DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng
UBND : Ủy ban nhân dân
BVR : Bảo vệ rừng
HĐND : Hội đồng nhân dân
BQL : Ban quản lý
PHC : Phạt hành chính
BCHQS : Ban chỉ huy quân sự
VCLS : Vận chuyển lâm sản
LN : Lâm nghiệp
N/C : Nghiên cứu
QLBV&PTR : Quan lý bảo vệ và phát triển rừng
TT : Thị trấn
ĐVHD : Động vật hoang dã
KL : Kiểm Lâm
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là một bộ phận của môi trường sống là tài nguyên quý báu của
nước ta, có khả năng tái tạo phong phú và đa dạng. Rừng có giá trị to lớn đối
với nền kinh tế quốc dân, văn hoá cộng đồng, du lịch sinh thái nghiên cứu
khoa học, an ninh quốc gia và chất lượng cuộc sống của dân tộc Việt Nam.
Hơn nữa rừng còn ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố địa lý như: Bảo vệ đất
đai, khí hậu, sinh vật. Rừng có tác dụng bảo vệ nguồn nước, ngăn chặn thiên
tai bảo vệ mùa màng, đồng thời là nơi nghỉ mát vui chơi giải trí có ý nghĩa về
mặt du lịch đem lại lợi ích cho mỗi Quốc gia.
Tuy nhiên trong mấy thập kỷ qua diện tích rừng đã bị thu hẹp, rừng bị
suy giảm cả về số lượng và chất lượng nên đã dẫn đến hạn hán, lũ lụt ngày
thái ở Việt Nam, bảo tồn đa dạng sinh học và góp phần vào việc làm chậm,
tiến tới chặn đứng quá trình nóng lên toàn cầu (Larousse 2008) [9].
Việt Nam được xem là nước có diện tích rừng tự nhiên tương đối lớn
trong vùng Đông Nam Á. Năm 2006, diện tích rừng khoảng 14,3 triệu ha, tỷ
lệ che phủ khoảng 43%. Hiện nay, tổng diện tích rừng của cả nước hiện nay là
13.258.843 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305 ha, rừng trồng
chiếm 2.919.538 ha, độ che phủ 39,1% (Bộ NN & PTNT) [3].
Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đến việc quản lý bảo vệ (QLBV),
phát triển rừng (PTR), đã có những chính sách và chương trình mục tiêu đầu
tư lớn như chính sách giao đất giao rừng, Chương trình 327, Dự án trồng mới
5 triệu ha rừng, dự án 661 Nhận thức của xã hội, của các tầng lớp nhân dân
và chính quyền các cấp về bảo vệ và phát triển rừng được nâng lên. (Bộ NN
& PTNT) [2]
Tuy diện tích rừng có tăng lên trong những năm gần đây do thực hiện
các chương trình trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên… nhưng
chất lượng rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm, do việc khai thác không đúng quy
trình, khai thác bất hợp pháp. Bắc Kạn là một tỉnh miền núi cũng đang nằm
trong t ình trạng chung, liên tục trong những tháng đầu năm 2014, tình trạng
phá rừng trái phép xảy ra ở nhiều địa bàn trong tỉnh (http://conganbackan.vn/)
[14]. Có những địa phương tình trạng chặt hạ nhiều cây gỗ nghiến lớn đã xảy
ra như Chợ Đồn, Na Rì, Ba Bể. Mặc dù ngành kiểm lâm đã phối hợp với các
ngành chức năng tăng cường tuần tra bảo vệ rừng nhưng dường như tình trạng
này vẫn không hề thuyên giảm. “Lâm tặc” ngày càng dùng nhiều thủ đoạn
tinh vi để buôn bán, vận chuyển gỗ quí trái phép.
2
Chỉ riêng những tháng cuối năm, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện hàng
chục vụ vi phạm về quản lý và bảo vệ rừng. Đây chỉ là số vụ mà lực lượng
kiểm lâm đã phát hiện và bắt giữ. Còn trên thực tế với so với diện tích rừng bị
chặt phá thì vẫn còn một số lượng gỗ rất lớn đang bị “lâm tặc” cất giấu. Quản
lý bảo vệ rừng là một vấn đề nhạy cảm và phức tạp, vì vậy cần phải làm tốt
Việc nghiên cứu đề tài tốt nghiệp giúp cho sinh viên củng cố được kiến
thức đã học và tích lũy thêm được qua việc tham khảo tài liệu cũng như
nghiên cứu, biết áp dụng những lý thuyết vào điều kiện thực tiễn.
Giúp sinh viên nâng cao năng lực, ý thức và trách nhiệm của mình đối với
công việc. Có nhận thức sâu hơn về vấn đề nghiên cứu và phát huy được hết
khả năng của mình vào công việc sau này.
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài này không chỉ giúp cho chính người nghiên cứu, mà
còn cho người dân trên địa bàn nghiên cứu hiểu được tầm quan trọng của rừng
và vấn đề cấp thiết trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hiện nay
Áp dụng những giải pháp nhằm nâng cao được hiệu quả trong công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại địa bàn nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để giúp các cơ quan chính quyền địa phương
cũng như các cán bộ quản lý phát triển rừng xây dựng kế hoạch quản lý bảo
vệ tài nguyên rừng có hiệu quả hơn.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Quản lý bảo vệ rừng là một lĩnh vực tương đối rộng, song trên thực tế,
việc quản lý bảo vệ rừng là hai mặt của một vấn đề, quản lý bảo vệ luôn đi
kèm với nhau.
Quản lý, bảo vệ rừng bền vững tài nguyên rừng đề cập đến hai khía
cạnh là xây dựng bảo vệ nguồn tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu cuộc sống,
để đáp ứng nhu cầu đó phải được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, ổn
định và quan tâm đến môi trường. Quản lý bảo vệ nói chung và sử dụng đất
rừng nói riêng phải đảm bảo lợi ích lâu dài cho con người, tài nguyên sinh
vật, môi trường, có lợi ích về mặt xã hội, đáp ứng về mặt thực tế.
2.1.1. Cơ sở khoa học
Vai trò của rừng đối với kinh tế - xã hội:
Hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ lượng lớn carbon trong
khí quyển. Vì thế sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò
đáng kể trong việc chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu và ổn định khí hậu.
- Đất đai: Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất ở
vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn nạn bào mòn, rửa trôi
nhất là trên đồi núi dốc thì tác dụng ấy có hiệu quả lớn nên lớp đất mặt không
bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ
phì nhiêu được duy trì. Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ, mối quan hệ qua lại:
Rừng tốt thì đất tốt và ngược lại.
- Nước: Rừng làm sạch và điều tiết nước, điều hòa dòng chảy bề mặt
chuyển nó vào tầng nước ngầm. Phòng chống lũ lụt, hạn chế lắng đọng dòng
sông, lòng hồ, điều hòa dòng chảy của các con sông, con suối.
Rừng có vai trò rất lớn trong việc chống cát di động ven biển, ngăn
chặn sự xâm mặn của biển che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo
vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn, …
Khái niệm quản lý bảo vệ rừng:
Quản lý bảo vệ rừng là tổng hợp các biện pháp tác động tích cực vào
rừng nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững (Giáo
trình quản lý bảo vệ rừng)[12].
Nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng:
1) Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền
vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy
6
hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân
theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định.
2) Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân. Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý
rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát
huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi
vùng nhiệt đới đang bị cạn dần, tuổi thọ nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt
đới bị rút ngắn .
- Ở mỗi quốc gia và Châu lục trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên
phong tục tập quán khác nhau cũng như tiềm năng về kinh tế, xã hội, chính
trị, khác nhau. Ở nhiều nước trên thế giới vai trò quản lý của nhà nước về
rừng là rất ít, chủ yếu rừng được giao cho chủ nhân quản lý, bảo vệ, còn nhà
nước chỉ giữ vai trò bao quát chung.
- Ở Ấn Độ: Trong những năm 2008-2009 ở một số Bang ở ấn độ đã
thực hiện chuyển giao quyền quản lý một phần rừng cộng đồng lâm nghiệp,
Năm 1998 chính sách lâm nghiệp quốc gia được thông qua cho rằng “ cộng
đồng lâm nghiệp cần được khuyến khích phát triển, tự xác định vị trí của mình
trong việc bảo vệ các khu rừng mà hoạ cũng có nhiều quyền lợi trong đó.”
- Ở Philipin: Giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho cho cá nhân, các
hội quần chúng và cộng đồng địa phương trong 25 năm, thiết lập rừng cộng
đồng và giao cho nhóm quản lý.
- Ở Trung Quốc: Chuyển kinh doanh lâm nghiệp đưa vào sở hửu Nhà
nước vào tập thể song dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần. Phát triển nhiều
ngành kinh tế lâm sản, chế biến lâm sản nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên
rừng kết hợp coi trọng các mặt môi trường, sinh thái và xã hội, Trung Quốc
đã hoàn thành giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, bên cạnh đó Ban hành
nhiều Luật, chính sách kinh tế để tạo điều kiện việc lưu truyền trao đổi quyền
sử dụng tài nguyên.
Qua trên ta thấy ở các nước khác nhau về điều kiện tự nhiên, chính sách
kinh tế và chính sách phát triển lâm nghiệp ở mỗi quốc gia, thì tình hình sử
dụng quản lý bảo vệ rừng mang màu sắc riêng. Tuy nhiên trước sự phát triển
không ngừng khoa học mỗi nước như tin, công nghệ chế biến, công nghệ xây
dựng Cộng thêm việc phá hoại tài nguyên rừng của một số đối tượng xấu
gây ảnh hưởng không nhỏ đến rừng và tài nguyên rừng thì vấn đề môi trường,
sinh thái giữ vai trò hết sức quan trọng và ngày càng được chú trọng và quan
tâm hơn chính vì thế các nước trên thế giới đẩy mạnh việc kinh doanh và xây
các nguyên tắc trong Chương trình nghị sự 21 về công tác chống phá rừng.
Thông qua các hoạt động trong Năm quốc tế về rừng tại các quốc gia và khu
vực, Liên Hợp quốc mong muốn mật độ che phủ rừng trên toàn thế giới sẽ gia
tăng đáng kể thông qua quản lý rừng bền vững (SFM), bao gồm bảo vệ, phục
hồi trồng rừng và tái trồng rừng, cùng những nỗ lực ngăn chặn suy thoái rừng.
Đồng thời, giảm những tác động kinh tế - xã hội và môi trường đến rừng bằng
cách cải thiện sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng.
9
Tháng 9 năm 2008, Liên hợp quốc đã triển khai Chương trình Giảm phát
thải khí nhà kính thông qua giảm mất rừng và suy thoái rừng tại các nước
đang phát triển (REDD).
Chương trình được xây dựng dưới sự phối hợp và giám sát của Tổ chức
Nông Lương Liên hợp quốc (FAO), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) nhằm mục tiêu
hỗ trợ các nước đang phát triển tổ chức và triển khai chiến lược REDD+ ở
quy mô quốc gia.
Chương trình hiện có 29 nước tham gia, từ châu Phi, châu Á-Thái Bình
Dương và châu Mỹ La tinh. REDD+ được coi là một trong những sáng kiến
hiệu quả nhất về mặt kinh tế nhằm giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính,
góp phần chặn đứng nguy cơ nhiệt độ trái đất tăng lên 2
o
C
2.1.3. Tình hình quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đã được quan tâm;
tỷ lệ che phủ rừng đạt 39,5%, tăng trung bình 0,4%/năm. Tuy vậy, tình trạng
chặt phá, khai thác rừng trái phép vẫn diễn biến phức tạp. Phó Tổng cục
trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi đã khẳng định vai trò to lớn
của rừng trong chống biến đổi khí hậu, ngăn lũ lụt, thiên tai bất thường Do
sự mất mát của rừng lớn dẫn đến nghèo kiệt đất đai và sự biến mất dần những
sinh vật quý hiếm, làm tăng hàm lượng CO
Những năm qua công tác quản lý bảo vệ rừng từng bước phát triển và
đạt được những thành công đáng kể: Độ che phủ năm 1995 là 28,2% (Bộ
NN&PTNT)[2]; đến năm 2004 tăng lên 39% chủ chương của Nhà nước nâng
cao độ che phủ của rừng đến năm 2010 là 43%.
Để quản lý bảo vệ rừng hợp lý, Đảng và Chính phủ đã ban hành Nghị
định 02 về giao đất Lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng
ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, Nghị định cho đến nay góp phần
tích cực làm hạn chế việc phá rừng, kết qủa giao đất Lâm nghiệp đến nay đã
có hiệu quả ngày càng tăng việc bảo vệ rừng có chủ thực sự, cùng với hàng
loạt các chính sách làm cho độ che phủ của rừng ngày càng được nâng lên. Để
nâng cao ý thức vai trò quản lý nhà nước về rừng cho UBND các cấp, chính
phủ đã Ban hành Quyết định 245/QĐ/TTG ngày 12/12/1998.
Sau khi có Quyết định này, nhận thức được vai trò, trách nhiệm của Uỷ
ban nhân dân các cấp, các nghành được nâng cao, đặc biệt sau khi có Nghị
định 29/CP về việc ban hành quy chế dân chủ ở xã và thông tư số
56/BNN&PTNT thì ở các xã lúc này bắt đầu hình thành các quy ước quản lý
bảo vệ rừng ở cộng đồng thôn bản do người dân tham gia xây dựng.
Năm 1992 Chính phủ phê duyệt chương trình 327 nhằm phủ xanh đất
trống đồi núi trọc được bắt đầu từ năm 1992-1998 và được ghép vào trương
trình trồng mới 5 triệu ha (661) và kéo dài đến năm 2010.
11
Ngày 02/05/1998 Chính phủ đã gia Quyết định số 202/TTG QĐ về
khoán bảo vệ rừng và khoán khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên và rừng trồng.
Phải nói rằng vấn đề đổi mới pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà
nước trong lĩnh vực và quản lý bảo vệ rừng và đất rừng ở nước ta là không
ngừng nó kịp thời động viên, khích lệ bà con nhất là bà con dân tộc ít người.
Đây cũng là sự chuyển đổi nhanh chóng từ quảng lý bảo vệ rừng theo hướng
lâm nghiệp xã hội nhằm hướng tới sử dụng, quản lý rừng và đất rừng lâu bền.
2.2. Cơ sở pháp lý trong QLBV&PTR
Quản lý bảo vệ rừng là lĩnh vực tương đối rộng với những biện pháp kĩ
người thi hành công vụ.
Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 về quy định hồ sơ
lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản.
Nghị đinh 159//2007/NĐ-CP về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Nghị định 22/CP của chính phủ ban hành ban quy định về PCCC rừng
Nghị định số 39/CP, ngày 18/05/1994 của Chính phủ quy định về hệ thống
tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của kiểm lâm
Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 của Thủ tướng chính phủ
về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng.
Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
Quyết định số 04/2004/QĐ-BNN-LN ngày 02/02/2004 của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản khác.
Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2009 quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản
lý lâm sản.
2.3. Tổng quát khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý, ranh giới hành chính.
Bạch Thông là một huyện miền núi vùng cao, nằm ở trung tâm tỉnh Bắc
Kạn, cách thị xã Bắc Kạn khoảng 20km. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là
545,62km
2
, bao gồm 17 xã và 1 thị trấn trong đó có: Cẩm Giàng, Quân Bình,
Nguyên Phúc, Tân Tiến, Vi Hương, Dương Phong, Đôn Phong, Quang Thuận,
Phương Linh, Cao Sơn, Mỹ Thanh, Vũ Muộn, Sỹ Bình, Lục Bình, Hà Vị, Tú
Trĩ, thị trấn Phủ Thông. Có địa giới hành chính tiếp giáp với các huyện:
+ Phía Bắc giáp với huyện Ba Bể, Ngân Sơn.
+ Phía Nam giáp với thị xã Bắc Kạn.
có quốc lộ 3 chạy qua nên từ Bạch Thông có thể đi lại một cách dễ dàng về
phía Nam (xuống thủ đô Hà Nội), lên phái Bắc (Đến Cao Bằng).
Ngoài ra, hệ thống đường mòn của Bạch Thông đã tạo thành một mạng
lưới giao thông nội vùng, phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế - văn hóa-xã hội
của nhân dân các dân tộc trong huyện.
14
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Dân số dân trí và phong tục tập quán
Dân số trên địa bàn huyện có khoảng 32.612 người gồm 5 dân tộc
chính là:Tày (chiếm đại đa số), Nùng, Kinh, Dao, Hoa.
Hầu hết dân số Bạch Thông là đồng bào dân tộc thiểu số, mặt bằng dân
trí chưa cao, quen sống theo tập quán kinh tế tự cấp, tự túc. Kinh tế chủ yếu là
trồng trọt, chăn nuôi nhỏ, đơn lẻ từng hộ, chưa phát triển theo quy mô thôn,
bản hoặc xã.
b. Văn hóa - xã hội
Ngay từ năm 1993, Bạch Thông đã là huyện miền núi đầu tiên của tỉnh
Bắc Thái đạt chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ. Hiện
nay, Bạch Thông đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS. Có thể nói, đặt trong
hoàn cảnh một huyện còn nhiều khó khăn như Bạch Thông thì những con số
này đặc biệt có ý nghĩa. Nó thể hiện tầm nhìn chiến lược về công tác giáo dục
- đào tạo con người, phục vụ cho công cuộc phát triển Bạch Thông trong
tương lai.
Bên cạnh công tác giáo dục, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao,
các phong trào xây dựng nếp sống văn hóa của huyện cũng ngày càng khởi
sắc để xứng đáng với truyền thống cách mạng đã được giữ gìn, phát huy suốt
mấy chục năm qua. Tính đến năm 2011, toàn huyện đã có 3.115 hộ đạt gia
đình văn hóa, 49 thôn đạt danh hiệu Làng Văn hóa. Đài phát thanh - truyền
hình huyện luôn đảm bảo thời lượng phát sóng nhằm thực hiện tốt chức năng
thông tin, tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương.
c. Kinh tế - cơ sở hạ tầng
thực hiện được được 914,24 ha rừng trồng mới, trong đó: Diện tích trồng rừng
dự án 147 thực hiện 739,24 ha/700 ha, đạt 105,6% kế hoạch; năm 2012, toàn
huyện trồng được trên 1.136ha rừng mới theo Dự án 147, đạt 103,3% kế
hoạch.
+Y tế: thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và công
tác phòng chống dịch bệnh, tổng số lần khám, chữa bệnh 70.460 lượt người;
100% trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi được uống vitaminA. Các chương trình mục
tiêu quốc gia về y tế được triển khai có hiệu quả; trong năm không có dịch
bệnh lớn xảy ra (2012). Năm 2012 xã Mỹ Thanh được công nhận đạt bộ tiêu
chí quốc gia về y tế, đến nay toàn huyện có 10 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
+ Công tác xây dựng cơ bản: Đã tập trung các nguồn vốn xây dựng cơ
bản, nguồn vốn kiến thiết kinh tế, nguồn vốn chương trình 134, 134… đầu tư
cơ sở hạ tầng. Hiện nay, 100% các xã trên địa bàn huyện đã đường đến trung
tâm xã; 100% các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều được sử dụng điện lưới
Quốc gia…
16
2.3.3. Thực trạng sử dụng đất của huyện Bạch Thông
Thực trạng sử đụng đất của huyện Bạch Thông thể hiện ở bảng 2.1:
Bảng 2.1: Thực trạng sử dụng đất của huyện Bạch Thông
Loại đất Diện tích(ha) Tỷ lệ % Ghi chú
Tổng diện tích đất tự nhiên 54.649,9 ha
I. Đất nông nghiệp 5559,73 10,17%
- Đất trồng lúa 2700,05
- Đất trồng ngô 1257,44
- Đất trồng cây màu
1602,24
II. Đất lâm nghiệp 48919,8 89,5%
- Đất có rừng tự nhiên 35001,7
- Đất có rừng trồng 6950,2
- Đất trống 6967,39
quan trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
- Đánh giá kết quả các hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
- Thực trạng phát triển rừng tại địa bàn Huyện Bạch Thông giai đoạn
2011-2013
- Xác định thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng trên
địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp trong công tác QLBVR và PTR xuất phát từ kết
quả nghiên cứu.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Ngoại nghiệp
Sử dụng phương pháp kế thừa thông tin có sẵn có ở địa phương để
đánh giá thực trạng về việc quản lý bảo vệ rừng tại khu vực N/C thông qua số
liệu báo cáo hàng năm của Hạt kiểm lâm Bạch Thông.
Sử dụng phương pháp điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của
người dân (PRA). Cụ thể là sử dụng công cụ bảng hỏi phỏng vấn (Phụ biểu
18
01). Đối tượng điều tra là lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của các xã và
người dân.
* Đối tượng và số lượng phỏng vấn:
+ Cán bộ cơ sở: 10 người là kiểm lâm phụ trách địa bàn, kiểm lâm phụ
trách kỹ thuật và pháp chế tại Hạt Kiểm lâm Bạch Thông, cán bộ nông lâm
nghiệp xã, trưởng thôn.
+ Hộ gia đình: 30 hộ, được phân bố đều ở 5 thôn, đại diện cho 3 xã
trong khu vực nghiên cứu: Thôn Nà Khoi, Nà Cùn (Quang Thuận), Khuổi
Chanh, trung tâm xã (Cẩm Giàng), Nà Cà A (Sỹ Bình).
- Các đối tượng được chọn phỏng vấn:
+ Là người có uy tín trong cộng đồng nơi sinh sống.
+ Có liên quan chặt chẽ với công tác QLBV&PTR.
+ Đại diện các thành phần khác nhau trong cộng đồng thôn bản.
- Để quá trình phỏng vấn được thuận lợi chúng tôi đã cộng tác cùng
Rừng tự nhiên 28743,17
Rừng trồng 9921,13
Đất không có rừng 4167,73
2012
Tổng 48918,2
Đất có rừng 41951,9 76,76
Trong đó
Rừng tự nhiên 35001,7
Rừng trồng 6950,2
Đất không có rừng 6967,3
2013
Tổng 48920,1
Đất có rừng 41841,51 81,47
Trong đó
Rừng tự nhiên 34107,50
Rừng trồng 10417,14
Đất không có rừng 4395,46
(Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm của Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông) [5]20
Qua bảng 4.1 cho thấy:
Diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp của huyện Bạch Thông năm
2011 là 42832,03 ha: Diện tích đất có rừng là 38664,30 ha trong đó:
+ Rừng tự nhiên 28743,17 ha, rừng trồng 9921,13 ha, đất không có
rừng 4167,73 ha.
Diện thích đất quy hoạch cho lâm nghiệp của huyện Bạch Thông năm
2012 là 48919,8 ha: Diện tích đất có rừng là 41951,9 ha trong đó:
+ Rừng tự nhiên 35001,7 ha, rừng trồng 6950,2 ha, đất không rừng
tích rừng còn làm cho môi trường khí hậu được cải thiện do những yếu tố bên
ngoài đem lại. Kết quả này được thể hiện ở tỷ lệ che phủ đạt được năm 2011
là 70,07%, năm 2012 là 76,76%, năm 2013 là 81,47%. Việc khuyến khích
người dân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được nhà nước quan
tâm hiện nay bằng việc đưa ra các chính sách hỗ trợ về vốn giống cây trồng,
kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
4.2. Cơ cấu tổ chức và trách nhiệm của các bên liên quan trong
QLBV&PTR tại hạt Kiểm lâm Bạch Thông
4.2.1. Tổ chức lực lượng của hạt kiểm lâm huyện Bạch Thông
Tính đến thời điểm hiện nay Hạt Kiểm lâm Bạch Thông có 24 cán
bộ công chức, viên chức, Kiểm lâm. Trong đó có 19 kiểm lâm viên phụ trách
địa bàn 17 xã, thị trấn tham mưu cho chính quyền địa phương về công tác
quản lý rừng, bảo vệ rừng, bình quân 1 KLV phải phụ trách 2.500 ha rừng
và đất lâm nghiệp
- Về tổ chức: Văn phòng Hạt gồm có 08 người: Ban lãnh đạo 3 người;
bộ phận kỹ thuật, pháp chế 03 người (kiêm nhiệm) và kế toán, văn thư thủ
quỹ 02 người. Các Trạm Kiểm lâm địa bàn có 04 Trạm với 19 cán bộ Kiểm
lâm phụ trách địa bàn.
- Nhiệm vụ là phối kết hợp và tham mưu cho Cấp uỷ chính quyền địa
phương các cấp huyện, xã:
Năm 2013 Hạt Kiểm lâm Bach Thông đã tham mưu cho chính quyền
các cấp ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về công tác quản lý bảo vệ rừng trên
địa bàn, cụ thể:
- Thực hiện Thông tư liên tịch số 144/2002/TTLT-BNN&PTNT-BCA-
BQP ngày 13/12/2002 giữa 3 Bộ Nông nghiệp & PTNT, Công an, Quân đội
về công tác QLBVR và Kế hoạch phối hợp số 54/KHPH/KL-CA-QĐ ngày
23/01/2003 giữa 3 lực lượng Chi cục Kiểm lâm - Công an tỉnh - Bộ chỉ huy
quân sự tỉnh trong công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR. Ngoài sự phối hợp
thường xuyên với Công an huyện Bạch Thông, năm 2013 Hạt Kiểm lâm còn
phối hợp chặt chẽ với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bạch Thông