Tiểu luận cao học Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở việt nam hiện nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 38

A- Mở đầu
I. Tính cấp thiết của vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở
Việt Nam hiện nay.
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khảng định : Xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Hiến pháp 1992 sửa đổi đã thể chế hoá nghị quyết Đại hội Đảng ghi
nhận tại điều 2 : “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân”. Như vậy lần đầu tiên trong một đạo luật cơ bản chính thức ghi nhận
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân. Trong lĩnh vực
nghiên cứu khoa học pháp lý vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý là
nghiên cứu nhà nước pháp quyền với những vấn đề lý luận và thực tiễn. Thực
tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức (lý luận). Tuy nhiên lý luận xác định
mục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thực
tiễn làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Triết học Mác Lênin đã
khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
II. Tình hình nghiên cứu.
- Ở nước ngoài : tư tưởng nhà nước pháp quyền đã có bề dày lịch sử
hình thành và phát triển. Nhiều học giả hiện đại tiếp tục nghiên cứu vấn đề
này.
- Ở trong nước : khoảng 10 năm trở lại đây có nhiều học giả nghiên cứu
vấn đề này (PGS-TS Lê Minh Tâm, GSTS Đào Trí, TS Nguyễn Văn Động...)
- Vấn đề nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là vấn đề còn nhiều tranh
luận, nhiều quan điểm khác nhau.

1


III. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu



B - NỘI DUNG
CHƯƠNG I .
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1. SỰ HÌNH THÀNH - PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN VÀ MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN.
1.1. Sự hình thành tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử.
- Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng đã có quan điểm tư tưởng về
pháp luật, pháp chế, sự tồn tại của nhà nước trên cơ sở pháp chế, pháp luật.
Trong thực tiễn, những tư tưởng này vẫn còn có những nhân tố có giá trị với
việc xây dựng nền tảng chính trị pháp lý của nhà nước pháp quyền ngày nay.
+ Platon (428 - 347 TCN).
Platon sớm nhận thấy vai trò pháp luật đối với nhà nước, ông viết : “tôi
nhìn thấy sự sụp đổ mau chóng của nhà nước nơi mà pháp luật không có hiệu
lực và nằm dưới quyền một ai đó. Còn ở đâu luật đứng trên nhà cầm quyền,
còn họ là nô lệ thì ở đó tôi nhìn thấy sự cứu thoát nhà nước và lợi ích mà chỉ
có Nhà nước mới ban phát cho nhà nước”.
+ Aristote (384 - 322 TCN).
. Là người có tư tưởng sơ khai về pháp luật quốc gia và pháp luật quốc
tế.
. Trình bày các thiết chế đang thịnh hành với sự phân biệt cơ quan nghị
luận, cơ quan chấp hành và cơ quan xét xử. Ông là người đặt nền móng cho tư
tưởng phân chia quyền lực nhà nước sau này.
+ Marctulli Ciceron (106 - 43 TCN).
Nêu lên quan điểm về pháp luật tự nhiên. Pháp luật tồn tại một cách tự
nhiên ở pháp luật các nước và trong các thời đại xuất phát từ bản chất tự
nhiên của con người. Pháp quyền sinh ra từ lý trí, tức là ở trên quyền lực.
3


4


1.2. MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
1.2.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền và những đặc trưng cơ bản
của nhà nước pháp quyền.
1.2.1.1.Khái niệm nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền không phải là vấn đề hoàn toàn mới lạ, mà là
một phạm trù có nguồn gốc lịch sử tư tưởng từ xa xưa. Sự ra đời và phát triển
của tư tưởng: “Nhà nước pháp quyền” gắn liền với sự ra đời và phát triển của
dân chủ, của tư tưởng loại trừ sự chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô
pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tối
cao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức, thực hiện quyền lực Nhà
nước. Đó là hai yếu tố không thể thiếu được khi nói đến Nhà nước pháp
quyền nói chung.
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Nhà nước tồn tại không thể thiếu pháp luật, ngược lại thiếu
Nhà nước, pháp luật trở nên vô nghĩa. Bởi vì, pháp luật do Nhà nước ban
hành và đảm bảo thực hiện. Nhà nước cần đến pháp luật vì thông qua pháp
luật, dựa vào pháp luật, nhà nước mới quản lý được đời sống xã hội. Dựa trên
pháp luật và các công cụ khác, Nhà nước thiết lập một trật tự xã hội. Tuy vậy,
lịch sử cho thấy không phải khi nào có Nhà nước, có pháp luật là có ngay Nhà
nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền không phải là kiểu nhà nước xét theo
học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế xã hội. Nhà nước pháp quyền ra
đời ở một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội.
Nhà nước pháp quyền từ quan điểm, tư tưởng đã dần trở thành thực tế
lịch sử.
Trong khoa học pháp lý bàn về khái niệm Nhà nước pháp quyền vẫn còn

của mình trong khuôn khổ pháp luật. Phải có các cơ chế khác nhau để kiểm
tra tính hợp pháp và hợp hiến của pháp luật cũng như các hành vi của bộ máy
hành chính...đặc điểm của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải tạo ra cho
công dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc trên
6


những điều được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp
quyền là một chế độ mà ở đó Hiến pháp thống trị, nhưng phải là một Hiến
pháp được xây dựng trên sự tự do và quyền công dân được bảo đảm thực
hiện.
Trong cuốn tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của
Đảng có định nghĩa: Nhà nước pháp quyền mà chúng ta quan niệm không
phải là một kiểu nhà nước, trong lịch sử chỉ có bốn kiểu nhà nước: chủ nô,
phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền nói một cách khái
quát là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ
chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội. Nhà nước
pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật. Đương nhiên, bao giờ
pháp luật cũng mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm
quyền
Như vậy, lý luận về nhà nước pháp quyền là hệ thống các quan điểm, tư
tưởng rất phức tạp, phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cận
nhà nước pháp quyền dưới giác độ tư tưởng, lý luận, bàn về các quan điểm,
quan niệm về nhà nước pháp quyền. Lý luận về Nhà nước pháp quyền và Nhà
nước pháp quyền XHCN đang còn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong
chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 04.
Khái niệm Nhà nước pháp quyền có nhiều cách tiếp cận khác nhau,
nhưng chung quy lại Nhà nước pháp quyền là khái niệm bao hàm những nội
dung rất phong phú, chứa đựng những đặc trưng, những mặt cơ bản, ghi nhận
một trạng thái phát triển, một trình độ phát triển của Nhà nước và tiến bộ xã

V.I.Lê-nin làm rõ trong việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tính
chuyên chính và tính dân chủ của nhà nước.
V.I.Lê-nin cho rằng, nếu tính giai cấp là bản chất của mọi nhà nước, thì
dân chủ hay chuyên chính cũng chỉ là hai mặt của bản chất đó mà thôi. “Bất
cứ một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sự
khác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với
kẻ đi bóc lột, ở chỗ có dùng bạo lực đối với giai cấp những người lao động và
những người bị bóc lột không”. Đối với V.I.Lê-nin: “Chuyên chính cách
8


mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành được
và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản...”.
Chuyên chính vô sản không hề đối lập với dân chủ, mà là phần bổ
sung, là hình thức thể hiện của dân chủ. “Chuyên chính vô sản, nghĩa là việc
tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để
trấn áp bọn áp bức, thì không thể giản đơn đóng khung trong việc mở rộng
chế độ dân chủ được. Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho
nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu - chuyên chính vô sản còn thực
hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột,
bọn tư bản”.
Như vậy, sự phát triển của V.I.Lê-nin đối với quan điểm của C.Mác và
Ph.Ăng-ghen về nhà nước, điểm quan trọng nhất chính là ở chỗ, đặc tính phổ
biến của mọi nhà nước đó là giai cấp. Như thế, biểu hiện về mặt lịch sử trong
suốt quá trình phát triển của xã hội loài người là mối quan hệ biện chứng của
hai mặt chuyên chính và dân chủ. Rõ ràng, trên phương diện này, nhà nước là
một cách thức tổ chức đời sống xã hội, một giai đoạn trong tiến trình phát
triển của xã hội, là một vòng khâu của sự phát triển. Đây chính là quan niệm
duy vật và biện chứng có tính nguyên tắc trong việc lý giải đời sống xã hội
nói chung, vấn đề nhà nước nói riêng và gắn liền với những cố gắng to lớn

nhìn nhận pháp luật trong chiều sâu văn hóa của nó.
Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến
pháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi và
ban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1959. Trong tư duy Hồ Chí Minh,
một khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp luật, nhất là đạo luật "gốc"
- Hiến pháp, cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các
quan hệ xã hội đã phát sinh và định hình.
Ngoài hai bản Hiến pháp, từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh còn chỉ
đạo soạn thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật.
Khối lượng văn bản luật đó luôn thể hiện rõ việc đề cao tính nhân đạo và nhân
10


văn, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của nhà nước mà nhân dân là chủ và do
nhân dân làm chủ.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ; mọi
công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật
cả về quyền lợi và nghĩa vụ; ai vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm khắc,
cho dù người đó ở vị trí nào trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà
nước. Theo Người, hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi người đều
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; pháp chế chỉ bảo đảm khi các quy phạm
pháp luật được thực thi trong các quan hệ xã hội; mọi hành vi vi phạm pháp
luật phải bị xử lý. Như vậy, trong thực thi luật pháp, việc thưởng phạt phải
nghiêm minh. Vì nếu thưởng phạt không nghiêm minh thì người cúc cung tận
tụy lâu ngày cũng thấy chán nản, còn người hư hỏng, vi phạm pháp luật, kỷ
luật sẽ ngày càng lún sâu vào tội lỗi, làm thiệt hại cho nhân dân. Trong một
nước, thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến
mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công.
Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người mà là

Nhà nước pháp quyền tư sản
Trên cơ sở các tiêu chí chung về nhà nước pháp quyền, chúng ta có thể
nhận thấy tương đối rõ ràng sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa với Nhà nước pháp quyền tư sản.
1 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư
sản đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy
nhà nước do pháp luật quy định. Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về
tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy của hai nhà nước đó có nhiều điểm
khác nhau rất cơ bản. Rõ nhất là, sự khác nhau trong các quy phạm của hiến
pháp và pháp luật về tổ chức, cơ cấu nhân sự và việc xây dựng, vận hành của
bộ máy quyền lực như: Quốc hội và Nghị viện; Tổng thống và Chủ tịch nước,
Thủ tướng Chính phủ, Tòa án, Tòa án Hiến pháp, v.v.. Pháp luật trong Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân, do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính
phủ...) và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình là
chủ thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của Quốc hội, Chính
phủ hoặc tổ chức ra Quốc hội và Chính phủ nhiệm kỳ mới. Trong khi đó,
Hiến pháp và pháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng

14


thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặc
giải tán Chính phủ...
2 - Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công
dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, vì pháp luật xã hội chủ
nghĩa thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Trong Nhà nước
pháp quyền tư sản, nhà nước và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao của
pháp luật, nhưng pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, không
thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí,

chủ nghĩa nói riêng, còn có một số đặc điểm sau:
1 - Về quá trình hình thành và phát triển, Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam được hình thành và phát triển trên cơ sở đánh đổ chế độ
phong kiến, thực dân, không kinh qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư
bản. Đây là đặc điểm lịch sử rất quan trọng cho chúng ta thấy rõ điểm xuất
phát của quá trình xây dựng nhà nước cùng với những khó khăn, yếu kém của
hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc xã hội. Qua mấy chục năm phấn đấu,
xây dựng và đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động, đến Hội nghị đại
biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), lần đầu tiên trong văn bản
chính thức của Đảng, chúng ta mới xác định việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
2 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là đặc điểm rất quan trọng mà nhà
nước pháp quyền tư sản không thể có được. Thực chất đặc điểm này của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm bảo đảm tính giai cấp, tính
nhân dân của Nhà nước ta. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và
do nhân dân định đoạt, nhân dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng
và vận hành của bộ máy quyền lực nhà nước nhằm đáp ứng ngày càng cao lợi
ích của nhân dân và của toàn bộ dân tộc. Đây còn là sự thể hiện về tính ưu
việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ khác.

16


3 - Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan chức
năng của nhà nước để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Đây là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước rất mới mẻ,
chúng ta phải lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm nghiệm. Về nguyên tắc, chúng ta
không thừa nhận học thuyết "tam quyền phân lập" vì nó máy móc, khô cứng

động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Một trong số những nội dung cơ bản
nhất của nguyên tắc tập trung dân chủ là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới
phục tùng cấp trên. Tập trung dân chủ được thể hiện trong quá trình tổ chức
và xây dựng bộ máy quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, khi áp dụng nguyên tắc
này cần cân nhắc, xem xét các điều kiện cần và đủ để phát huy tác dụng, hiệu
quả tích cực của nguyên tắc này; đặc biệt phải lưu ý đến quyền hạn và trách
nhiệm cá nhân trong việc thực hiện công vụ của bộ máy công quyền hiện nay.
5 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, công dân phải làm tròn
nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Mối quan hệ qua lại giữa Nhà
nước với công dân, giữa dân chủ với kỷ cương trong Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam phải do pháp luật quy định và điều chỉnh. Đây là một
đặc điểm quan trọng, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng nhà nước
pháp quyền hiện nay và phải được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
6 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội
chủ yếu bằng pháp luật, không ngừng tăng cường và đổi mới công tác lập
pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời, thường xuyên quan tâm đến việc
tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân.
7 - Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Đây là đặc điểm nổi bật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được Hiến pháp ghi nhận và nhân dân Việt Nam đồng tình ủng hộ. Đảng lãnh
đạo Nhà nước thông qua cương lĩnh, đường lối, chính sách được thể chế bằng
pháp luật. Đảng không làm thay Nhà nước và phải hoạt động trong khuôn khổ
của Hiến pháp và pháp luật. Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh
18


đạo của mình nhằm tạo điều kiện cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu
quả, đặc biệt trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã

đang đổi mới theo xu hướng dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện
đại hoá.
Đảm bảo và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
b. Các kết quả lớn cụ thể.
Các kết quả lớn cụ thể đạt được của quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam trong thời gian qua gồm:
Đổi mới và nâng cao một bước chất lượng hoạt động của Quốc hội
(các kỳ họp Quốc hội, chất lượng và hoạt động của đại biểu Quốc hội, vị thế
của Quốc hội trong bộ máy nhà nước và trong đòi sống xã hội). Quốc hội
đang thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có khả năng thực hiện
tốt nhất quyền lập pháp, quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất
nước và quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà
nước.
Củng cố, kiến toàn hội đồng nhân dân các cấp làm đúng chức năng, nhiệm
vụ theo luật định.
Cải cách một bước nền hành chính nhà nước, trước hết đã tập trung cải
cách thủ tục hành chính, từng bước cải cách thể chế hành chính trên các lĩnh
vực phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, trong điều kiện hội nhập quốc tế; xây dựng một hệ thống hành chính
thông suốt, rõ về chức năng, nhiệm vụ, tinh giản gọn nhẹ (đổi mới chức năng,
nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, uỷ ban nhân dân các
cấp).
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực hoàn
thành nhiệm vụ được giao. Việc quản lý, sử dụng, được đổi mới một bước
theo các quy định của pháp luật về cán bộ công chức. Coi trọng gắn kết hợp
chế độ trách nhiệm, khen thưỏng và kỷ luật. Cải cách một bước chế độ tiền
lương để nâng cao đời sống. Quan tâm đầu tư cho cán bộ cấp cơ sở.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp đảm bảo dân chủ, khách

20


21


chưa được xác định rõ; hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
chưa cao.
Hoạt động lập pháp đang đứng trước yêu cầu to lớn về hoàn thiện hệ
thống pháp luật cũng như yêu cầu mới mẻ, phức tạp của việc điều chỉnh pháp
luật nên đã bộc lộ một số bất cập trong thiết kế hoàn thiện tổng thể hệ thống
pháp luật và trong xác định thứ tự ưu tiên cần thiết của từng văn bản pháp luật
cũng như nâng cao tính khả thi và tính hiệu lực của văn bản pháp luật.
Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước còn bộc lộ không ít những
nhược điểm, nhiều mặt còn chưa theo kịp và đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
đổi mới. Tổ chức hành chính chưa thông suốt, còn hạn chế trong việc xử lý
mối quan hệ ngang, thậm chí còn hiện tượng cục bộ, bản vị. Chế độ phân cấp
trách nhiệm còn thiếu rành mạch. Thẩm quyền cá nhân chưa được quy định
rõ. Phong cách làm việc trước dân của cán bộ, công chức còn là vấn đề bức
xúc.
Về lĩnh vực tư pháp, tổ chức và hoạt động còn nhiều bất cập, sai sót.
Hệ thống pháp luật còn cần tiếp tục đổi mới mạnh và sâu sắc hơn nữa. Nhiệm
vụ cấp bách hàng đầu trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền đang đặt ra
là quyết tâm đổi mới hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật và
thực thi pháp luật nghiêm minh.
3.Quan điểm cơ bản và nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân
3.1. Quan điểm chỉ đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không phải là xây dựng một
Nhà nước mới khác về bản chất của Nhà nước XHCN mà Đảng và nhân dân
ta đã tiến hành hơn mấy chục năm qua. Xây dựng Nhà nước pháp quyền

yêu cầu cấp bách đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Nói cách khác bất cứ nội dung nào của cải cách tổ chức, hoạt động của nhà
nước đều phải thấm nhuần yêu cầu và định hướng xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN.
23


3.1.6. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là một quá trình từ
thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện, phải tiến hành
từng bước vững chắc, phải dựa trên cơ sở thường xuyên tổng kết thực tiễn,
kịp thời điều chỉnh bổ sung. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN gắn liền
với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển
nền dân chủ xã hội XHCN và tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị. Phải chuẩn
bị các điều kiện cần thiết và phải đảm bảo ổn định chính trị, ổn định kinh tếxã hội, ngăn chặn được âm mưu và hành động của các thế lực thù địch và bọn
cơ hội.
3.2. Nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.
3.2.1. Tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật và
thực hiện nghiêm minh pháp luật, đáp ứng yêu cầu của với nhiệm vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, hợp tác hội nhập quốc tế và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.
Hướng đến hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý
cho hoạt động của toàn xã hội, nhất là cho tổ chức, hoạt động của nhà nước và
cán bộ, công chức nhà nước, đồng thời có chuẩn mực rõ ràng để đánh giá
đúng sai, tăng cường pháp chế trong đời sống nhà nước và xã hội.
Một mặt coi trọng hoàn thiện Hiến pháp, các luật điều chỉnh tất cả các lĩnh
vực hoạt động của nhà nước và xã hội, mặt khác phải xác định được thứ tự ưu
tiên cần thiết và nâng cao tính khả thi, tính hiệu lực và hiệu quả của pháp luật
trong cuộc sống. Đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật.
Pháp luật về tổ chức hoạt động của nhà nước phải đi liền với pháp luật
về phát triển kinh tế, pháp luật về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, pháp

Đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng một nền tư pháp trong sạch, công
tâm, khách quan, độc lập trong hoạt động nghiệp vụ đồng thời chịu sự kliểm
tra, giám sát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền. Cải cách tổ chức, nâng cao
chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Viện kiểm sát thực hiện tốt
chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Sắp xếp lại hệ thống toà án
nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của tòa án các cấp. Tổ chức lại cơ
quan điều tra theo hướng gọn đầu mối. Thành lập cảnh sát tư pháp.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status