SKKN giúp học sinh lớp 3 học tốt môn toán ở tiểu học - Pdf 38

Mục lục
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU

2

1. Tính cấp thiết của đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
2. Mục đích nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
4. Đối tượng nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
II. PHẦN NỘI DUNG

4

Chương 1. Cơ sở lý luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
Chương 2. Thực trạng của vấn đề . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
Chương 3. Giải pháp đề ra . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1. Luyện cho học sinh thuộc bảng nhân, chia . . . . . . . . . 8
2. Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên . . . . . . . 9
3. Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính . . . . . . 12
4. Hướng dẫn giải toán có lời văn . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
5. Giúp học sinh nắm, thuộc các qui tắc đã học . . . . . . . . 18
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Bài học kinh nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
2. Kết luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
3. Đề xuất . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. 24

23




tác giáo dục phải nghiên cứu, tìm những biện pháp giảng dạy hay, giúp học sinh dễ
hiểu, phù hợp để hình thành kiến thức, kĩ năng nhằm giúp học sinh học tốt môn
toán.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán, để giải được các
bài toán trong chương trình đổi mới sách giáo khoa Toán lớp 3.
3.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu về nội dung qui định Chương trình sách giáo khoa toán 3.
- Tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu có liên quan Chương trình sách giáo khoa
toán 3, trao đổi với đồng nghiệp với học sinh và tự rút ra những kinh nghiệm hay
phù hợp để giảng dạy cho học sinh.
4. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa toán 3.
- Học sinh lớp 3 trường Tiểu học
- Nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu toán; những biện pháp, phương pháp
giáo dục hay phù hợp để khắc sâu kiến thức, hình thành thói quen, giúp học sinh
nắm và để học tốt môn Toán.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Kinh nghiệm này viết trong phạm vi môn Toán lớp 3. Đề cập đến nội dung
Toán 3 ( hệ thống hoá kiến thức) phân tích nội dung, phương pháp dạy Toán 3.
- Công tác giảng dạy và quá trình thực hiện phạm vi nghiên cứu là học sinh lớp
3D Trường TH, năm học 2013 - 2014.
* Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với học sinh
lớp 3D.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực hành luyện tập.
- Phương pháp tổng kết.


Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần thiết,
ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động. Những kiến thức kĩ năng toán học là
công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực tế đời sống.
Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt như: Phát triển tư
duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân
tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, . . . ) Nó giúp học sinh biết tư duy suy nghĩ,
làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người lao động.
Giáo dục toán học là một bộ phận của giáo dục tiểu học. Do đó, môn toán có
nhiệm vụ góp phần vào thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học, đó là: Trang
bị cho học sinh một hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết cho việc học
tập tiếp hoặc đi vào cuộc sống. Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào hoạt
động thiết thực trong đời sống, từng bước hình thành, rèn luyện thói quen phương
pháp và tác phong làm việc khoa học, phát triển hợp lí phù hợp với tâm lí của từng
lứa tuổi. Tạo tiền đề cho học sinh học tốt các môn học còn lại.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trong thực tiển có nhiều điều khác với sách vở, có nhiều điều không sách vở
nào nói hết. Toán học cũng vậy. Sách vở không nói hết mới cần đến vai trò của
người thầy. Trong thực tiển sách học không lường hết những tình huống xảy ra
trong quá trình dạy học. Bởi vậy sách dạy chúng ta phương pháp truyền thụ kiến
thức. Song chúng ta cũng có thể giúp người viết sách hoàn thiện phương pháp
giảng dạy một cách tốt hơn. Chưa nói đối tượng học sinh ở mỗi địa phương lại có
sự khác nhau. Nhận thức của các em có sự chênh lệch, do đó người giáo viên tuỳ
theo học sinh của lớp mình, của địa phương mình để có cách dạy thích hợp.
Trường Tiểu học .................là trường nghèo của huyện .......... Học sinh
Trường Tiểu học .............. có đặc điểm riêng, lớp 3D có những điểm khác biệt so
với lớp 3 trong trường. Một số em môn toán còn yếu, phương pháp học tập chưa rõ
ràng, còn thụ động trong việc tiếp thu bài. Song điều đáng nói, đây là vùng có dân
cư tập trung tương đối đông. Trình độ nhận thức của phụ huynh còn nhiều hạn chế.
Hơn phân nửa số học sinh là con nhà nghèo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Ngoài

+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 14/20 học sinh.
+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 17/20 học sinh.
+ Giải toán có lời văn chưa được: 18/20 học sinh.


+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán: 20/ 20 học sinh.
Để đối chiếu kết quả thực hiện kinh nghiệm tôi chọn lớp 3B làm minh chứng: kết
quả học tập của học sinh trong lớp đầu năm như sau;
+ Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp 2 đã học: 14/20 học sinh.
+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 14/20 học sinh.
+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 15/20 học sinh.
+ Giải toán có lời văn chưa được: 16/20 học sinh.
+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán: 20/ 20 học sinh.
Kết quả học tập đầu năm của học sinh 2 lớp tôi ghi chép cụ thể vào sổ tay sau đó
tiến hành nghiên cúư, thợc hiện đề tài lớp 3D của mình.
- Để tìm hiểu về gia đình, điều kiện sống, sự chăm lo của phụ huynh đối với
con em. Ngay từ đầu năm tôi đề nghị Ban Giám Hiệu cho họp phụ huynh học sinh.
Thông qua cuộc họp tôi báo cáo lại tình hình học tập của từng học sinh đặc biệt là
học sinh yếu môn Toán.
- Trong cuộc họp tôi động viên phụ huynh mua đầy đủ dụng cụ học tập cho học
sinh.
- Cần tạo điều kiện cho con em có góc học tập ở nhà, Đặc biệt là phụ huynh
nhắc nhở việc học tập của các em và học thuộc bản cửu chương. Thường xuyên
theo dõi, kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp.
- Qua cuộc họp tôi nắm được 12 em gia đình thật sự khó khăn so với 7 em có
sổ hộ nghèo, 4 học sinh cha mẹ đi làm ăn xa nên không có thời gian thường xuyên
chăm sóc.
- Để lớp đủ dụng cụ học tập tôi liên hệ thư viện mượn sách giáo khoa và vở bài
tập cho học sinh, nên lớp tôi có 20/ 20 học sinh có đầy đủ dụng cụ học tập.
- Qua hai tháng đầu giảng dạy tôi cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến

2, bảng chia 2 đến bảng nhân, chia hiện học.
+ Sau mỗi giờ học toán tôi thường kiểm tra những học sinh chưa thuộc bảng
nhân, chia từ 2 đến 4 em.
+ Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảng nhân,
chia trên giấy A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành phần của phép
nhân, chia trong bảng. Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10 phút cho các em
ghi đầy đủ và hoàn chỉnh bảng nhân, chia như yêu cầu. Tôi và học sinh cùng nhau
nhận xét, khen ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc nhở các em làm bài chưa tốt.


+ Tôi cũng thường xuyên cho học sinh chép bảng nhân nào mà các em chưa
thuộc vào tập riêng. Ngày sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào đầu giờ, sau
đó tổ trưởng báo cáo cho giáo viên.
* Thỉnh thoảng để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.
VD: Trò chơi ôn lại bảng nhân ( trò chơi lô tô)
- Tôi chuẩn bị nhiều bảng theo thứ tự đảo ngược như sau:
8
32
40

20
12
28

16
24
36

40
16

- Hai số tự nhiên liên tiếp hơn kém nhau 1 đơn vị.


- Số 0, 2, 4, 6 . . . là các số tự nhiên chẵn, số 1, 3, 5,7, 9, 11, . . . là các số tự
nhiên lẻ. Hai số chẵn ( hoặc lẻ) liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị.
- Nắm được tên và vị trí của các hàng ( hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm,
hàng nghìn).
- Biết qui tắc các giá trị theo vị trí của các chữ số trong cách viết số.
VD: Dạy cho học sinh:
- Các số có bốn chữ số gồm hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị.
Tôi giải thích cho học sinh là: các chữ số ở hành nghìn phải lớn hơn 0.
VD: 1234; 2574; 4351; . . . . hàng nghìn là: 1, 2, 4 nghìn. Không thể có hàng
nghìn là 0 như: 0234, 0574, 0351, . . . . Vậy số có bốn chữ số có hàng nghìn nhỏ
nhất là 1, lớn nhất là 9.
* Hướng dẫn đọc, viết.
- Hướng dẫn phân hàng: VD số: 5921.
+ Hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị.
. Số 5921: Có 5 nghìn, 9 trăm, 2 chục, 1 đơn vị.
. Đọc số 5921: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt.
Giáo viên viết: 5921.
Phân tích:

5
5nghìn

9

2

1


1000 > 999.

+ Còn các số có cùng chữ số thì sao? Ngoài việc làm theo qui tắc thì tôi còn
làm như sau:
VD: Bài tập 3a trang 100:
Để tìm số lớn nhất trong các số: 4375 ; 4735 ; 4537 ; 4753. Tôi hướng dẫn học
sinh như sau:
- Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với nhau sau
đó xoá dần .Cụ thể trên bảng phần được xoá là:

4375
4735

4735

4537
4753

4753

47

475

Số lớn nhất 4753.

- Phân theo hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị.
- So sánh từng hàng để chọn ra số lớn nhất trong hàng như: hàng nghìn đều
bằng nhau là 4. Đến hàng trăm chọn được hai số lớn là 7 có trong 4735 và 4753.

VD:

8265 - 5152 = 3113

Số bị trừ

số trừ

hiệu

+ Muốn tìm hiệu ta lấy số bị trừ, trừ đi số trừ.
8265 - 5152 = 3113
+ Muốn tìm số bị trừ chưa biết, ta lấy hiệu cộng với số trừ.
x - 5152 = 3113
x

= 3113 + 5152

x

= 8265

+ Muốn tìm số trừ chưa biết, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu.


8265 - x = 3113
x = 8265 - 3113
x = 5152
+ Bất kì số nào trừ 0 cũng bằng chính số đó.
4-0=4


3

=

Thừa số

4281
Tích

+ Muốn tìm tích, ta lấy thừa số thứ nhất nhân với thừa số thứ hai.
1427 x 3 = 4281
+ Muốn tìm thừa số chưa biết, ta lấy tích chia cho thừa số đã biết.
1427 x x = 4281
x = 4281 : 1427
+ Khi ta thay đổi các thừa số trong một tích thì tích không thay đổi.
3 x 9 = 9 x 3 = 27


+ Số nào nhân với 1 cũng bằng chính số đó.
3 x 1 = 3; 6 x 1 = 6; . . .
+ Số nào nhân với 0 cũng bằng 0.
3x0=0
- Đặt tính và tính:
Khi đặt tính giáo viên lưu ý cho học: Viết thừa số thứ nhất ở 1 dòng, viết thừa
số thứ hai ở dòng dưới sao cho thẳng cột với hàng đơn vị (nhân số có 2, 3, 4 chữ số
với số có 1 chữ số). Viết dấu nhân ở giữa hai dòng thừa số thứ nhất và thừa số thứ
hai và lùi ra khoảng 1, 2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng thước kẻ.
Khi thực hiện phép nhân này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng đơn vị,
sau đó đến hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn (hoặc tính từ phải sang trái). Các chữ


+ Muốn tìm số chia chưa biết, ta lấy số bị chia, chia cho thương.
32 : x = 8
x = 32 : 8


+ Số nào chia cho 1 cũng bằng chính số đó.
4 : 1 = 4; . . . . . 9 : 1 = 9
+ 0 chia cho bất kỳ số nào cũng bằng 0.
0:3=0
* Nhắc thêm cho học sinh: không thể chia cho 0.
3:0
+ Muốn tìm số chia trong phép chia có dư, ta lấy số bị chia trừ đi số dư rồi chia
cho thương.
7 : 3 = 2(dư 1) Vậy: (7 – 1) : 2
+ Muốn tìm số bị chia trong phép chia có dư, ta lấy thương nhân với số chia rồi
cộng với số dư.
7 : 3 = 2 (dư 1) Vậy: 2 x 3 + 1
+ Trong phép chia có dư, số dư nhỏ nhất là 1, số dư lớn nhất kém số chia 1 đơn
vị. ( trong chương trình toán 3 số dư trong phép chia nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 8).
VD: Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, . . . . 8. (số dư phải nhỏ hơn số
chia)
- Đặt tính và tính:
Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì
phép chia là khó nhất vì:
- Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp (có
em chỉ mới thực hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện hết). Cần hướng
dẫn kĩ cho học sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, . . . Đặc biệt đối với học sinh
yếu toán, tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp các em thấy được hàng nào
thực hiện rồi, hàng nào chưa thực hiện. Thực hiện như sau:

07
16
1

Thương tìm được.

Số dư lần chia cuối cùng (Phép chia
có dư).
* Khi hạ hàng nào phải hạ dưới sao cho thẳng hàng, để ta biết sẽ thực hiện
hàng đó, sau đó mới thực hiện hàng kế tiếp.
* Nhắc học sinh:
Tôi nói trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các phép
cộng, trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng đơn vị,
hàng chục, . . . Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tụ từ trái sang phải, hoặc từ
hàng cao nhất đến hàng thấp nhất ( hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị).
Nhìn chung, các em có tiến bộ rõ rệt. Các em không còn đặt tính sai, cộng, trừ,
nhân, chia không viết lộn kết quả và quên số nhớ nữa.
Đối với các em này, hàng ngày mỗi tiết học toán tôi gọi lên bảng thực hiện
phép tính. Tôi cũng thường xuyên đến các em yếu toán, việc làm theo yêu cầu cần
đạt của chuẩn kĩ năng, kiến thức. Có khi tôi yêu cầu những em này chỉ làm
một phần trong mỗi bài tập và hướng dẫn rất kĩ khi làm bài vào vở. Cách trình
bày từng con số, cách sửa sai để từng trang vở được sạch đẹp.
Qua một thời gian các em có tiến bộ rõ rệt. Mỗi lần thực hiện các em viết rất
rõ ràng và tính chính xác.
4) Hướng dẫn giải toán có lời văn.
Đây là chuỗi kiến thức học sinh mất căn bản. Các em thường chưa biết phân
tích đề toán, chưa biết suy luận, tổng hợp, so sánh tìm cách giải hợp lí cho từng
bài. Vì vậy, trong mỗi tiết học gặp những bài toán giải có lời văn tôi yêu cầu học
sinh như sau:
- Phần đọc thành tiếng và đọc thầm.

+ Hỏi tiếp:
Biết được mỗi can 5l mật ong. Vậy nếu có 10l mật ong thì đựng đều mấy
can như thế?
- Gợi mở để cho học sinh chọn lời giải và phép tính.
Số can đựng 10l mật ong là:
10 : 5 = 2 (can)


Đáp số: 2 can.
- Song song với qui trình hướng dẫn giải, tôi luôn lưu ý học sinh cách trình bày
bài giải sao cho phù hợp với trình tự yêu cầu của đề, cụ thể như bài toán vừa
hướng dẫn trên, tôi hướng dẫn các em trình bày như sau:
Bài giải
Số lít mật ong đựng trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số can đựng trong 10l mật ong là:
10 : 5 = 2 (can)
Đap số: 2 can.
- Những biện pháp trên được áp dụng ở lớp tôi về giải bài toán có liên quan
đến rút về đơn vị và mang lại kết quả tương đối cao, và trong lớp bây giờ có
khoảng ba phần tư học sinh giải thành thạo.
5) Giúp học sinh nắm, thuộc các qui tắc đã học.
Tuy nhiên học sinh đã biết cộng, trừ, nhân, chia, . . . cũng chưa giải hết được
các bài toán trong chương trình sách giáo khoa toán lớp 3. Vì thế tôi cần giúp cho
các em thuộc và khắc sâu các qui tắc đã học để áp dụng và làm toán tốt hơn, tôi
làm như sau:
+ Tôi soạn lại các qui tắc đã học và có ví dụ , rồi in trên giấy A4, phát cho
học sinh và yêu cầu các em phải học thuộc.
+ Tổ chức cho học sinh ôn lại qui tắc: Lớp tôi có 3 tổ tôi chia làm 3 nhóm.
Tôi thường cho các nhóm thi với nhau về các qui tắc như sau:


 Để đạt

được kết quả trên thì đòi hỏi:

* Giáo viên.
- Có tinh thần công tác giảng dạy phải có nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu,
vượt nhiều khó khăn để dồn về công sức vào nhiệm vụ giảng dạy.
- Để học sinh chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức, vận dụng được chính xác, linh
hoạt kiến thức đó trong luyện tập, thực hành thì đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn
bị kĩ nội dung bài dạy trước khi lên lớp.
- Để chuẩn bị tốt cho nội dung bài dạy, theo tôi người giáo viên phải chuẩn bị
những yêu cầu sau:
a/ Chuẩn bị thiết kế bài dạy.
* Những việc làm để chuẩn bị bài dạy.
Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức, mức độ yêu cầu kiến
thức, kĩ năng của học sinh, nghiên cứu nắm vững sự thể hiện cụ thể của chương
trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách hướng dẫn (sách giáo viên). Sưu tầm
nghiên cứu các kinh nghiệm dạy học trên các tập chí, tài liệu bồi dưỡng giáo viên
về kiến thức, nghiệp vụ, nắm tình hình điều kiện địa phương, trường lớp và hoàn
cảnh học tập của học sinh.


* Nghiên cứu tài liệu và xác định nội dung bài dạy học.
Nghiên cứu mục đích yêu cầu bài học cả về 3 mặt (kiến thức, kĩ năng tư duy
và giáo dục). Xác định kiến thức trọng tâm căn cứ trên mục đích yêu cầu. Lựa
chọn phương pháp cụ thể và phương tiện dạy học, các biện pháp sẽ thực hiện từng
khâu từng đối tượng học sinh.
* Soát lại việc chuẩn bị của học sinh về bài học.
Tình hình nắm kiến thức đã học có liên quan, tình hình sách giáo khoa và đồ

2013 - 2014. Trong quá trình thực hiện cho thấy nhiều học sinh trong lớp có tiến
bộ rõ rệt so với đầu năm. Học sinh nắm được một số kiến thức căn bản về toán lớp
3.
Qua thời gian đứng lớp giảng dạy theo cách làm trên đã đưa chất lượng lớp
tôi có kết quả rất khả quan.
+ Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp 2 đã học: 1/20 học sinh.
+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên:1/20 học sinh.
+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 1/20 học sinh.
+ Giải toán có lời văn chưa được: 2/20 học sinh.
+ Chưa thuộc hết các quy tắc đã học trong giải toán: 2/ 20 học sinh.
Còn lớp 3B kết quả như sau:
+ Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp 2 đã học: 8/20 học sinh.
+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 4/20 học sinh.
+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 8/20 học sinh.
+ Giải toán có lời văn chưa được: 13/20 học sinh.
+ Chưa thuộc hết các quy tắc đã học trong giải toán: 10/ 20 học sinh.
Đặc biệt:
Kết quả kiểm tra giữa học kì II như sau:
Giỏi: 7 học sinh.

Khá: 9 học sinh.

Trung bình: 4 học sinh.

Yếu: 0 học sinh.
Còn kết quả kiểm tra lớp 3B như sau:
Giỏi: 4 học sinh.

Khá: 5 học sinh.


+ Tăng cường phát huy phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm theo
hướng phù hợp giữa nội dung bài dạy và đối tượng học sinh đang học. Chú ý khai
thác các khía cạnh gây hứng thú của bộ môn, tạo niềm sai mê học tập cho học sinh.
+ Giáo viên tham khảo kĩ nội dung bài, xác định yêu cầu trọng tâm bài dạy
(soạn giáo án). Lựa chọn phối hợp tốt, hợp lí các phương pháp và phương tiện dạy
học, các biện pháp thực hiện trong từng khâu, từng đối tượng học sinh. Từ đó, giáo
viên truyền thụ đúng, chính xác nội dung bài, khắc sâu kiến thức. Học sinh nắm
vững nội dung bài, vận dụng luyện tập, thực hành đạt kết quả cao.
Tuy nhiên tôi nhgĩ, trên đây cũng chưa phải là những kinh nghiệm bồi dưỡng
tốt cho học sinh. Vì vậy tôi bao giờ cũng nghiên cứu tìm tòi và học hỏi mãi qua
sách báo, qua đồng nghiệp.
2. Kết luận:
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu áp dụng những kinh nghiệm và bồi dưỡng
học sinh học tốt môn toán. Thực tiển cho thấy kết quả học toán của học sinh có
chuyển biến rõ rệt. Bước đầu đã cải thiện được phương pháp và hình thức tổ chức
dạy học, chất lượng toán được nâng cao. Đồng thời đã hình thành khắc sâu cho
những kĩ năng, thói quen hứng thú, chăm chỉ học toán. Thật đáng mừng, vì sau
mấy tháng áp dụng biện pháp nghiên cứu trên mà chất lượng môn toán của lớp tôi
được nâng lên rõ rệt. Học sinh có kĩ năng, thói quen căn bản trong quá trình học
toán, góp phần nâng cao chất lượng môn toán của lớp, của trường ngày một tốt
hơn.


3. Đề xuất:
Để việc dạy và học đạt kết quả cao, tôi có một số ý đề xuất sau:
+ Nhà trường thông báo cho học sinh đến lớp và tổ chức cuộc họp Phụ huynh
học sinh sớm hơn, để phụ huynh có thời gian chuẩn bị và chăm sóc học sinh kịp
lúc.
+ Phòng giáo dục và nhà trường hỗ trợ đồ dùng học tập kịp thời cho học sinh
(sách giáo khoa, vở bài tập, bảng con, tập viết, . . .). Nhất là học sinh nghèo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status