HĐND TỈNH HÀ TĨNH
KHOÁ XVI, KỲ HỌP THỨ 3
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Tĩnh, ngày 19 tháng 7 năm 2012
ĐỀ ÁN
QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG
GIAI ĐOẠN 2012-2015, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 32/2012/NQ-HĐND
ngày 19/7/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hà Tĩnh có 362.740,9 ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm 60,2% diện tích
tự nhiên của tỉnh, trong đó có 173.281,0 ha quy hoạch sản xuất, đây là tiềm
năng, lợi thế to lớn cần được phát huy, khai thác có hiệu quả. Trong những năm
qua, mặc dầu trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư của Nhà
nước còn hạn chế, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, nhưng lâm nghiệp Hà Tĩnh
vẫn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Diện tích rừng tăng nhanh qua các
năm, độ che phủ rừng năm 2011 đạt 53,23%, lợi ích kinh tế từ rừng được khẳng
định, giá trị sản xuất và xuất khẩu tăng nhanh. Công tác bảo vệ, phát triển rừng
ngày càng được xã hội hóa, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần
xóa đói, giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Rừng đã và đang giữ vai trò
to lớn cho phòng hộ, chống xói mòn và bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh.
Tuy vậy công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vẫn bộc lộ nhiều vấn
đề hạn chế; rừng vẫn tiếp tục bị khai thác trái phép và diễn biến phức tạp, chất
lượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm; công tác giao, khoán rừng, đất rừng
còn nhiều bất cập; cơ sở hạ tầng kỹ thuật của lâm nghiệp vẫn còn thấp kém; hiệu
quả sản xuất lâm nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh;
việc sắp xếp tổ chức sản xuất và quản lý bảo vệ rừng còn chưa hợp lý...
Với tình hình thực trạng hiện nay, đòi hỏi sự quan tâm của cấp ủy chính
quyền các cấp, các ngành, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo ra
- Nghị định 05/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ
về quỹ bảo vệ và phát triển rừng;
- Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLB-BNN-BNV ngày 15/5/2008 của Bộ
NN&PTNT và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
và nhiệm vụ quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp xã về nông nghiệp và
phát triển nông thôn;
- Quyết định số 3209/QĐ-UBND, ngày 29/12/2006 của UBND tỉnh Hà
Tĩnh về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng ở Hà Tĩnh;
- Quyết định số 176/QĐ-UBND, ngày 16/01/2009 của UBND tỉnh Hà
Tĩnh về việc phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh giai
đoạn 2008 - 2020;
- Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban chấp hành Ðảng bộ
tỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009 - 2015 và
định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của UBND tỉnh về việc
ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU của Tỉnh ủy;
- Quyết định số 57/QD-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ,
phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020;
2
- Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 17/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy
mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước;
- Quyết định số 07/2012/QD-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính
phủ, ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;
- Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 của Bộ
NN&PTNT về quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản;
- Nghị quyết số 26/2011/NQ-HĐND ngày 16/12/2011 của Hội đồng nhân
dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp, Ban quản lý dự án và tổ chức hội.
3
Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, Hà Tĩnh là tỉnh đầu tiên của
cả nước được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1404/QĐ-TTg
ngày 30/10/2006. Đến nay sau 5 năm thực hiện, quy hoạch đã được đánh giá có
tầm chiến lược, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, phục vụ tốt cho
việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh. Quy hoạch 3 loại rừng đã xác
lập được các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ cảnh quan
môi trường, chắn sóng chắn cát ven biển và phòng hộ chắn sóng ven sông; rừng
được giao cho các Ban quản lý rừng và các tổ chức quản lý bảo vệ và phát triển
góp phần to lớn bảo vệ môi tường sinh thái, hạn chế thiên tai. Rừng sản xuất
tăng nhanh đã tạo thành các khu rừng liền vùng, liền khoảnh; các tổ chức hộ gia
đình đã tích cực thuê và nhận đất nhận rừng để đầu tư phát triển sản xuất.
4
Trên cơ sở quy hoạch 3 loại rừng, đã xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát
triển rừng cấp tỉnh, cấp huyện giai đoạn 2008 – 2020 được Ủy ban nhân dân tỉnh
phê duyệt. Các quy hoạch được phê duyệt là cơ sở pháp lý và là cẩm nang phục
vụ cho các cấp trong quản lý, điều hành, chỉ đạo về bảo vệ, phát triển rừng của
Tỉnh trong những năm qua. Quá trình thực hiện quy hoạch đã góp phần quan
trọng trong việc khai thác tiềm năng lợi thế về rừng, đất rừng cho mục tiêu tăng
trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, hạn chế thiên tai, giải quyết việc làm, xóa đói
giảm nghèo ở nông thôn, miền núi, cung cấp lâm sản đáp ứng nhu cầu dân sinh
và xuất khẩu…vv.
3. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý được xác lập từ tỉnh đến huyện,
xã và chủ rừng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ phát triển rừng
trong những năm qua
Ở cấp tỉnh Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan tham mưu cho UBND
tỉnh quản lý Nhà nước về Lâm nghiệp, tham mưu cho Giám đốc Sở có 2 chi cục
là Lâm nghiệp và Kiểm lâm với đầy đủ phòng ban chuyên môn, Chi cục Kiểm
lâm còn có một đội kiểm lâm cơ động và PCCCR hoạt động kiểm tra, kiểm soát
lâm sản và PCCCR. Ở cấp huyện có Hạt Kiểm lâm và Phòng Nông
nghiệp&PTNT tham mưu cho UBND huyện quản lý Nhà nước về lâm nghiệp
PCCCR với học sinh của 1.618 trường; tổ chức ký 286.459 bản cam kết bảo vệ
rừng ở 2.618 thôn; tổ chức diễn tập 101 cuộc PCCCR (tỉnh 5 cuộc; huyện, xã 96
cuộc); 135 cuộc tập huấn nghiệp vụ cho các đối tượng là lãnh đạo, cán bộ các
huyện, xã và lực lượng bảo vệ rừng, với trên 10.000 người tham gia; xây dựng,
tu sữa 1.200 biển tường, biển báo, 5.000 pa nô, áp phích, in ấn 40.000 tờ rơi, tờ
bướm các loại.
Ngoài ra, trong những ngày nắng nóng, khả năng cháy rừng cao đã xây
dựng các bản tin cảnh báo nguy cơ cháy rừng để phát trên truyền hình tỉnh,
huyện và truyền thanh các xã nhằm cảnh báo cho chủ rừng, chính quyền địa
phương, các hộ gia đình có biện pháp phòng ngừa, chủ động phương án huy
động lực lượng, phương tiện ứng cứu khi xảy ra cháy rừng.
Thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhận thức
về bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư đã được nâng lên rõ rệt,
góp phần xã hội hóa công tác lâm nghiệp.
5. Việc xử lý các vụ việc vi phạm đảm bảo kịp thời, đúng pháp luật,
không để xảy ra khiếu kiện
Từ năm 2006 đến tháng 8 năm 2011 các cấp, các ngành đã phát hiện xử lý
4.431 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó khởi tố hình
sự 13 vụ với 17 bị can, tịch thu trên 7.649 m
3
gỗ các loại và 8.071 kg động vật
rừng, 145 phương tiện các loại. Việc xử lý các hành vi vi phạm được thực hiện
đảm bảo kịp thời, đúng người, đúng hành vi, đúng pháp luật, không để xảy ra sai
sót dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện. Nhiều đối tượng sau khi bị xử lý đã từ bỏ
hành vi xâm hại rừng, chuyển sang việc làm mới, tham gia bảo vệ rừng, qua đây
có tác dụng giáo dục, răn đe các đối tượng khác.
6. Cơ bản diện tích rừng và đất rừng đã có chủ quản lý, đã được cấp
giấy chứng nhận QSDD và đóng mốc ranh giới quản lý
Thực hiện chủ trương giao đất gắn với giao rừng, đến nay toàn tỉnh đã
giao 312.153 ha/362.740,9 ha rừng và đất lâm nghiệp, đạt 86%, trong đó 9 ban
trồng nâng cấp rừng phòng hộ bằng các loài cây bản địa ở Ban quản lý KBTN
Kẻ Gỗ (770 ha) cho thấy việc trồng rừng, trồng nâng cấp rừng bằng các loài cây
bản địa đã làm thay đổi cấu trúc tầng tán, tăng khả năng phòng hộ bền vững của
rừng và đây là hướng đi đúng cần thực hiện trong thời gian tới.
Trong Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng đã áp dụng việc luỗng phát dây
leo, bụi rậm, kết hợp trồng bổ sung cây bản địa, điều tiết mật độ cây tái sinh…
vv, góp phần nâng cao chất lượng rừng, đây là một giải pháp lâm sinh đã mang
lại hiệu quả cao trong nâng cao chất lượng rừng và duy trì đa dạng sinh học.
Công tác giống đã được quan tâm tích cực, đã lựa chọn được tập đoàn
giống đảm bảo chất lượng bao gồm cả cây bản địa và cây nhập nội cho trồng,
khoanh nuôi, làm giàu rừng và thực hiện quản lý giống theo chuỗi hành trình,
cấp chứng chỉ lô giống theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn. Một số loài giống năng suất cao đã được trồng và nhân rộng ở Hà Tĩnh
như Keo lai BV10, BV 16, Bạch đàn Urô… gần đây đã đưa một số loài giống
mới vào trồng mô hình như Keo lai BV33, Keo chịu hạn, Tràm bán ngập
nước…
II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM
1. Rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm cả về diện tích, chất lượng và đa
dạng sinh học
Năm 2006 toàn tỉnh có 214.958 ha rừng tự nhiên, chiếm 71,74 % diện tích
có rừng. Từ đó đến nay nhờ áp dụng các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái
sinh, làm giàu rừng nên đã có trên 7.800 ha rừng tự nhiên mới được hình thành.
Tuy nhiên, trong thời gian qua do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nên có một
số diện tích rừng tự nhiên phải chuyển đổi mục đích sử dụng sang làm thủy điện,
thủy lợi, khu tái định cư, đường tuần tra biên giới… và chuyển rừng tự nhiên
nghèo sang trồng cao su. Đến hết năm 2010 toàn tỉnh còn 210.083 ha rừng tự
nhiên, giảm 4.875 ha so với năm 2006.
Trước đây trong rừng tự nhiên các loài gỗ quí như Lim, Sến, Dổi … đủ điều
kiện khai thác còn tương đối nhiều, nhưng hiện nay còn lại rất ít, chất lượng
rừng đã giảm sút đáng kể, diện tích rừng giàu còn lại ít và ở vùng cao, sâu,
được cho 13.999 hộ gia đình với 33.125 ha (bình quân 2,36 ha/hộ), chỉ chiếm
9,1% tổng diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp, diện tích giao cho các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh là chưa đáng kể.
Sau khi rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/CT-TTg đã phát
sinh bất cập về cơ cấu diện tích sử dụng rừng, đất rừng:
Các đơn vị sản xuất kinh doanh nhưng được giao quản lý nhiều rừng
phòng hộ (như ở Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp và dịch vụ Hương
Sơn trên 24.000 ha, Chúc A trên 9.000 ha). Diện tích rừng phòng hộ được giao
lớn không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thiếu sự đầu tư của Nhà nước,
doanh nghiệp phải lấy từ hiệu quả sản xuất kinh doanh để bảo vệ rừng tạo nên
gánh nặng cho DN, từ đó công tác bảo vệ rừng có phần hạn chế và làm giảm vai
trò, hiệu quả SXKD.
Các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng được giao quản lý đất rừng sản
xuất lớn (như Ban QL khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ 5.403 ha, Ban quản lý
8
rừng Phòng hộ Ngàn Sâu 7.616 ha, Nam Hà Tĩnh 11.625 ha,...). Diện tích rừng
sản xuất được giao lớn, không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lại thiếu nguồn
lực đầu tư nên chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của rừng, đất rừng và có
phần làm giảm vai trò quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dụng.
Trong khi các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu được giao,
thuê đất, rừng để sản xuất, kinh doanh, nhưng việc tổ chức giao rừng cho hộ gia
đình cá nhân quá chậm, hiện nay vẫn còn khoảng 50.450 ha rừng và đất lâm
nghiệp đang do UBND các xã quản lý, chiếm 14 % tổng diện tích đất lâm
nghiệp (trong đó có 39.746 ha quy hoạch sản xuất), tập trung chủ yếu ở huyện
Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh và Vũ Quang.
Việc khoán rừng và đất lâm nghiệp ở một số đơn vị chủ rừng còn chưa
thực hiện đúng quy định, công tác quản lý hồ sơ còn thiếu chặt chẽ; quyền,
nghĩa vụ và chính sách hưởng lợi giữa bên giao khoán và bên nhận khoán chưa
được xác lập rõ ràng, nên hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng chưa cao.
4. Việc điều tra, kiểm kê, thống kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng
9
Kỳ Anh (năm 2009), tại xã Sơn Hồng, huyện hương Sơn năm 2011, năm
2012...nhưng chủ rừng, chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã không biết;
việc buôn bán, chế biến gỗ không rõ nguồn gốc xảy ra tại một số nơi như: xã
Hương Lâm huyện Hương Khê, Thái Yên ở Đức Thọ,... Hầu hết các vụ việc nêu
trên khi các cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện, các phương tiện thông tin đại
chúng đưa tin, khi đó chủ rừng và chính quyền địa phương các xã mới vào cuộc.
Nhiều nơi người dân xem việc khai thác gỗ trái phép như là một nghề làm ăn và
thậm chí tổ chức cả một số đông để thực hiện, nhưng chính quyền xã thiếu kiểm
soát và không có biện pháp chấn chỉnh. Bên cạnh đó, tình hình chống người thi
hành công vụ xảy ra nhiều và ngày càng nghiêm trọng. Hành vi chống đối của
lâm tặc ngày càng côn đồ và có tính chất nghiêm trọng hơn như tổ chức đông
người để bao vây cướp tang vật, tấn công, đe dọa tính mạng người làm công tác
bảo vệ rừng (chém lực lượng bảo vệ rừng, ném mìn đe dọa tính mạng gia đình
cán bộ như ở Khu BTTN Kẻ Gỗ, Vườn Quốc Gia Vũ Quang; phá hoại phương
tiện của các lực lượng bảo vệ rừng tại Sơn Lĩnh, Sơn Hồng,...).
Những năm gần đây, do sức ép về nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng,
nên nhân dân đã tự ý xâm hại, lấn chiếm rừng, đất rừng để phát triển kinh tế.
Toàn tỉnh đã xảy ra 180 vụ xâm hại, lấn chiếm rừng, đất rừng trái phép với diện
tích 87 ha để trồng rừng, trồng cây nguyên liệu làm thiệt hại đến tài nguyên rừng
(chủ yếu tại huyện Kỳ Anh). Song do chủ động nắm bắt tình hình, các cấp, các
ngành, chủ rừng đã phát hiện và xử lý kịp thời nên đến nay tình hình lấn chiếm
rừng, đất rừng cơ bản đã được chấn chỉnh.
6. Việc huy động nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư vào bảo
vệ, phát triển rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên vẫn còn nhiều hạn chế
Việc đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng chưa được các cấp chính quyền
quan tâm đúng mức theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, chủ yếu
đang dựa vào nguồn ngân sách Trung ương từ dự án 661 và huy động nguồn lực
trong dân đầu tư trồng rừng sản xuất. Ngân sách tỉnh đầu tư hàng năm quá ít,
ngân sách huyện, xã hầu như không có. Chưa có cơ chế thu hút các nguồn vốn
doanh nghiệp chưa thực sự trăn trở để đầu tư thâm canh, kinh doanh tổng hợp từ
rừng.
8. Hệ thống chế biến lâm sản phát triển thiếu quy hoạch, thiếu sự
kiểm soát của Nhà nước; công nghệ chế biến chậm đổi mới, sản phẩm thiếu
sức cạnh tranh, giá trị gia tăng chưa cao (đang chủ yếu bán sản phẩm thô,
nhất là nguyên liệu gỗ rừng trồng)
Hầu hết các cơ sở chế biến lâm sản được xây dựng tự phát không theo quy
hoạch, chưa gắn với nguồn nguyên liệu (Thống kê đến 15/8/2011, toàn tỉnh có
289 xưởng cưa xẻ hoạt động, trong đó số xưởng có đăng ký kinh doanh là 118
xưởng, số xưởng không có giấy phép ĐKKD là 171 xưởng, chiếm 59,2% tổng
số xưởng).
Một số ít cơ sở chế biến lớn như: Công ty liên doanh sản xuất dăm giấy
Việt Nhật, Công ty chế biến gỗ xuất khẩu Đại Phát, Công ty trồng rừng và sản
xuất nguyên liệu giấy Hanviha, Công ty Cổ phần Việt Hà, Công ty TNHH Xuân
Lâm, công ty TNHH Hoàng Anh…là xây dựng đúng quy hoạch, số còn lại chủ
yếu là các cơ sở nhỏ lẻ, phát triển tự phát, phân bố chủ yếu trong các khu dân
cư, không theo quy hoạch và không gắn với nguồn nguyên liệu, sản xuất không
ổn định; công nghệ thiết bị còn lạc hậu, sản phẩm thô, chưa có sức cạnh tranh,
giá trị lâm sản chưa cao.
Việc cấp phép các cơ sở chế biến lâm sản chưa thống nhất và thiếu phối
hợp giữa các cơ quan liên quan, chưa có sự tham gia của ngành lâm nghiệp đây
là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành; chưa căn cứ khả năng cung ứng
nguồn nguyên liệu đầu vào và nhu cầu thực tế của các địa phương để cấp phép.
Nguồn nguyên liệu đưa vào chế biến của các cơ sở sản xuất lớn hầu hết có
nguồn gốc, còn các cơ sở sản xuất nhỏ, đặc biệt là làng nghề truyền thống đang
sử dụng nhiều gỗ rừng tự nhiên trôi nổi trên thị trường, không rõ nguồn gốc; thủ
tục về kiểm soát nguồn nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra thiếu chặt chẽ
nên việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng khó thực hiện.
11
III. NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
thậm chí làm ngơ, bao che cho hành vi vi phạm. Một số cán bộ kiểm lâm và bảo
vệ rừng của chủ rừng thiếu tinh thần trách nhiệm, có biểu hiện thông đồng, tiếp
tay cho các hành vi xâm hại rừng trái phép.
- Việc điều hành, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của các cấp, của các cơ quan
chuyên môn còn chưa thường xuyên, thiếu kế hoạch cụ thể và chưa quyết liệt,
nhất là việc kiểm tra vận chuyển, chế biến lâm sản, kiểm tra việc chấp hành
nhiệm vụ của cấp dưới. Công tác báo cáo, nắm bắt thông tin, tổ chức dự báo tình
hình chưa đảm bảo nên nhiều việc chưa có biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.
- Tổ chức bộ máy quản lý lâm nghiệp còn bất cập, nhiều việc còn chồng
chéo không được phân định rõ. Biên chế của lực lượng Kiểm lâm và bảo vệ
rừng còn thiếu 131 người so với tiêu chuẩn quy định, cấp xã thiếu cán bộ chuyên
12