh: chiếu chỉ của Hoàng Đế ban ra.
Luật: Quy định về chế độ ruộng đất, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi,…
Cách: Những cách thức làm việc của quan chức nhà nước.
Thức: Thể thức có liên quan đến việc khám nghiệm, tra hỏi, xét xử…
Lệ: Án lệ.
II . NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT PHONG KIẾN
TRUNG QUỐC.
1 . Luật pháp phong kiến Trung Quốc kết hợp giữa Lễ và Hình.
Lễ là nguyên tắc xử sự của con người thuộc các đẳng cấp khác nhau trong các

Quốc: Quan điểm của pháp gia và quan điểm của Nho gia, đó là việc nên dùng
pháp luật mà trừng trị hay dùng đức mà giáo dục.
Nho gia chủ trương lấy đạo đức để răn dạy con người, từ đó ổn định xã hội, giữ
vũng trật tự phong kiến.
Ở thời Xuân Thu chủ yếu dùng pháp luật để cai trị, chính sách của những ông
vua thời Ngũ Bá thiết thực, thưởng phạt phân minh, đưa dân vào cuộc sống có quy
củ. Chính sách ấy gạt đạo đức sang một bên và có thể tóm gọn như sau:
Mọi người phải tôn trọng nhà vua. Vua là người đặt ra pháp luật, có quyền cho
dân sống, bắt dân chết. Nếu không tôn quân thì nước không được yên. Vua không
yên thì bản than dân cũng không được yên. Còn Vua phải yêu dân thì dân mới
phục tùng và vua mới mạnh. Pháp trị đòi hỏi phải rành rọt về luật, lệnh, hình,
chính. Luật để mọi người nhận rõ vị trí của mình. Lệnh để dân biết bổn phận phải
làm gì. Hình để trừng trị kể phạm pháp. Việc trừng trị phải công minh thì kể có tội
mới không oán, kẻ vô tội mới không lo sợ. Chính là tất cả các biện pháp kinh tế,
chính trị, để sửa chữa cho dân, đưa họ vào khuôn khổ pháp luật.
Luật pháp phải minh bạch, phải hợp lý đối với đời sống nhân dân theo nguyên
tắc thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
Muốn thi hành pháp luật thì phải chuẩn bị cho dân hiểu pháp luật rồi mới áp
dụng. Muốn cho mọi người tuân theo pháp luật, thì người trên phải gương mẫu.
Pháp luật trước khi ban hành phải được cân nhắc kĩ, không được nay sửa mai
đổi thì dân sẽ không biết ứng xử ra sao, dù thưởng có lớn dân cũng không ham,
phạt có nặng dân cũng không sợ.
Sau cùng việc xử án phải chí công vô tư, không khoan dung người mình yêu,
không khắc nghiệt với người mình ghét. Một nguyên tắc nổi tiếng của pháp trị:
“Trời không vì một vật nào mà làm thay đổi bốn mùa. Minh quân, thánh nhân cũng
không vì một vật nào mà thay đổi luật pháp” Chính vua cũng không được tùy tiện
thay đổi luật pháp. Luật pháp phải được áp dụng nhất luật với mội người. Nước
nào mà vua tôi, trên dưới, sang hèn, đều theo luật thì nước ấy rất bình trị.
Đến thời chiến quốc, nói đến tên tuổi của thương Ưởng, Hàn Phi, Lí Tư. Đó là
những người đã góp phần rất quan trọng làm cho nước Tần trở nên cường thịnh và

Đến đời Tống sự suy yếu của triều đại cũng thể hiện sự suy yếu của đạo đức
nho giáo.
Trong thời kỳ suy thoái của nhà Minh, đại học sĩ Trương Cư Chinh phê phán
Nho giáo, muốn quay lại chính sách đọc tài của nhà Tần nhưng không thành công.
Cuối thời nhà Thanh, Nho giáo và tư tưởng đức trị cũng bị phê phán kịch liệt.
III . ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT PHÁP PHONG KIẾN TRUNG QUỐC RA
BÊN NGOÀI.
Trung Quốc là nước lớn có nền văn minh sớm phát triển lại thường xuyên chinh
phục bành trướng đồng hóa ra bên ngoài. Văn hóa và luật pháp Trung Quốc có ảnh
hưởng lớn tới nhiều nước phương đông như: Triều Tiền, Nhật Bản, Việt Nam.
Sự ảnh hưởng đó được thể hiện ở những điểm nổi bật:
-Tư tưởng chính trị pháp lý Nho giáo.
- Xác lập hình thức nhà nước quân chủ tuyệt đối trên cơ sở nền kinh tế nông
nghiệp tự nhiên, manh mún.
- Mô hình tổ chức hành chính theo chế đọ lục bộ và một số cơ quan khác, mô hình
tổ chức đơn vị hành chính địa phương theo chế đọ quận huyện, chế đọ quan lại…
-Tư tưởng pháp trị kết hơp trong đó cả Đức trị và Pháp trị, hình thức pháp luật, kỹ
thuật làm luật, và nhiều chế định pháp luật.
Chính bởi hai đặc trưng nổi bật trên đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến pháp
luật các nước khác trong đó Việt Nam là một nước tiêu biểu. Do có nhiều nét
tương đồng mà các nhà làm luật ở các triều đại phong kiến Việt Nam đã vận dung
nhiều hình thức pháp lí và chế định pháp luật phong kiến Trung Quốc. Pháp luật
phong kiến Việt Nam đã dựa vào và thể chế hóa nội dung cơ bản của đạo nho. Tư
tưởng đức trị, lễ nghĩa của nho giáo là sự kết hợp giữa đức trị với pháp trị từng
bước được thẩm thấu vào luật pháp phong kiến Việt Nam, trở thành tư tưởng chủ
đạo của các nhà làm luật Việt Nam, nhất là từ thời Lê trở đi. Vua Lê thánh Tông đã
đặt ra 24 điều giáo hóa để giữ lấy luân thường đạo lí trong gia đình và thuần phong
mĩ tục trong xã hội, thực chất đó là những quy tắc lễ nghĩa của đạo nho. Vua Lê
Huyền Tông đã ra một đạo chỉ trong đó có một điều đã tóm tắt tất cả tinh thần của
đạo chỉ: “làm người phải lấy tấm gương, ngũ thường làm đường lối mà theo” .Bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status