MÔ HÌNH LÀNG NGHỀ GẮN VỚI DU LỊCH
VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(Kèm theo công văn số :
/SNN-PTNT ngày
tháng 01 năm 2016)
1. Tên dự án: Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch và xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Cẩm Nhượng huyện Cẩm Xuyên, giai đoạn
2016-2017.
2. Sự cần thiết
Trong những năm gần đây, phát triển làng nghề đang được nhiều địa
phương quan tâm. Đây là một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị - xã hội, bảo tồn các giá
trị văn hóa của mỗi địa phương. Các làng nghề phát triển có khả năng kết hợp
với các ngành kinh tế, trong đó có du lịch và xây dựng nông thôn mới nhằm thu
hút nhiều lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng GDP của nông nghiệp,
tăng tỷ trọng GDP của công nghiệp và dịch vụ. Mặt khác, đây là ngành dựa vào
lợi thế so sánh của từng địa phương, dựa vào tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn tự
nhiên, bảo tồn văn hóa bản địa, đặc biệt có khả năng nhanh chóng cải thiện cuộc
sống của cộng đồng địa phương góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế, làng nghề ở Hà Tĩnh nói chung và nghề truyền
thống Cẩm Nhượng nói riêng với các sản phẩm là các mặt hàng chế biến thủy
sản,... đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, tạo chỗ đứng trên thị
trường trong nước.
Phát triển làng nghề kết hợp với du lịch và xây dựng nông thôn mới chính
là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính
sách quảng bá và phát triển. Những lợi ích to lớn của việc phát triển làng nghề
gắn với du lịch không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế,
lớn, bền vững hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn các giá trị văn
hóa của Cẩm Nhượng được coi là nhiệm vụ cấp thiết, nhất là trong giai đoạn
Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng đang từng bước hội nhập toàn diện
với khu vực và thế giới.
3. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Nghị định 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/7/2006 về
phát triển ngành nghề nông thôn;
- Căn cứ Nghị định số 45/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/5/2012 về
Khuyến công;
- Căn cứ Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ
tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông
thôn;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010-2020.
- Căn cứ Quyết định số 55/2008/QĐ-BCT ngày 30/12/2008 của Bộ trưởng
Bộ Công Thương ban hành Quy định nội dung, trình tự, thủ tục lập, thẩm định
phê duyệt quy hoạch phát triển lĩnh vực công nghiệp;
- Căn cứ Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về việc ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch các
sản phẩm chủ yếu; Thông tư số 01/2012/TT-BKHĐT ngày 29 tháng 02 năm
2012 Hướng dẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế- xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản
phẩm chủ yếu;
2
- Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính
hướng dẫn một số nội dung về ngân sách Nhà nước hỗ trợ ngành nghề nông thôn
- Nâng mức thu nhập các hộ hoạt động làng nghề, làng nghề truyền thống
gắn với phát triển du lịch từ 01 - 02 lần so với sản xuất thuần nông.
3
5. Phạm vi: Dự án tập trung ưu tiên đầu tư hỗ trợ tại làng nghề truyền
thống chế biến nước mắm xã Cẩm Nhượng huyện Cẩm Xuyên có tiềm năng
phát triển gắn với các điểm, tuyến du lịch trong tỉnh.
I. Thực trạng phát triển làng nghề gắn du lịch và xây dựng nông thôn
mới
1. Tình hình kinh tế - xã hội xã Cẩm Nhượng
Cẩm Nhượng là một xã vùng cửa biển, với diện tích tự nhiên 278,2 ha,
trong đó đất ở chiếm 45,48ha, đất sản xuất diêm nghiệp 10 ha, đất nuôi trồng
thủy sản chiếm 10,6 ha, đất quy hoạch làng nghề 5 ha, còn lại đất xây dựng các
công trình phúc lợi; như trường học, trạm y tế, các công trình văn hóa....
Là một xã có diện tích đất chật bẹp nhưng là nơi tập trung đông dân cư,
toàn xã có trên 2.700 hộ, với số nhân khẩu hơn 10 ngàn người, nghề nghiệp chủ
yếu của cư dân là sản xuất khai thác chế biến hải sản, chiếm tỷ lệ 70%, còn lại là
sản xuất muối, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại, Du lịch và buôn bán...
Toàn xã có 158 tàu, thuyền lớn nhỏ đánh bắt hải sản gần bờ, xa bờ, sản
lượng khai thác hải sản hàng năm đạt 3200-3500 tấn hải sản các loại, thu nhập
bình quân lao động đạt từ 3,5-4,0 triệu đồng/tháng.
1.1 Vị trí địa lý và phân bổ dân cư
- Vị trí địa lý: Xã Cẩm Nhượng nằm về phía đông nam huyện Cẩm
Xuyên-tỉnh Hà Tĩnh, phía đông giáp Cửa sông đổ ra biển có chiều dài 1,2 km;
Phía nam giáp sông gia hội, gần kề xã Cẩm Lĩnh, phía bắc biển đông với chiều
dài 2,65 km, phía tây giáp thị trấn khu du lịch Thiên Cầm, đây là điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển làng nghề gắn với du lịch cộng đồng.
- Phân bố dân cư: Mật độ dân cư sống tập trung, hơn 2.700 hộ được bố trí
năm 1945, Nhượng Bạn hình thành ghề nghiệp gồm: Vạn Xăm, Vạn Rút, Vạn
Te, Vạn Nốc Câu, mỗi vạn có các xóm sinh hoạt thành một vùng. Sau năm 1945
hình thành 18 xóm, đến năm 1956 Nhượng Bạn đổi tên xã Cẩm Nhượng, được
gắn tên xóm đều là tên các anh hùng liệt sỹ, đến nay do biến đổi đất đai và quy
hoạch nông thôn mới còn lại 11 thôn, nhưng tính chất nghề nghiệp không thay
đổi lớn.
Làng nghề đánh bắt và chế biến hải sản là những sản phẩm hải sản đánh
bắt trên biển, đã được gắn với tên đất, tên làng từ xa xưa Nhượng Bạn, từ những
nghề truyền thống như: chạy cá tươi, cá nướng, cá mắm (muối), cá phơi khô,
mắm chập, mắm bôi , mắm ruốc... Đồng thời hình thành riêng các phường, hội
như: phường cá nướng, phường trẩy bằng thuyền buôn để bán nước mắm.
Nghề chế biến nước mắm nổi tiếng Nhượng Bạn đã có từ bao đời nay và
đã lưu truyền cho đến tận hôm nay, Nước mắm Cẩm Nhượng đã có thương hiệu
và đạt được tiêu chuẩn thị trường, nhờ có kinh nghiệm và phương pháp truyền
thống kinh nghiệm của ông cha truyền lại được duy trì và phát triển cho đến
ngày nay.
2.2. Hiện trạng của làng nghề hiện nay
Các nghề trong làng nghề: Toàn xã có 934 hộ đánh bắt và chế biến hải
sản, trong đó có 5 kho cấp đông lạnh, có 65 hộ chế biến hải sản trong đó có 3
HTX và Tổ hợp tác sản xuất nước mắm tập trung 20 hộ, hàng năm tiêu thụ sản
phẩm như mực khô, tươi, cá khô, tươi, ruốc, nước mắm... có giá trị sản xuất
hàng năm đạt từ 65-75 tỷ đồng, sản lượng khai thác và chế biến từ 1.800- 2.200
tấn và doanh thu đạt từ 80-85 tỷ đồng.
5
2.3 ỏnh giỏ hin trng nụng thụn ca lng ngh
- H tng kinh t xó hi: Ton xó cú 1 trng trung hc, 1 trng tiu hc,
1 trng mm non v 1 trm y t ó c cụng nhõn t chun quc gia v c
phong tng Anh hựng lao ng trong thi k i mi .
- Xõy dng c s h tng: Xõy dng, nõng cp, m rng ng giao
thụng lng ngh, xõy dng kố bo v lng ngh, h thng cp thoỏt nc, ci to
6
cảnh quan môi trường, hệ thống điện chiếu sáng, cổng chào du lịch làng nghề,
nhà vệ sinh công cộng; sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý môi trường.
- Hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu; hỗ trợ trang thiết bị máy móc; xây
dựng mô hình trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ mới; xúc tiến thương
mại (hội chợ, đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, xây dựng phòng trưng bày, giới
thiệu sản phẩm); xây dựng bản đồ và tập gấp giới thiệu làng nghề gắn với điểm,
tuyến du lịch; đào tạo tập huấn...
2. Các giải pháp thực hiện
a)Về quy hoạch
- Xây dựng quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có nội
dung quy hoạch làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với các điểm, tuyến du
lịch, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, theo hướng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển làng nghề một cách bền vững, trong đó chú trọng công tác
bảo vệ môi trường;
- Tiếp tục triển khai và rà soát lại quy hoạch, thực hiện việc di dời các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường đến khu, cụm công nghiệp, cụm làng nghề đã được
quy hoạch.
- Bố trí các cửa hàng, phòng trưng bày để giới thiệu sản phẩm tại các làng
nghề.
b) Về đào tạo nguồn nhân lực, lao động
Mở các lớp truyền nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956/QĐTTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án “Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn đến năm 2020”. Đào tạo, tập huấn kỹ năng làm du lịch, kỹ năng
quản lý kinh doanh, thiết kế mẫu mã, bao bì sản phẩm, kỹ năng ngoại ngữ, giao
tiếp, kỹ năng đón tiếp và phục vụ khách du lịch... cho các hộ làng nghề và cơ sở
sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức hội chợ, lễ hội làng nghề truyền thống với nhiều hoạt động như
triễn lãm, biểu diễn nghề, thi thiết kế sản phẩm, làm quà lưu niệm, thiết kế bao
bì...;
- Thực hiện việc kết nối giữa làng nghề và lữ hành, giới thiệu sản phẩm
mới cho việc xây dựng các tour tham quan du lịch làng nghề;
- Phát triển làng nghề truyền thống gắn với các hình thức tổ chức sản xuất
(HTX, THT) tại xã, nhằm tạo ra sự liên kết sản xuất giữa làng nghề với các
doanh nghiệp, các tổ chức góp phần giải quyết tốt đầu ra sản phẩm cho làng
nghề.
3. Nguồn vốn đầu tư
ĐVT: 1000 đồng
TT
Hạng mục
đầu tư
ĐVT
1
Sưu tầm,
Tài
lưu giữ
liệu
thông tin,
biên tập lịch
sử làng nghề
2
150
3.750
3.750
Ghi
chú
8
nghề và đào
tạo nâng
cao tay nghề
phục vụ du
lịch
3
Thiết kế, cải Mẫu
tiến các mẫu
mẫu mã sản
phẩm mới,
phù hợp với
yêu cầu của
khách du
lịch.
20
10.000
5
Hỗ trợ cho
các cơ sở
tham quan
hội chợ,
triển lãm để
giới thiệu,
quảng bá,
giới thiệu
sản phẩm
Lượt
2
60.000 120.000 100.000
20.000
6
Xây dựng
trang Web,
tập gấp giới
thiệu làng
nghề
2.600.000
2.200.000
400.000
9
cấp các trục
đường giao
thông
9
Trồng hàng Cây
rào, chỉnh
trang vườn
tược, làm
bảng chỉ dẫn
vào làng
nghề.
10
Hỗ trợ các
hộ làm
nghề mở
rộng khu
sản xuất,
chỉnh trang
dựng Km
nước
1,2km
13
Hộ trợ mua Cái
thiết
bị
máy đóng
chai
Tổng cộng
600
150.000 750.000
5
5
250 150.000 150.000
750.000
50.000 250.000 250.000
150
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành có liên quan, tham mưu UBND tỉnh
điều chỉnh bổ sung cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích để phát triển làng
nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch và xây dựng nông thôn mới;
- Xem xét, tổng hợp kế hoạch đầu tư hàng năm của địa phương, gửi Sở Kế
hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tham mưu phân bổ vốn đầu tư cho địa phương để
triển khai các nội dung của Dự án;
- Định kỳ tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh tiến độ thực hiện; đề xuất và tham
mưu UBND tỉnh tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Dự án;
- Định hướng quy hoạch phát triển các vùng nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu
của làng nghề.
2. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch gắn với việc giới thiệu làng
nghề, sản phẩm làng nghề, đầu tư phát triển các tuyến, điểm du lịch hiện có;
phối hợp với các ngành, địa phương xây dựng tuyến, điểm du lịch mới, trong đó,
gắn kết, lấy làng nghề là sản phẩm du lịch; xây dựng cơ chế quản lý thương hiệu
các sản phẩm làng nghề Cẩm Nhượng; tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cho
người dân tại làng nghề về phát triển du lịch dựa vào cộng đồng; tăng cường
công tác quảng bá, xúc tiến du lịch làng nghề và các sản phẩm lưu niệm từ làng
nghề, thu hút khách du lịch.
3. Sở Công thương
Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh
phân bổ vốn vay tín dụng ưu đãi hàng năm để xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề;
lồng ghép các nguồn vốn khuyến công để tổ chức thực hiện Dự án.
4. Sở Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành có liên
quan nghiên cứu đề xuất cơ chế thu hút các dự án đầu tư phát triển làng nghề
11
gắn với du lịch và xây dựng nông thôn mới; cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ để