Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác mở rộng điều tra tội phạm CGTS của Cơ quan CSĐT Công an quận Đống Đa Thành phố Hà Nội - Pdf 38

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở Thủ đô Hà Nội
nói chung, ở quận Đống Đa nói riêng có nhiều thay đổi tích cực, tình hình ANTT được
giữ vững, ổn định, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm luôn được chú trọng và
đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, mặt
trái của nền kinh tế thị trường trong những năm gần đây đã làm xuất hiện một số tội
phạm mới như tội phạm có tổ chức, tội phạm có tính quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia,
tội phạm rửa tiền, tội phạm công nghệ cao... và trong đó một vấn đề nổi cộm nên là
tình trạng CGTS trên đường phố đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp,
tính chất mức độ nghiêm trọng, phương thức, thủ đoạn hoạt động ngày càng công khai,
liều lĩnh, manh động, ngang nhiên coi thường pháp luật. Chỉ tính riêng trong năm 2005
và 2006, trên địa bàn quận Đống Đa đã xảy ra 273 vụ CGTS chiếm 22,7% số vụ
CGTS xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội. Hậu quả của tội phạm CGTS là rất
nghiêm trọng, xâm hại trực tiếp đến tài sản, tính mạng, sức khoẻ của nhân dân đồng
thời gây tâm lý bất an, hoang mang lo lắng trong quần chúng, tạo sự bức xúc trong dư
luận xã hội, tác động xấu đến tình hình TTATXH của Thủ đô.
Trước tình hình trên, thực hiện Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998
của Chính phủ về tăng cường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới và
Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm, Công an thành phố Hà Nội đã
chỉ đạo thành lập các Đội, Tổ chuyên sâu trong công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm CGTS ở cấp phòng (PC14) và cấp Đội ở Công an các quận, huyện. Vì vậy mà
hoạt động phòng ngừa, điều tra khám phá, khai thác mở rộng vụ án CGTS của Cơ
quan CSĐT quận Đống Đa đã nhận được nhiều kết quả khả quan. Hoạt động khai
thác mở rộng điều tra tội phạm nói chung và điều tra tội phạm CGTS nói riêng vừa
có vai trò, ý nghĩa đối với khoa học điều tra hình sự vừa có ý nghĩa xã hội sâu sắc
nhằm "phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội"; xác định sự thật của
vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, triệt để.
1

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm những vấn đề lý luận, thực tiễn
2


hoạt động điều tra tội phạm CGTS nói chung và hoạt động khai thác mở rộng điều
tra tội phạm này ở cơ quan CSĐT - Công an quận Đống Đa.
Phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung đề cập tới toàn bộ hoạt động khai thác
mở rộng điều tra tội phạm CGTS của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa từ
năm 2002 đến 3 tháng đầu năm 2007.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm đánh giá thực trạng tình hình tội phạm CGTS từ
năm 2002 đến nay trên địa bàn quận Đống Đa - Hà Nội; đánh giá kết quả điều tra,
khám phá, khai thác mở rộng trong điều tra tội phạm này, tìm ra nguyên nhân của
những tồn tại làm cơ sở đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động khai thác mở rộng trong điều tra tội phạm CGTS của Cơ quan CSĐT - Công
an quận Đống Đa. Để đạt được những mục đích trên, đề tài đặt ra và giải quyết
những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ những lý luận cơ bản về tội phạm CGTS và hoạt động khai thác mở
rộng trong điều tra tội phạm CGTS của Cơ quan CSĐT - Công an quận Đống Đa.
- Đánh giá tình hình tội phạm CGTS và thực trạng hoạt động khai thác mở
rộng trong điều tra tội phạm CGTS của Cơ quan CSĐT - Công an quận Đống Đa.
- Dự báo và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động khai
thác mở rộng trong điều tra tội phạm CGTS của Cơ quan CSĐT - Công an quận Đống
Đa.
5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống lý luận về điều tra hình sự, các quy định
của pháp luật về tội phạm CGTS và hoạt động điều tra của CQCSĐT các cấp.
Cơ sở thực tiễn của đề tài là thực tiễn hoạt động khai thác mở rộng trong điều
tra tội phạm CGTS của Cơ quan CSĐT - Công an quận Đống Đa từ năm 2002 đến 3
tháng đầu năm 2007, thông qua các báo cáo sơ kết, tổng kết, hồ sơ các vụ án cụ thể,

4


Nội dung
Chương I
Nhận thức lý luận về tội phạm cướp giật tài sảnvà hoạt động khai thác mở rộng trong điều
tra tội phạm cướp giật tài sản của
cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Đống Đa

1.1. Một số nhận thức lý luận về tội phạm cướp giật tài sản
1.1.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về tội phạm cướp giật tài sản
Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền hết sức quan trọng và thiết
thực. Vì vậy, ngay sau khi đã giành được chính quyền năm 1945 thì ngày 9/11/1946
Quốc Hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thông qua bản Hiến pháp
đầu tiên là cơ sở pháp lý cho các hoạt động ban hành pháp luật và các hoạt động của
Nhà nước. Tại Điều 12, Hiến pháp 1946 đã quy định: "Quyền tư hữu tài sản của
công dân được đảm bảo".
Sau khi giành được chính quyền tháng 8 năm 1945, do phải đương đầu với các
thế lực phản động trong nước và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống
thực dân Pháp, nên Nhà nước ta chưa kịp ban hành các văn bản pháp luật về các tội
xâm phạm sở hữu nói chung cũng như tội phạm CGTS của công dân nói riêng. Ngày
10/10/1945 Chính phủ ra Sắc lệnh số 47 cho phép áp dụng một số điều luật cũ của Đế
quốc phong kiến với điều kiện là không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt
Nam và chính thể Dân chủ cộng hoà.
Đến năm 1959, Toà án nhân dân tối cao ra Chỉ thị 772-TATC ngày 10/7/1959
về vấn đề đình chỉ áp dụng luật pháp cũ của đế quốc, phong kiến. Để áp ứng yêu cầu
công tác xét xử, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Thông tư 442-TTg ngày 19/1/1955
hướng dẫn các Toà án trừng trị một số tội phạm trộm cắp, cướp của, lừa gạt, bội tín...
Tuy vậy, các tội phạm được quy định trong văn bản này còn đơn giản, chung chung,
đường lối xử phạt chưa rõ ràng, khi áp dụng gặp nhiều khó khăn, không thống nhất.

đấu tranh với các hành vi phạm tội.
Tội phạm CGTS được quy định ghép chung với tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản, quy định tại Điều 131 và Điều 154.
* Điều 131 quy định tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã
hội chủ nghĩa.
* Điều 154 quy định về tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của
công dân.
6


Đến năm 1986, đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, tiến hành
công nghiệp hoá - hiện đại hoá, mở cửa hội nhập BLHS năm 1985 qua nhiều lần
sửa đổi không còn phù hợp nữa và đến năm 1999, BLHS mới ra đời được Quốc hội
nước ta thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực thi hành từ tháng 7/2000.
Tại Điều 136, Chương XIX - BLHS 1999, tội phạm cướp giật tài sản được
quy định cụ thể như sau:
1. Người nào CGTS của người khác thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm
đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà có tỷ lệ
thương tật từ 11% đến 30%.
g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
h) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm
đến mười lăm năm:

người phạm tội.
- Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở việc công khai chiếm đoạt
tài sản đang do người khác quản lý, sở hữu rồi nhanh chóng tẩu thoát. Công khai
chiếm đoạt tài sản có nghĩa là người phạm tội không cần che giấu hành vi của mình
trong lúc thực hiện, chủ sở hữu biết ngay tài sản của mình vừa bị chiếm đoạt. Các
hành vi cụ thể như: chộp lấy, giằng lấy, vồ lấy, giật lấy...
Nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát là đặc trưng cơ bản
8


của tội phạm CGTS để phân biệt với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài
sản. Nói cách khác, người phạm tội có được tài sản trong tay bằng việc nhanh chóng
chạy trốn. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt, người phạm tội đã lợi dụng sơ hở của
người chủ sở hữu, người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra các
sơ hở nhằm có điều kiện thuận lợi để tiếp cận tài sản, bất ngờ thực hiện hành vi
(chộp, giật, vồ...) nhằm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, có thể có những sự tác động lên
thân thể của người bị hại, nhưng sự tác động này không nhằm mục đích gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe nạn nhân.
Những tài sản mà bọn tội phạm thường nhằm vào để cướp giật và những vật
có giá trị, nhỏ, gọn, có thể lấy và mang đi dễ dàng như dây chuyền vàng, điện thoại
di động, túi xách, đồng hồ, ví... Với thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt như vậy,
người phạm tội mong muốn chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản không kịp có
điều kiện phản ứng, ngăn cản việc chiếm đoạt, do vậy hoàn toàn không có ý định
dùng bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó với người trực tiếp giữ tài sản.
Tội phạm được hoàn thành từ khi thực hiện xong hành vi "giật tài sản" không kể
sau đó kẻ phạm tội có lấy được tài sản hay bỏ lại tài sản đã cướp giật để tẩu thoát. Do
vậy, tội phạm cướp giật là loại tội phạm có cấu thành hành vi chứ không cấu thành vật
chất.
- Mặt chủ quan của tội phạm:

điều tra, trinh sát để làm rõ và mở rộng vụ án chứ không phải chỉ sử dụng chiến
thuật xét hỏi, mà chiến thuật xét hỏi (hỏi cung bị can) chỉ là một chiến thuật trọng
tâm và trực tiếp khai thác mở rộng có hiệu quả nhất trong các biện pháp chiến thuật
được sử dụng để khai thác mở rộng vụ án.
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm: "Khai thác mở rộng
điều tra vụ án là hoạt động của những CQĐT và những cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định được tiến hành bằng cách sử dụng
tổng hợp các biện pháp, chiến thuật điều tra, trinh sát nhằm khai thác triệt để và mở
rộng về đối tượng phạm tội, về các vụ án chúng đã gây ra và các vấn đề khác có liên
quan mà CQĐT chưa nắm được".
10


Như vậy, khai thác mở rộng điều tra tội phạm CGTS: "Là hoạt động điều tra
của CQCSĐT tội phạm về TTXH và những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra trong lực lượng CSND theo luật định được tiến hành bằng
cách sử dụng tổng hợp các biện pháp, chiến thuật điều tra, trinh sát điều tra trinh sát
để nghiên cứu, tìm tòi các điều có ích còn ẩn giấu nhằm khai thác triệt để và mở
rộng các đối tượng trong ổ nhóm cướp giật, các vụ án mà chúng đã gây ra và các
vấn đề khác có liên quan, phục vụ cho yêu cầu điều tra, chứng minh làm rõ tội
phạm". Thực chất của hoạt động khai thác mở rộng là việc nghiên cứu đánh giá một
cách tổng hợp các chứng cứ, các điều kiện khách quan, chủ quan ở một thời điểm
điều tra để phối hợp tìm tòi các mâu thuẫn, bất hợp lý trong điều kiện, khả năng cho
phép.
Đặc điểm về khai thác mở rộng điều tra tội phạm CGTS:
Khai thác mở rộng điều tra tội phạm CGTS chính là hoạt động điều tra, nó
vừa là yêu cầu điều tra vụ án CGTS đã được Luật TTHS quy định. Hoạt động khai
thác mở rộng điều tra tội phạm cướp giật tài sản được titến tiến hành trong suốt cả
giai đoạn điều tra vụ án từ khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm đến khi kết thúc
điều tra, là một hoạt động quan trọng không thể thiếu trong giai đoạn điều tra vụ án

của Bộ Luật TTHS năm 2003; những vấn đề cần chứng minh làn rõ, khai thác mở
rộng trong vụ án CGTS là:
- Có hành vi CGTS xảy ra hay không?
- Thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm?
- Tài sản bị cướp giật là tài sản gì?
- Phương thức, thủ đoạn gây án; công cụ, phương tiện mà bọn tội phạm đã sử
dụng trong quá trình gây án?
- Xác định rõ người thực hiện hành vi CGTS là ai? Có đồng phạm hay
không?
- Làm rõ người bị hại trong các vụ án CGTS.
- Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can; nguyên nhân và
điều kiện làm phát sinh tội phạm.
Từ những vấn đề cần chứng minh là cơ sở để xác định những vấn đề cần khai
thác mở rộng trong điều tra tội phạm cướp giật như sau:
12


- Làm rõ những đối tượng còn lại trong băng, ổ nhóm tội phạm CGTS để có
cơ sở truy bắt tất cả các đối tượng đã gây án.
- Làm rõ vai trò, vị trí, hành vi của các đối tượng trong băng, ổ nhóm tội phạm.
- Làm rõ các hành vi pham tội trước đó mà các đối tượng đã gây ra, kể cả các
hành vi phạm tội khác.
- Khai thác mở rộng các băng, ổ nhóm tội phạm khác mà đối tượng cướp giật
có thể biết được.
Tóm lại: Để làm rõ và khai thác mở rộng tội phạm và người thực hiện hành vi
phạm tội CGTS một cách nhanh chóng, chính xác, toàn diện, xử lý kịp thời, công minh
mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, cán bộ điều
tra, ĐTV cần phải xác định rõ những vấn đề cần chứng minh, cần khai thác mở rộng
trong điều tra tội phạm CGTS trong từng vụ án cụ thể. Đối với nội dung khai thác mở
rộng cần tập trung vào số đối tượng phạm tội, ổ nhóm tội phạm, các vụ án chúng đã

1.2.3.2. Khai thác mở rộng trong lấy lời khai người bị hại, người làm chứng
Trong hoạt động khai thác mở rộng điều tra tội phạm CGTS, xác định lấy lời
khai người bị hại, người làm chứng là những biện pháp điều tra cấp bách nhằm thu
thập tài liệu, chứng cứ làm cơ sở tiến hành truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng, khai
thác mở rộng điều tra vụ án. Khi lấy lời khai của người bị hại, ĐTV cần làm rõ tất cả
những tình tiết có liên quan đến vụ án, trong đó tập trung làm rõ các vấn đề cơ bản sau
đây:
- Thời gian, địa điểm xảy ra vụ CGTS.
- Họ tên, tuổi, địa chỉ, nơi làm việc, số điện thoại của người bị hại.
- Số lượng, chủng loại, giá trị, đặc điểm riêng của tài sản bị chiếm đoạt.
- Số lượng, đặc điểm của đối tượng; đặc điểm nhận dạng.
- Đối tượng có sử dụng phương tiện như xe mô tô, xe máy không, nếu có thì
cho biết đặc điểm của phương tiện đó. Thủ đoạn tiếp cận và CGTS.
- Hướng tiếp cận để CGTS và hướng rút chạy của thủ phạm.
- Đặc điểm của người bị hại: đi bộ hay đi xe, đặc điểm phương tiện, đi với
những ai, vị trí cất giữ tài sản trước khi bị cướp giật.
- Diễn biến hành vi của thủ phạm và người bị hại trên hiện trường.
14


- Lai lịch người bị hại, lý do có mặt tại hiện trường, có ai biết tài sản của
người bị hại mang theo không.
- Những người chứng kiến sự việc xảy ra.
- Có bị thương tích do hành vi CGTS mà thủ phạm gây ra không, nếu bị
thương tích có yêu cầu giám định thương tích không.
Để truy tìm và phát hiện người làm chứng, ĐTV có thể tiến hành gặp gỡ, gợi
chuyện những người xung quanh khu vực hiện trường dọc theo đường đến và rút
chạy khỏi hiện trường của thủ phạm để xác định có ai biết được tình tiết nào có liên
quan đến vụ án không. Hoặc thông qua đoàn thể, tổ chức, chính quyền phát động
quần chúng nhằm thuyết phục người biết tin tức của vụ án giúp đỡ CQĐT. Hoặc

tra là: đối tượng hình sự có mặt trong địa bàn, nơi xảy ra vụ phạm tội, chú ý đối
tượng có tiền án, tiền sự về tội CGTS, đối tượng nghiện ma tuý, chơi cờ bạc và các
tệ nạn khác; những thanh niên hư hỏng; những người có xe máy mang những đặc
điểm giống xe máy của người phạm tội đã sử dụng và có nhiều biểu hiện nghi vấn;
những nơi buôn bán đồ cũ, hiệu cầm đồ, nơi thu đổi ngoại tệ. Cần tập trung xác
minh những đối tượng có cơ sở nghi vấn nhiều nhất. Nội dung kiểm tra xác minh là:
việc sử dụng thời gian của đối tượng; đồ vật mà đối tượng bỏ lại hiện trường; đối
tượng có liên quan đến xe máy là phương tiện thực hiện tội phạm; những đối tượng
mà người bị hại, người làm chứng xác định là người phạm tội. Những biện pháp
kiểm tra, xác minh: Soát xét những đối tượng hình sự, những người nghi vấn, xem
xét di biến động, thăm dò diễn biến tâm lý để sàng lọc đối tượng; tập trung xác
minh việc sử dụng thời gian của đối tượng, tình hình ăn tiêu, sinh hoạt bất minh; bố
trí giám sát những người có quan hệ với đối tượng để phát hiện kịp thời hành động
câu kết tiêu thụ tài sản chiếm đoạt được; sử dụng mạng lưới bí mật để tiếp cận; phối
hợp các lực lượng Công an quận, huyện trong thành phố Hà Nội để truy xét đối
tượng; phối hợp Cảnh sát giao thông kiểm tra phương tiện; phục kích ở địa bàn nghi
vấn về khả năng chúng tiếp tục CGTS hoặc tiêu thụ tài sản để bắt quả tang; tiến
hành khai thác những tên đã bị bắt giam có khả năng hiểu biết vụ án đang điều tra...
1.2.3.3. Khám xét
Khám xét bị can đối với các vụ CGTS cần phải tính toán kỹ và có kế hoạch
16


khám xét chu đáo. Sau khi bắt được bị can cần phải khám xét ngay người, nơi ở, nơi
ẩn náu của bị can để thu giữ công cụ phương tiện mà bị can sử dụng gây án, tài sản
bị cướp giật, tài liệu phản ánh nhân thân của bị can, đồng thời khai thác mở rộng vụ
án và các đối tượng có liên quan. Đối với những bị can có nhiều tiền án, tiền sự,
hoạt động lưu động, ĐTV cần làm rõ những nơi ẩn náu khác của bị can như: nơi
tiêm chích, hút, hít ma tuý và khám xét những nơi này. ĐTV phải biết sử dụng
những biện pháp tìm kiếm thích hợp trên cở nghiên cứu đặc điểm địa điểm khám

trinh sát tiến hành triệt phá băng, ổ nhóm.
1.2.3.4. Tiến hành những biện pháp trinh sát và biện pháp sử dụng đặc tình
trại giam để khai thác mở rộng điều tra tội phạm cướp giật tài sản
Khi tiến hành điều tra, khai thác mở rộng các vụ án CGTS, ĐTV cần phối hợp
với các lực lượng trinh sát để tiến hành những biện pháp trinh sát hỗ trợ như xây
dựng và sử dụng mạng lưới bí mật, nhất là xây dựng và sử dụng đặc tình, cơ sở bí
mật; hoặc bố trí mạng lưới đặc tình, cơ sở bí mật sẵn có của lực lượng trinh sát thâm
nhập vào các ổ nhóm tội phạm để xác minh thủ đoạn của vụ án cướp giật.
Nếu có cơ sở nhận định thủ phạm của vụ án cướp giật tiếp tục gây án thì
ĐTV phối hợp với lực lượng trinh sát tiến hành mai phục, tuần tra bí mật, hoá trang
ở những tuyến đường, địa điểm, trên các phương tiện giao thông... mà thủ phạm có
thể xuất hiện tiếp tục gây án để bắt quả tang.
Tiến hành các biện pháp trinh sát cụ thể như: trinh sát xác minh, trinh sát nội
tuyến, trinh sát ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật... để phục vụ cho khai thác mở rộng
đối tượng phạm tội cướp giật... Tiến hành các biện pháp điều tra cơ bản, sưu tra, xác
minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án để khai thác mở rộng điều tra vụ án cướp giật,
trong đó đấu tranh chuyên án gồm chuyên án trinh sát và chuyên án truy xét là biện
pháp khai thác mở rộng điều tra vụ án CGTS có hiệu quả cao.
Những vụ CGTS lớn, tính chất nghiêm trọng, cần điều tra, khám phá, khai
thác mở rộng nhanh, thu hồi kịp thời tài sản quý của Nhà nước, nhân dân; những vụ
án mà đối tượng có khả năng hiểu biết nhiều về đồng bọn, phương thức thủ đoạn
hoạt động của băng, ổ nhóm cướp giật thì cần sử dụng biện pháp sử dụng đặc tình
trại giam phục vụ hỏi cung bị can phạm tội cướp giật. Cần chú ý xây dựng đặc tình
18


có lòng trung thành, có khả năng trinh sát, khai thác mở rộng phát hiện các vụ án
cướp giật khác mà ĐTV chưa khám phá được.
1.2.4. Quan hệ phối hợp lực lượng trong hoạt động khai thác mở rộng điều
tra tội phạm cướp giật tài sản

đấu tranh phòng chống tội phạm trên các tuyến, địa bàn nhất là các mặt công tác
trinh sát, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, xác lập và tiến hành các chuyên án trinh
sát, khai thác mở rộng điều tra vụ án...
+ Tìm ra các mối quan hệ, quy luật hoạt động, câu kết giữa đối tượng hình sự
với các đối tượng kinh tế, ma tuý để xây dựng các kế hoạch, biện pháp đấu tranh thích
hợp.
- Mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng CS ĐTTP về TTXH với CSQLHC về TTXH.
Đây là mối quan hệ giữa các hoạt động nghiệp vụ trinh sát, điều tra với các
hoạt động quản lý hành chính công khai theo chức năng của lực lượng CSND.
+ Thường xuyên phối hợp với lực lượng CSQLHC để thu thập thông tin, tài
liệu về tội phạm thông qua các mặt công tác nghiệp vụ của CSQLHC như công tác
quản lý nhân khẩu, hộ khẩu; quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đăng ký,
quản lý, cấp phát CMND; quản lý tạm trú, tạm vắng; quản lý vũ khí...
+ Phối hợp với CSQLHC để tổ chức thực hiện các kế hoạch, yêu cầu khai
thác mở rộng điều tra tội phạm trên tuyến, địa bàn như truy nã, truy tìm, xác minh
hiềm nghi, xây dựng mạng lưới bí mật.
- Mối quan hệ giữa lượng CSĐTTP về TTXH với Cảnh sát trại giam để khai
thác thông tin, tài liệu từ công tác quản lý, cải tạo phạm nhân, công tác xây dựng
mạng lưới cộng tác viên bí mật như đặc tình trại tạm giam để tiến hành khai thác
mở rộng điều tra tội phạm CGTS.
+ Phối hợp chặt chẽ với lực lượng Cảnh sát giao thông để khai thác tài liệu từ
công tác tuần tra kiểm soát giao thông, đăng ký quản lý phương tiện, công tác sưu
tra, xác minh hiềm nghi, xây dựng mạng lưới cộng tác viên bí mật trên các tuyến
giao thông... để phát hiện thông tin, tài liệu về âm mưu, hoạt động hoặc sự câu kết,
móc nối của các đối tượng cướp giật, phát hiện tang vật, phương tiện mà bọn tội
phạm sử dụng, tài sản chiếm đoạt được đang tiêu thụ...
+ Phối hợp với Cảnh sát giao thông, Cảnh sát bảo vệ, Cảnh sát trật tự để tiến
20



giáp quận Thanh Xuân (ranh giới là đường Trường Chinh và đường Láng), phía Tây
giáp quận Cầu Giấy (ranh giới là sông Tô Lịch), có diện tích rộng 9,96km 2, dân số
thường trú là 352 nghìn người, là quận có số dân nhiều nhất của thủ đô Hà Nội.
Quận Đống Đa có 22 phường, trạm đó là: Văn Miếu, Quốc Tử Giám, Hàng Bột,
Nam Đồng, Trung Liệt, Khâm Thiên, Phương Liên, Phương Mai, Khương Thượng,
Ngã Tư Sở, Láng Thượng, Cát Linh, Văn Chương, Ô Chợ Dừa, Quang Trung, Láng
Hạ và Trạm Ga.
Đống Đa là quận có số dân nhiều nhất 352.000 người với 99.291 hộ, 400.168
nhân khẩu, trong đó KT2 đến: 9548 hộ, 39.184 nhân khẩu; KT2 đi: 11.315 hộ,
46.587 nhân khẩu; KT3: 3191 hộ, 12.044 nhân khẩu; KT4 410 hộ, 1667 nhân khẩu,
còn lại là KT1; số người từ 15 tuổi trở lên là 304.079 người. Hiện tại có hơn 500
người gốc Hà Nội chưa đăng ký hộ khẩu, 15.430 học sinh, sinh viên từ các tỉnh
ngoài về quận cư trú tự do nhiều năm. Tình hình di dân tự do từ các địa phương về
địa bàn Đống Đa làm ăn sinh sống trong những năm gần đây tăng cao tới 25.162
người kéo theo những vấn đề phức tạp về an ninh trật tự, tình hình tội phạm, tệ nạn
22


xã hội và các vấn đề khác. Trong những năm qua tỷ lệ người thiếu việc làm, thất
nghiệp tăng cao, số này có khoảng hơn 10.000 người.
Về tình hình tội phạm từ 2002 - 2006, trên địa bàn quận Đống Đa xảy ra
3.424 vụ phạm pháp hình sự, trung bình một năm xảy ra 648 vụ. So với số vụ phạm
pháp hình sự của Thành phố chiếm tỷ lệ 10,7% (3424 vụ/ 32130 vụ), là một trong
những quận có số vụ phạm pháp hình sự cao nhất Thành phố.
Loại tội phạm gây án nghiêm trọng có chiều hướng tăng, đối tượng là người
tỉnh ngoài gây án chiếm 18%. Số đối tượng bị bắt giữ, đối tượng phạm pháp hình
sự có xu hướng trẻ hoá (60% tuổi thanh, thiếu niên), đối tượng nghiện ma tuý chiếm
38%. Đặc biệt chú ý hiện nay đối tượng hình sự là thanh niên, người chưa thành
niên gây án có chiều hướng tăng, hoạt động rất manh động, trắng trợn, liều lĩnh và
thường tụ tập thành băng, ổ, nhóm đông đối tượng để gây án cướp, cướp giật, cưỡng

toàn Thành phố Hà Nội chiếm tỷ lệ 18,5% và so với số vụ phạm pháp hình sự nói
chung ở Đống Đa chiếm tỷ lệ 12,0% (446/3709vụ) được phân tích cụ thể như sau:
(Xem bảng thống kê số 1 và 3 phần phụ lục).
- Năm 2002: Xảy ra 56 vụ CGTS chiếm tỷ lệ 6,9% các vụ phạm pháp hình sự
ở Đống Đa (56/810 vụ) và chiếm tỷ lệ 13,5% so với tổng số vụ CGTS toàn thành
phố Hà Nội (56/416 vụ).
- Năm 2003: Xảy ra 44 vụ CGTS chiếm tỷ lệ 4,9% các vụ phạm pháp hình sự
ở Đống Đa (44/889 vụ) và chiếm tỷ lệ 14,8% so với tổng số vụ CGTS toàn thành
phố Hà Nội. So với năm 2002 giảm 12 vụ, tỷ lệ giảm là 21,5% (12/56 vụ).
- Năm 2004: Xảy ra 44 vụ CGTS chiếm tỷ lệ 8,7% các vụ phạm pháp hình sự
ở Đống Đa (44/507 vụ) và chiếm tỷ lệ 14,6% so với tổng số vụ CGTS toàn thành
phố Hà Nội (44/302 vụ). So với năm 2003 thì số vụ CGTS trên địa bàn quận Đống
Đa không tăng, không giảm.
- Năm 2005: Xảy ra 88 vụ CGTS chiếm tỷ lệ 15,1% các vụ phạm pháp hình
sự ở Đống Đa (88/582 vụ) và chiếm tỷ lệ 18,7% so với tổng số vụ CGTS toàn thành
phố Hà Nội (88/471 vụ), tăng 44 vụ.
- Năm 2006: Xảy ra 185 vụ CGTS chiếm tỷ lệ 29,1% các vụ phạm pháp hình
sự ở Đống Đa (185/636 vụ) và chiếm tỷ lệ 25,3% so với tổng số vụ CGTS toàn
24


thành phố Hà Nội (185/730 vụ). So với năm 2005, tội phạm CGTS tiếp tục gia tăng
rất nhanh gấp 2,1 lần; tăng 97 vụ, với tỷ lệ tăng là 110,2% (97/88 vụ).
- Ba tháng đầu năm 2007: Xảy ra 29 vụ CGTS chiếm tỷ lệ 10,2% các vụ phạm
pháp hình sự ở Đống Đa (29/285vụ) và chiếm tỷ lệ 15,1% so với tổng số vụ CGTS 3
tháng đầu năm trên địa bàn toàn thành phố Hà Nội (29/193 vụ).
Về diễn biến tội phạm cướp giật cho thấy, trong các năm 2002, 2003, 2004 số
vụ cướp giật thấp và có chiều hướng giảm từ 56 xuống 44 vụ, nhưng đến năm 2005
và nhất là năm 2006 số vụ cướp giật tăng đột biến, tăng rất nhanh từ 44 vụ đến 88
vụ và 185 vụ. Năm 2006 so với năm 2003, 2004 số vụ tăng gấp 4,2 lần (185/44 vụ).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status