VÀNG VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG Ở VIỆT NAM NĂM 2013 - Pdf 38

VÀNG VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG
Ở VIỆT NAM NĂM 2013
TS.Nguyễn Minh Phong

Thực tế cho thấy, độc quyền sản xuất vàng không thể giống độc
quyền sản xuất tiền của Chính phủ, càng không thể quản lý vàng theo
thương hiệu quốc gia như một dạng tiền tệ chính thức quốc gia. Nói
cách khác, không thể dùng quyền độc quyền vàng như một loại máy in
tiền; không thể biến việc chống “vàng hóa” thành việc “tiền tệ hóa”
vàng, nếu không muốn biến một quốc gia từ chỉ có một đồng bản tệ duy
nhất thành có 2 đồng tiền cùng lưu hành chính thức và độc quyền như
nhau.
1. Nguồn gốc, dự trữ và quản lý vàng trên thế giới
Đầu tháng 3/2013, các nhà khoa học thuộc ĐH Queensland
(Australia) vừa công bố công trình nghiên cứu chứng tỏ vàng được tạo
ra nhờ nước và động đất.
Kết quả nghiên cứu này vừa được đăng tải trên tạp chí Nature
Geoscience. Dion Weatherley, một nhà địa vật lý tại Đại học Queensland,
Australia và là tác giả chính của nghiên cứu tiết lộ: “Động đất gây ra
hiện tượng đứt gãy địa chất, tạo nên vô số các khe hở. Nước nhanh
chóng choán đầy những khe hở này. Điều đặc biệt xảy ra ở khoảng 10
km dưới lòng đất, nơi có áp suất và nhiệt độ cực kỳ cao”.
“Điều kiện môi trường như vậy, cộng với việc nước mang nồng độ
cao các chất carbon điôxít, silíc điôxít cùng một số chất cần thiết khác
sẽ giúp tạo ra vàng. Sau đó, dư chấn hoặc các trận động đất khác khiến
những khe hở mở rộng hơn làm áp suất giảm đột ngột, nước nhanh
chóng bay hơi và bất cứ hạt vàng nào tồn tại trong chất lỏng đều kết tủa
gần như ngay lập tức”.
185



kết gắn giá trị của đồng tiền một nước bất kỳ vào một hàm lượng vàng
nhất định nào đó.
186


Trên thực tế, vàng là hàng hóa đặc biệt, vừa mang tính chất hàng
hóa phục vụ đời sống, sinh hoạt và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người
dân; đồng thời, vàng vừa mang chức năng thước đo giá trị và chức năng
dự trữ như một loại ngoại hối đặc biệt; Cũng vì vậy, mỗi khi bối cảnh
thị truờng trong nước và quốc tế có biến động bất thuờng, vàng thuờng
được coi là sự lựa chọn hàng đầu để bảo toàn giá trị tài sản và thể hiện
sự giàu có của cả các quốc gia, ngân hàng và người dân các nước, trong
đó có Việt Nam. Tuy nhiên, vàng chỉ còn có chức năng không đầy đủ
(tức chỉ có chức năng thước đo giá trị và dự trữ, mà không còn có chức
năng thanh toán và lưu thông) của tiền tệ quốc tế, nên vàng không phải
là tiền tệ thế giới, cũng không phải là đồng tiền quốc gia.
Theo IMF, vàng miếng được phân thành hai loại là vàng - tiền tệ
và vàng phi tiền tệ. Trong đó, vàng tiền tệ là vàng được nắm giữ bởi các
cơ quan quản lý tiền tệ như một phần của dự trữ chính thức của quốc
gia và các tổ chức quốc tế như IMF, BIS. Vàng phi tiền tệ là vàng được
sử dụng như tài sản tài chính và vàng hàng hóa được nắm giữ phục vụ
cho mục đích sản xuất (trang sức, công nghệ), tồn kho hoặc cất trữ và
phải được đối xử bình thường như với bất kỳ hàng hóa nào khác trong
nền kinh tế (IMF, 2006). Theo TS. Hoàng Công Gia Khánh, Trưởng
khoa Tài chính ngân hàng Trường ĐH Kinh tế - Luật - TP.HCM, ở hầu
hết các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada, Nhật Bản… đều đã tự do
hóa thị trường vàng từ rất lâu. Thị trường vàng ở các nước này hoạt
động theo các chuẩn mực rõ ràng, chủ yếu giao dịch các chứng chỉ vàng
thông qua sàn giao dịch tập trung. Việc giao dịch vàng không qua sàn
giao dịch (OTC) vẫn còn diễn ra sôi động ở Anh, Thụy Sĩ giữa các nhà

khẩu vàng, kích thích sản xuất nữ trang xuất khẩu, phát triển ngành sản
xuất vàng và chế tác trang sức, khuyến khích tái chế vàng trang sức
trong nước. Sau đó Chính phủ Ấn Độ cũng đã đưa ra các tiêu chí cụ thể
để xác định ngân hàng nào đủ điều kiện được cấp phép nhập khẩu vàng.
Các tổ chức này được phép mua bán vàng trong nước và quốc tế không
giới hạn. Ngoài ra, họ còn được phép cung cấp các sản phẩm tiết kiệm
và cho vay liên quan đến vàng.
Giai đoạn từ 1998 đến 1999, Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ cho phép
các ngân hàng thương mại trả lãi tiền gửi vàng vật chất, phát hành các
chứng chỉ vàng và các chứng chỉ này được phép chuyển nhượng, giao
dịch trên thị trường thứ cấp với mục tiêu phát triển thị trường chứng chỉ
vàng. Tuy nhiên, việc triển khai đã thất bại khi sau 12 tháng triển khai
chỉ huy động được tám tấn vàng so với 100 tấn theo kế hoạch. Điều này
188


cho thấy dân chúng vẫn thích nắm giữ vàng vật chất hơn là chứng chỉ
vàng. Bởi vậy từ năm 2003, Ấn Độ cho phép các ngân hàng giao dịch
hợp đồng vàng kỳ hạn trong nước hoặc quốc tế nhưng không được phép
giao dịch với các tổ chức phi ngân hàng. Đến cuối năm 2011, có bốn sở
giao dịch quốc gia thực hiện giao dịch vàng. Các sản phẩm phái sinh
vàng được cho phép giao dịch từ năm 2006 và cho đến nay sản phẩm
thông dụng nhất trong số các sản phẩm phái sinh vàng là ETF vàng.
Đến đầu năm 2012, ở Ấn Độ đã có 30 ngân hàng bao gồm cả ngân hàng
nhà nước, ngân hàng tư nhân và ngân hàng nước ngoài được phép nhập
khẩu vàng, bạc để bán tại thị trường trong nước. Hiện nay họ có cả hai
thị trường vật chất và phi vật chất. Thị trường bán lẻ vàng thoi OTC
diễn ra phổ biến rộng rãi giữa nhà đầu tư với các tổ chức kinh doanh
vàng. Nhưng Ấn Độ không bắt buộc giao dịch vàng thoi phải diễn ra tại
các sàn giao dịch mà có thể thực hiện ở thị trường bán lẻ phân tán khắp

Như vậy, sau cải cách, cơ quan nhà nước của cả Ấn Độ và Trung
Quốc vẫn quản lý sản xuất, bán buôn, bán lẻ vàng, nhưng đều được thực
hiện theo cơ chế minh bạch và hoàn toàn không có sự độc quyền, dù là
độc quyền nhà nước hay tư nhân. Việc quản lý nhập khẩu vàng được
thực hiện một cách linh hoạt trên cơ sở xử lý hài hòa giữa trạng thái cán
cân thanh toán và tình trạng nhập lậu. Ngân hàng trung ương hoàn toàn
không tham gia trực tiếp vào hoạt động nhập khẩu, sản xuất. Chính sách
quản lý được thực hiện theo nguyên tắc thị trường, thông thoáng nhằm
tạo được sự liên thông thị trường trong nước với thị trường nước ngoài
khi đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện. Các quốc gia này cũng đã quản
lý chặt chẽ chất lượng vàng kể cả vàng thoi và vàng trang sức, đồng
thời xem xét để cấp phép giao dịch các sản phẩm vàng thoi theo tiêu
chuẩn quốc tế được sản xuất bởi các nhà sản xuất có uy tín theo danh
sách công bố của Hiệp hội Vàng thoi London. Ngoài ra, các nước này
cũng đã tổ chức nhiều sàn giao dịch vàng với cơ chế tổ chức theo thông
lệ quốc tế với một số điều chỉnh để tương thích với đặc trưng của thị
trường trong nước.
Thực tế thế giới cũng cho thấy ngày càng hiếm có nước nào duy trì
chính sách chỉ độc quyền một thương hiệu vàng và độc quyền sản xuất
vàng miếng. Hiện nay, Ấn Độ đã thả nổi thị trường vàng và chỉ quản
lý bằng thuế suất nhập khẩu vàng khi nâng mức thuế lên 50%. Ngân
hàng Trung ương Ấn Độ vừa có thông báo chính thức trên website ngày
19/11/2012, yêu cầu các ngân hàng nước này không cho vay với mục
đích mua vàng vật chất như trang sức, vàng xu, vàng thanh hay các sản
phẩm tài chính có liên quan đến vàng như đầu tư vào quỹ tín thác.
190


Theo số liệu của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), người dân Thổ
Nhĩ Kỳ hiện đang nắm giữ khoảng 5.000 tấn vàng, giá trị 302 tỷ USD,

tháng 7 đã tăng 22%. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đang có những biện pháp
191


để hỗ trợ các ngân hàng thu hút vốn vàng. Ngân hàng Trung ương nước
này ra quyết định cho phép các ngân hàng tăng tỷ lệ vàng trong dự trữ
lên mức 30% từ mức 25% trước đó. Ngoài ra, các nhà chức trách Thổ
Nhĩ Kỳ còn đang xem xét đưa ra các quy định cho phép người dân mua
hoặc bán vàng tại các chi nhánh ngân hàng hoặc chuyển vàng vào các
tài khoản khác. Tuy nhiên, kế hoạch này bị các tiệm vàng ở Thổ Nhĩ Kỳ
phản đối vì cho rằng, việc ngân hàng mua bán vàng sẽ khiến doanh thu
của các tiệm kim hoàn sa sút.
2. Quản lý vàng ở Việt Nam từ 1975-2013
Việt Nam có truyền thống tích trữ và giao dịch vàng trong dân
rất cao do kinh nghiệm đối phó với chiến tranh, loạn lạc và lạm phát
cao...
Theo tinh thần Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 của Chính
phủ, vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối
lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng
được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép sản xuất, hoặc vàng
miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ.
Từ sau năm 1975, ở Việt Nam, Nhà nước dùng các biện pháp hành
chính mạnh để kiểm soát và điều khiển giá vàng. Việc giao dịch vàng,
kể cả vàng trang sức lẫn vàng miếng, của tư nhân bị cấm; Việc dùng
vàng để định giá, thanh toán không được pháp luật thừa nhận. Nhưng
trên thực tế, vàng luôn được sử dụng làm thước đo giá trị, phương tiện
thanh toán và tài sản cất trữ.
Đến năm 1986, Việt Nam mới thực hiện chủ trương cho thành lập
mạng lưới các cửa hàng kinh doanh vàng bạc quốc doanh và đến năm
1989 mới chính thức cho phép tư nhân thành lập cửa hàng kinh doanh

vàng và cho vay bằng vàng...
Sàn vàng ảo hay kinh doanh vàng tài khoản, sàn vàng đã một
thời nở rộ tại Việt Nam và trở nên phức tạp trong các năm 2008-2009
với hơn 20 sàn giao dịch trước khi Chính phủ ban hành lệnh cấm vào
cuối năm 2009. Thời điểm đó, cùng với chứng khoán, các sàn vàng hoạt
động rầm rộ, cho phép các nhà đầu tư kinh doanh vàng qua tài khoản
trực tiếp với thị trường quốc tế. Sàn vàng đã thu hút sự tham gia của
nhiều đơn vị: DN kinh doanh vàng, ngân hàng, thậm chí tổ chức không
có chức năng kinh doanh vàng… lôi kéo hàng chục ngàn nhà đầu tư
tham gia đã tạo nên một cơn sốt vàng ảo; kéo theo đó là rất nhiều hệ lụy
đối với nhà đầu tư, DN và tổ chức tài chính, ảnh hưởng đến sự ổn định
193


trên thị trường vàng, ngoại hối và tiền tệ. Đối với rất nhiều nhà đầu tư,
sau một thời gian tham gia đầu tư vàng ảo, cụ thể hơn là kinh doanh
vàng trên tài khoản đã chuốc lấy thất bại, thua lỗ. Trong khi đó, không
ít DN và tổ chức tài chính dù ở góc độ người tổ chức kinh doanh hay
trực tiếp đầu tư thì cũng gánh chịu nhiều thiệt hại trước biến động của
giá vàng thế giới. Đã có những NH công bố con số thua lỗ hàng ngàn tỷ
đồng vì vàng. Sàn vàng đã kéo theo các công cụ hỗ trợ như: đòn bẩy tài
chính cho nhà đầu tư, hoạt động mua bán vàng liên tục với nước ngoài
thông qua tài khoản để cân bằng trạng thái, mua bán khống, mua bán
kỳ hạn… được thực hiện dưới nhiều hình thức và biến tướng, gây ra rủi
ro tiền ẩn cho các tổ chức tài chính và bất ổn vĩ mô. Thậm chí đã nảy
sinh nhiều tranh chấp, kiện cáo về những sự cố, rủi ro khi tham gia sàn
vàng. Khi rà soát lại, cơ quan quản lý cho biết kinh doanh sàn vàng là
một hoạt động chưa có các quy định quản lý, và những bất lợi của hoạt
động này gây ra, khiến sàn vàng đã bị cấm hoạt động. Mọi hoạt động
đầu tư vàng ảo chấm dứt. Đến nay, mọi hoạt động kinh doanh vàng qua

vàng vật chất qua các giải pháp ngân hàng điện tử. Khi đặt mua, khách
hàng phải chuyển tiền và ngay sau đó sẽ được lấy vàng. Như vậy, tiền
thực chuyển đi và vàng thực sẽ được giao. Ngân hàng sẽ chỉ giữ hộ khi
khách có nhu cầu. Còn trong trường hợp bán vàng, nếu khách còn gửi
vàng tại ngân hàng thì có thể đặt qua mạng, còn không sẽ phải mang
vàng đến bán tại các điểm kinh doanh vàng như thông lệ. Như vậy,
trong mọi trường hợp, người mua và bán chỉ thông qua ngân hàng như
một nhà giao dịch hàng hóa và niêm yết giá. Hoàn toàn không có biểu
hiện của vàng ảo như thực hiện khớp lệnh giữa người mua với người
bán, không thực hiện mua bán khống, không thực hiện giao dịch trạng
thái kỳ hạn, không sử dụng công cụ đòn bẩy tài chính. Mua vàng qua
mạng như trên giống như mọi hình thức giao dịch hàng hóa trực tuyến
khác. Vàng ở đây là vật chất, hàng hóa chứ không phải là một loại hình
đầu tư tài chính. Điểm khác biệt là chỉ là cho phép khách hàng thực hiện
giao dịch mua - bán vàng trực tuyến, thông qua kênh Internet Banking
và Mobile Banking. Người mua có thể “tranh thủ” mua vàng ở bất cứ
đâu theo giá niêm yết của ngân hàng, khách hàng không phải đổ xô xếp
hàng mua vàng những lúc cao điểm. Mua vàng qua mạng chỉ mở ra cơ
chế giao dịch mới giữa khách hàng với ngân hàng trong khi mô hình
sàn giao dịch vàng là giao dịch giữa các nhà đầu tư với nhau, qua khớp
lệnh. Các yêu cầu mua- bán vàng chỉ được xác định thông qua giá thực
tại thời điểm giao dịch mà không có các trạng thái kỳ hạn như sàn vàng.
Hơn nữa, với các quy định về giới hạn trạng thái vàng của Ngân hàng
195


Nhà nước, không được vượt quá 2% vốn tự có; không được cho vay
vốn, cho vay vàng để tạo giao dịch “ảo” như ở sàn vàng.
Tuy nhiên, theo ông Lê Minh Hưng, PTĐ NHNN: Phải khẳng định
hoạt động sản vàng online là hoạt động bất hợp pháp. Theo quy định tại


cho nền kinh tế - xã hội, rủi ro cho người dân mua vàng/ người vay
vàng, và các tổ chức kinh doanh vàng (trong đó có TCTD) khi giá vàng
liên tục tăng cao.
Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 ra đời đã khẳng định
NHNN có trách nhiệm xây dựng, trình các cấp có thẩm quyền ban hành
chiến lược, kế hoạch về phát triển thị trường vàng và ban hành theo
thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động kinh
doanh vàng theo quy định tại Nghị định này; bổ sung vàng miếng vào
Dự trữ ngoại hối Nhà nước; thực hiện can thiệp, bình ổn thị trường vàng
thông qua các biện pháp: (a) Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu
theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định này; (b) Tổ chức và quản
lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyết định hạn mức, thời điểm
sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp trong
từng thời kỳ. Chi phí tổ chức sản xuất vàng miếng được hạch toán vào
chi phí hoạt động của Ngân hàng Nhà nước; (c) Thực hiện mua, bán
vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức huy động vàng theo
quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 của Chính phủ khẳng
định quyền sở hữu và giao dịch vàng miếng của tổ chức, cá nhân được
công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật. NHNN độc quyền sản
xuất vàng miếng, xuất và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng
miếng, thống nhất quản lý hoạt động kinh doanh vàng nhằm ổn định thị
trường vàng, bảo đảm hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ
nghệ phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu theo quy định của
pháp luật vì lợi ích chung, bảo đảm không biến quyền kinh doanh vàng
miếng thành độc quyền và mang lại khối lợi nhuận khổng lồ béo bở
cho bất kỳ doanh nghiệp hay một thương hiệu vàng nào. NHNN và các
tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh vàng có liên qua phải bảo đảm chất
lượng sản phẩm và dịch vụ cung ứng vàng miếng, không gây ách tắc và

NHNN bán được khối lượng tối đa; hoặc xét theo thứ tự từ thấp đến cao
nếu NHNN mua được khối lượng tối đa. Giá trúng thầu của từng đơn vị
là giá đặt thầu của chính đơn vị đó.

198


Quy trình đấu thầu vàng và mua bán vàng trực tiếp
theo Thông tư 06/2013/TT-NHNN ngày 12/3/2013
Đấu thầu
1. NHNN thông báo đấu thầu mua, bán vàng
miếng
2. TCTD, doanh nghiệp đặt cọc
3. NHNN kiểm tra và thông báo tư cách dự thầu
của TCTD, doanh nghiệp
4. NHH thông báo mua, bán (đối với đấu thầu
theo khối lượng) hoặc giá sàn và/ hoặc giá trần
(đối với đấu thầu theo giá)
5. TCTD, doanh nghiệp nộp phiếu dự thầu mua,
bán vàng miếng
6. NHNN xét thầu
7. NHNN thông báo hủy thầu (nếu có)
8. NHNN công bố kết quả đấu thầu
9. Xác nhận giao dịch
10. Thanh toán tiền và giao, nhận vàng miếng
11. Xử lý tiền đặt cọc

Mua bán trực tiếp

1. NHNN thông báo mua, bán vàng miếng


các doanh nghiệp trong chiều nay. Mỗi đơn vị tham gia được đặt thầu
tối thiểu là 1.000 lượng và tối đa 3.000 lượng.
Từ ngày 28/3/2013 đến 16/8/2013, NHNN đã đấu thầu bán vàng
miếng với tổng khối lượng trúng thầu là 1.426.400 lượng (tương đương
với 54,86 tấn) trên tổng số 1.530.000 lượng (tương đương với 56,84
tấn) chào thầu.
Tính đến sáng 17/8/2013, chênh giá trong nước so với giá quốc tế
quy đổi đã co về còn 3,1 triệu đồng/lượng; nếu tính đủ các loại chi phí,
chênh lệch chỉ còn khoảng 2,6-2,7 triệu đồng/lượng. Như vậy, sau hơn
một năm chênh lệch giá từng lên tới gần 20%, nay chỉ còn khoảng 7%.
Kết quả các phiên đấu giá vàng miếng cho thấy, quy trình đấu thầu
của Ngân hàng Nhà nước được thực hiện thông suốt, đúng quy định tại
Thông tư số 06/2013/TT-NHNN ngày 12/3/2013 và Quyết định số 563/
QĐ-NHNN ngày 18/3/2013 của NHNN. Mục tiêu cao nhất của việc
NHNN tổ chức đấu thầu vàng miếng trước thời điểm 30/6/2013 với
tư cách là nguời kiến tạo và bảo đảm nguồn cung vàng miếng cho thị
trường đã được thực hiện tốt. Xét từ góc độ quy trình và các mục tiêu
đấu thầu vàng miếng, cho thấy phiên đầu là không thành công do đặt
giá chào bán cao hơn 500 nghìn đồng/lượng so với giá thị trường tại
cùng thời điểm, nên chỉ bán được dưới 8% lượng vàng chào bán và chỉ
có dưới 10% đơn vị tham gia trúng thầu. Tuy nhiên, các phiên đấu thầu
vàng về sau đã thành công hơn nhiều cả về quy mô vàng bán ra, cũng
như số đơn vị trúng thầu; đồng thời tạo nguồn thu mới cho NSNN…
Đánh giá việc quản lý thị trường vàng theo cơ chế mới, các báo
cáo và phát ngôn chính thức của NHNN đều khẳng định: NHNN can
thiệp thị trường vàng không vì mục tiêu lợi nhuận, đồng thời chỉ theo
đuổi mục tiêu ổn định thị trường, chứ không có mục tiêu ổn định hay
là làm cho giá vàng trong nước hay giá vàng thế giới thu hẹp lại... Một
trong những nội dung bình ổn thị trường vàng mà Nghị định 24 đã làm

định 24/2012/NĐ-CP đã giúp tiết giảm nguồn ngoại tệ cho mục tiêu
nhập khẩu vàng. NHNN đã cấp phép nhập khẩu bình quân khoảng 5060 tấn vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Đồng thời, khối lượng
ngoại tệ NHNN sử dụng để nhập khẩu vàng (với 55 tấn vào khoảng 2,5
tỷ USD) là nhỏ hơn nhiều lần lượng ngoại tệ nền kinh tế phải bỏ ra để
nhập khẩu vàng trong những năm trước đây (khoảng trên dưới 10 tỷ
USD). Lượng ngoại tệ này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với lượng ngoại tệ
NHNN đã mua vào tăng dự trữ ngoại hối nhà nước trong thời gian qua.
Mục tiêu trước mắt và mục tiêu trực tiếp là bình ổn thị trường vàng nói
201


chung, trong đó có bình ổn giá vàng trong nước để tránh việc đầu cơ
trục lợi; tiếp tục ổn định được kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện kéo giá vàng
trong nước và thế giới sát lại gần nhau hơn.
3. Những điểm nhấn triển vọng và giải pháp bình ổn thị trường
vàng thời gian tới
Mức giảm hơn 20% của vàng từ đầu năm tới 6/2013 là chuỗi ngày
tồi tệ nhất kể từ năm 1981. Ngày 19/6/2013, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ (FED) đã tuyên bố FEDsẽ giảm quy mô gói mua trái phiếu
trị giá 85 tỷ USD mỗi tháng kể từ cuối năm nay và sẽ kết thúc chương
trình vào năm 2014. Tuyên bố này đưa vàng hướng tới năm giảm đầu
tiên kể từ năm 2000, đồng thời cũng làm hạ giá bạc, thị trường chứng
khoán Mỹ mất điểm, giá dầu lao dốc và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ
tăng vọt, trong đó lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm lên mức cao nhất
kể từ tháng 8/2011…
Trong năm 2013, các nhà đầu tư thế giới đều đang giảm nắm giữ
vàng. Theo thống kê của Bloomberg, các quỹ ETF đã bán ròng gần 526
tấn vàng từ đầu năm 2013 - tới nay, trong đó riêng quỹ SPDR Gold
Trust bán ra xấp xỉ 360 tấn, đưa lượng nắm giữ xuống dưới 1.000 tấn
lần đầu tiên kể từ tháng 2/2009. Các tỷ phú lừng danh đều giảm nắm giữ

4,5 triệu... và có lúc lên tới gần 7 triệu đồng/lượng. Nguyên nhân gây ra
sự chênh lệch cao, kéo dài giữa vàng trong nước và quốc tế là do nguồn
cung cho thị trường chủ yếu là nguồn vàng nhập khẩu và được định giá
sàn độc quyền cao có mục tiêu, trong bối cảnh các NHTM có nhu cầu
cao về vàng miếng để đáp ứng nhiệm vụ tất toán trạng thái vàng trước
30/6 theo yêu cầu của NHNN. Đồng thời, đó còn do hiện tượng các
NHTM và công ty kinh doanh vàng trúng thầu trì hoãn hoặc cố tình
giảm giá vàng chậm hơn cho lượng vàng mình tung ra thị trường so với
tốc độ sự sụt giảm mạnh bất ngờ, liên tục và khó đoán định của vàng thế
giới, cũng như e ngại rủi ro từ nguyên tắc “không liên thông” giữa thị
trường trong nước với thế giới mà NHNN đang cố gắng theo đuổi…
NHNN khẳng định: Thị trường còn nhu cầu, còn thiếu cung thì còn
tiếp tục tổ chức đấu thầu vàng để tạo cung, để tránh thiếu cung có thể
gây bất ổn thị trường.
Trong thời gian tới, sẽ có nhiều chuyển động mới trên thị trường
vàng miếng, với 2 khả năng lớn sau:
Thứ nhất, giá vàng miếng trong nước sẽ biến đổi mạnh theo hướng
thu hẹp khoảng cách và bám sát giá vàng thế giới, cũng như rút ngắn
203


khoảng cách giữa hai đầu giá mua và bán, với ba lý do chính: (1).Nhu
cầu vàng miếng trên thị trường trong nước sẽ giảm thiểu; (2) NHNN vì
lời hứa của mình và theo yêu cầu của Quốc hội, sẽ đặt giá sàn các phiên
đầu giá trong thời gian từ đầu tháng 7/2013 thấp và sát với giá thế giới
hơn, chứ không chỉ dựa vào giá giao dịch thực tế bán lẻ vàng miếng
trong nước; (3) Vàng thế giới sẽ có sự giảm giá mạnh và liên tục cho
tới năm 2014-2015 theo nhiều dự báo của các tổ chức và chuyên gia
vàng trên thế giới, thậm chí sẽ chỉ còn khoảng 1100-1200 USD/oz so
với mức trên dưới khoảng 1300 USD/oz hiện nay.

Chí Minh), NHNN giảm số vàng được phép mua tối đa để đảm bảo
khả năng tham gia của các NH và doanh nghiệp, hạn chế vàng đấu thầu
chảy vào túi các NH lớn gây đầu cơ, lũng đoạn giá bán lẻ. Số lượng
vàng tối đa mà mỗi đơn vị được phép mua qua mỗi phiên đấu thầu, từ
mức 15.000 lượng/phiên, giảm xuống mức 5.000 lượng và hiện nay còn
3.000 lượng. Hiện các NH được duy trì số vàng dương 2%. Tính tổng
vốn của 22 NH được phép kinh doanh vàng, các NH có thể duy trì số
dư vàng tương đương 70.000 lượng. Con số này không cao nhưng trong
một thời gian, nếu các NH dồn dập tung hàng ra thì có khả năng chỉnh
giá thị trường theo ý đồ của mình. Với tình trạng độc quyền cung và độc
quyền phân phối như hiện nay, người dân thường có tâm lý thủ, người
có vàng cũng không dám bán vì sợ không mua lại được. Tất cả các
phiên đấu thầu, NHNN chỉ bán ra chứ không mua vào được, từ đó làm
cho túi vàng trong dân ngày càng phình lên. Vấn đề gốc rễ không giải
quyết được mà làm cho tình trạng vàng hóa ngày càng trầm trọng thêm.
Tình trạng giá vàng bị đẩy lên vào những ngày NHNN không thực hiện
đấu thầu là do đầu cơ và thiếu nguồn cung…
Trong thời gian tới, để bình ổn thị trường vàng trong nước, đặc
biệt là quản lý thị trường vàng miếng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
của NHNN theo quy định của Luật NHNN, theo đúng tinh thần Nghị
định 24/2012/NĐ-CP và Nghị định 86 về quản lý dự trữ ngoại hối nhà
nước, Quyết định 16 của Thủ tướng Chính phủ về mua bán vàng miếng
của NHNN trên thị trường trong nước và các văn bản hướng dẫn thi
hành hai nghị định nêu trên, cần có sự thống nhất nhận thức và đồng bộ,
nhất quán trong định hướng mục tiêu và sử dụng các công cụ quản lý thị
trường này. Theo đó, NHNN thực hiện chức năng quản lý và hoạch định
chính sách và từng bước chủ động vai trò là người kiến tạo và mua bán
cuối cùng trên thị trường; bảo đảm quyền lợi hợp pháp và hài hòa của
205


dùng quyền độc quyền vàng như một loại máy in tiền; không thể biến
việc chống “vàng hóa” thành việc “tiền tệ hóa” vàng, nếu không muốn
biến một quốc gia từ chỉ có một đồng bản tệ duy nhất thành có hai đồng
tiền cùng lưu hành chính thức và độc quyền như nhau.
206


Chủ trương thực hiện quản lý vàng theo Nghị định 24/2012/NĐCP để chống “vàng hóa” (nhất là coi vàng như công cụ thanh toán) là
đúng và cần thiết, bảo đảm hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia có
mục tiêu; song không vì thế mà ngộ nhận hoặc làm dụng trong quản lý
và kinh doanh vàng miếng, biến vàng miếng thành “đồng tiền quốc gia
thứ hai”, điều tự mâu thuẫn với yêu cầu chỉ được phép lưu hành một
đồng tiền duy nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, như mục tiêu đặt ra ban
đầu của quản lý nhà nước và phù hợp với thông lệ trên thế giới.
Đồng thời, cần thực hiện quản lý vàng thương hiệu quốc gia trên cơ
sở pháp lý đầy đủ, minh bạch, với giá được tính theo hàm lượng vàng,
được chuẩn hóa và bảo đảm bởi yêu cầu mang tính pháp định cao.
Hiện tượng cùng một miếng vàng có trọng lượng và hàm lượng
giống hệt nhau, những nếu chúng được dập thành thương hiệu quốc gia
thì giá sẽ cao hơn hẳn loại dập dưới thương hiệu khác chính là điển hình
của việc ngộ nhận vàng thương hiệu quốc gia là tiền quốc gia, khiến làm
tăng giá trị ảo của vàng miếng mang thương hiệu quốc gia, với tất cả
những hệ lụy nặng nề và gây thiệt hại cho người dân và những ai muốn
sở hữu vàng.
Sự bám sát giá vàng trong nước và thế giới là nguyên tắc của giá cả
thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa; cũng như là điều kiện để giảm
thiểu tình trạng đầu cơ, sốt giá và rủi ro kinh doanh vàng.
Được biết, với lý do bảo mật thông tin về vàng nhập khẩu, NHNN
đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép bổ sung mặt hàng vàng nhập
khẩu của NHNN vào danh mục hàng hóa đặc biệt được áp dụng quy chế

mức, thời điểm sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng
phù hợp trong từng thời kỳ. Chi phí tổ chức sản xuất vàng miếng được
hạch toán vào chi phí hoạt động của Ngân hàng Nhà nước; (c) Thực
hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức huy
động vàng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ…
Về cả bản chất và tính chất, cũng như cơ sở pháp lý quốc gia và
quốc tế hiện nay, thì vàng đủ hàm lượng 99,99% dù của bất kỳ ai và
dưới dạng hình thức nào cũng cần được đối xử bình đẳng và cũng như
nhau về giá trị; tức không thể dùng ý chí chủ quan tạo sự chệnh biệt giá
cả lớn giữa vàng có “thương hiệu quốc gia” với vàng khác cùng hàm
lượng % vàng như nhau. Nếu coi vàng được gắn ‘thương hiệu quốc
gia” là vàng có giá trị chênh biệt cao hơn hẳn các vàng khác, thì vô tình
hay cố ý đã biến vàng thành tiền quốc gia, tương tự như việc Chính phủ
208


thông qua máy in tiền đã biến tờ giấy in bình thường thành đồng tiền
giấy quốc gia, dù với những công nghệ chống làm giả ngày càng tinh
vi hơn mà thôi.
Nói cách khác, chủ trương thực hiện quản lý vàng theo Nghị định
24?2012/NĐ-CP để chống “vàng hóa” (nhất là coi vàng như công cụ
thanh toán) là đúng và cần thiết, bảo đảm hiệu qủa của chính sách tiền
tệ quốc gia có mục tiêu; song không vì thế mà ngộ nhận hoặc lạm dụng
trong quản lý và kinh doanh vàng miếng, biến vàng miếng thành “đồng
tiền quốc gia thứ hai”, điều tự mâu thuẫn với yêu cầu chỉ được phép
lưu hàng một đồng tiền duy nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, như mục
tiêu đặt ra ban đầu của quản lý nhà nước và phù hợp với thông lệ trên
thế giới.
Thứ hai, thương hiệu vàng quốc gia cần theo quy chuẩn hóa quốc
gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status