BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------PHẠM THÁI BÌNH
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN VIỆT HÀ
Hà Nội - Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu
khoa học, độc lập của tôi. Trong quá trình viết luận văn, tác giả có
tham khảo và sử dụng những thông tin, số liệu từ một số cuốn sách
chuyên ngành, đề tài nghiên cứu khoa học, tạp chí, báo điện tử...
theo danh mục tài liệu tham khảo. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Phạm Thái Bình
3
UBCKNN
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
SGDCK
Sở giao dịch chứng khoán
TTCK
Thị trường chứng khoán
TTCKPS
Thị trường chứng khoán phái sinh
TTLKCK
Trung tâm lưu ký chứng khoán
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Bảng 2.1
Tên bảng
Bảng tổng hợp thị trường chứng khoán Việt Nam
lượng cổ phiếu và chứng chứng chỉ quỹ giao dịch
các năm từ 2010 - 2012
5
50
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ..............................................................................................................2
Lời cam đoan...............................................................................................................3
Danh mục các chữ viết tắt ...........................................................................................4
Danh mục các bảng .....................................................................................................5
MỞ ĐẦU.....................................................................................................................9
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH ..............................................................12
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán và công cụ phái sinh...........................12
1.1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán ...................................................12
1.1.2. Khái niệm về công cụ tài chính phái sinh ..............................................14
1.1.3. Phân loại công cụ phái sinh....................................................................16
1.1.4. Ứng dung của chứng khoán phái sinh ....................................................21
1.1.5. Thị trường chứng khoán phái sinh .........................................................24
1.2. Điều kiện để xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh...............................25
1.2.1. Điều kiện về quy mô của TTCK cơ sơ...................................................25
1.2.2. Điều kiện về pháp lý...............................................................................26
1.2.3. Điều kiện về thông tin trên thị trường ....................................................27
1.2.4. Điều kiện về hạ tầng kỹ thuật.................................................................28
2.4.2. Quy mô phát triển của TTCK Việt Nam ................................................74
2.4.3. Định hướng của cơ quan quản lý nhà nước............................................74
2.4.4. Kinh nghiệm của các nước đi trước .......................................................75
2.5. Đánh giá chung về hạn chế để xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh
Việt Nam .................................................................................................................75
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VIỆT NAM............................................................78
3.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020........................78
3.2. Đề xuất các giài pháp xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam 79
3.2.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về thị trường chứng khoán phái sinh.............79
3.2.2. Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại cho thị trường chứng
khoán phái sinh.................................................................................................82
7
3.2.3. Phát triển nguồn nhân lực phục vụ thị trường thị trường chứng khoán
phái sinh............................................................................................................86
3.2.4. Đẩy mạnh công tác quảng bá và khuyến khích các nhà đầu tư, doanh
nghiệp tham gia thị trường...............................................................................87
3.3. Mô hình xây dựng thị trường Chứng khoán phái sinh Việt Nam ..............88
3.3.1. Mô hình tổ chức thị trường.....................................................................88
3.3.2. Pháp luật cho thị trường .........................................................................89
3.3.3. Hàng hoá giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh ...................89
3.3.4. Cơ chế giao dịch của thị trường .............................................................89
3.3.5. Quy trình giao dịch chứng khoán phái sinh............................................90
3.3.6. Công tác giám sát thị trường .................................................................92
3.3.7. Công bố thông tin giao dịch ...................................................................93
KẾT LUẬN ...............................................................................................................94
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................95
chứng khoán phái sinh trên TTCK Việt Nam đã trở nên thiết thực và ý nghĩa hơn
bao giờ hết. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Đề xuất một số giải pháp xây dựng thị
9
trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sỹ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Trong thời gian vừa qua, ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa
học và các bài viết về thị trường chứng khoán nói chung và thị trường chứng khoán
phái sinh nói riêng, các công trình khoa học này đã đưa ra những vấn đề lý luận và
thực tiễn để nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển giao dịch của các công cụ chứng
khoán và chứng khoán phái sinh. Hiện nay, khi mà khung pháp lý cho thị trường
chứng khoán phái sinh đang được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chuẩn bị hoàn
thiện, việc đưa vào vận hành thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam đang
trở thành một nhu cầu cấp thiết của cơ chế phòng ngừa rủi ro trên thị trường chứng
khoán. Vì vậy, tác giả nhận thấy nghiên cứu về các giải pháp xây dựng thị trường
chứng khoán phái sinh Việt Nam là cần thiết và thiết thực
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề cơ bản về công cụ phái sinh, thị trường
chứng khoán phái sinh, tổng hợp, thống kê một số mô hình tổ chức thị trường chứng
khoán phái sinh tiêu biểu trên thế giới.
- Nghiên cứu lịch sử hình thành phát triển của TTCK Việt Nam, thực trạng
TTCK và TTCKPS Việt Nam hiện nay từ đó đánh giá, phân tích các điều kiện hình
thành thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam trong tương lai.
- Đề xuất một số giải pháp để xây dựng TTCKPS Việt Nam.
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các lý luận cơ bản về
chứng khoán phái sinh và các điều kiện xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh
ở Việt Nam
sinh ở Việt Nam.
11
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán và công cụ phái sinh
1.1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính,
thị trường chứng khoán có thể được hiểu là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua
bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng
khoán. Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành được thể hiện dưới hình
thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. Thị trường chứng khoán không
giống như thị trường các hàng hoá thông thường khác vì hàng hoá thị trường chứng
khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản, loại hàng hoá này
cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển
bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hànhg hoá.
Cấu trúc thị trường chứng khoán được phân theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Tuy nhiên, thông thường, ta có thể xem xét ba cách thức cơ bản là phân loại theo
hàng hoá, phân loại theo quá trình luân chuyển vốn và phân loại theo hình thức tổ
chức của thị trường, cụ thể như sau:
Phân loại theo hàng hoá được mua bán trên thị trường, thì có thể chia thành
thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn suất. Thị
trường trái phiếu là thị trường mà hàng hoá là trái phiếu; trái phiếu là một loại
chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho
người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định,
thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản cho vay ban
đầu khi nó đáo hạn. Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch mua bán trao đổi cổ phiếu,
Phân loại thị trường chứng khoán theo hình thức tổ chức của thị trường thì ta
có thị trường tập trung và thị trường phi tập trung: Thị trường tập trung hay tại Sở
giao dịch chứng khoán, là thị trường chứng khoán được tổ chức tại một địa điểm tập
trung gọi là sàn giao dịch hoặc thông qua hệ thống máy tính. Các chứng khoán được
niêm yết tại Sở giao dịch là các chứng khoán đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết do Sở
giao dịch đặt ra và phải được lưu ký để tạo thuận lợi, đảm bảo an toàn và tiết kiệm
chi phí cho việc giao dịch. Việc mua bán chứng khoán tại Sở giao dịch phải thực
13
hiện qua trung gian là các công ty chứng khoán thành viên của Sở. Sở giao dịch
chứng khoán được quản lý một cách chặt chẽ bởi Ủy ban chứng khoán quốc gia, các
giao dịch chịu sự điều tiết của Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán; Thị
trường giao dịch phi tập trung (thị trường OTC), là thị trường không có trung tâm
giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự kinh doanh chứng
khoán mua bán với nhau và với nhà đầu tư. Các nhà kinh doanh chứng khoán có thể
trực tiếp thương lượng về giá cả cũng như thời gian thanh toán của những chứng
khoán mà họ muốn giao dịch mà không cần thông qua các công ty tài chính trung
gian. Ở thị trường này, các nhà kinh doanh đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường. Họ
có một danh mục chứng khoán và sẵn sàng mua bán chứng khoán với bất cứ ai có
nhu cầu và chấp nhận giá của họ. Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC
thường được hiểu là của những công ty không hội đủ các yêu cầu niêm yết trên thị
trường chứng khoán tập trung.
1.1.2. Khái niệm về công cụ tài chính phái sinh
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên
cơ sở những công cụ tài chính đó nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi
ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn
từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng
khoán, lợi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm
thành và phát triển các chứng khoán phái sinh. Các chủ thể tham gia thị trường tài
chính tạo ra các công cụ phái sinh và sử dụng chúng để thực hiện mục đích kinh
doanh hoặc hạn chế rủi ro trong đầu tư.
+ Hoạt động của thị trường phái sinh góp phần làm tăng tính thanh khoản
của các loại chứng khoán trên thị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìm
kiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua
bán chứng khoán thực tế.
+ Với sự xuất hiện chứng khoán phái sinh làm tăng số lượng hàng hoá trên
thị trường tài chính. Những nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua các giao
dịch phái sinh mà không cần phải thực hiện mua bán chứng khoán thực tế.
15
+ Giao dịch chứng khoán phái sinh góp phần giảm chi phí giao dịch, hạn chế
rủi ro… Từ đó, tạo nên những lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia, góp phần
ổn định và phát triển thị trường tài chính.
+ Công cụ tài chính phái sinh không yêu cầu một khoản đầu tư thuần ban đầu
nào hoặc chỉ yêu cầu một khoản đầu tư thuần ban đầu thấp hơn so với các loại hợp
đồng khác có phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của yếu tố thị trường. Điều này
có nghĩa là một nhà đầu tư có thể không cần bỏ ra bất kỳ một khoản tiền nào
(chẳng hạn như trong giao dịch kỳ hạn, hoán đổi,…) hoặc chỉ bỏ ra một khoản
tương đối nhỏ (ví dụ : phí quyền chọn trong giao dịch quyền chọn, tài khoản đặt
cọc và duy trì trong giao dịch tương lai,…) so với giá trị của những hợp đồng
tương tự (hợp đồng mua bán giao ngay,…), nhưng vẫn có thể tham gia vào thị
trường phái sinh và thu lợi nhuận hoặc phòng ngừa rủi ro.
+ Khác với mua bán giao ngay, các nhà đầu tư khi tham gia thị trường
phái sinh có quyền thanh toán (đôi khi là từ chối thanh toán trong các hợp đồng
quyền chọn) tại hoặc trước một thời điểm nhất định theo thỏa thuận (đối với thị
trường phi tập trung) hoặc theo quy định (đối với thị trường tập trung). Đây cũng
CCPS cũng có thể được giao dịch trên các sàn giao dịch.
Các loại hợp đồng phái sinh phổ biến
Hợp đồng kỳ hạn (Forward)
Hợp đồng kỳ hạn là công cụ lâu đời nhất và đơn giản nhất. Hợp đồng kỳ hạn
là thoả thuận mua hoặc bán một tài sản (hàng hoá hoặc các tài sản tài chính) tại một
thời điểm trong tương lai với một giá đã thoả thuận ngày hôm nay. Hàng hoá ở đây
có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào, từ nông sản, các đồng tiền, cho tới các chứng
khoán. Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai
bên tự thoả thuận với nhau. Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm
giao nhận hàng hoá có thể tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong
hợp đồng. Khi đó, một trong hai bên sẽ bị thiệt hại do đã cam kết một mức giá thấp
hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường. Như vậy bằng việc tham
gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng
như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình. Khi có thay đổi giá cả trên thị trường
giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp
đồng. Ngoài ra, vì mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể
không chính xác.
Hợp đồng tương lai (Future)
17
Hợp đồng tương lai (hay còn gọi là hợp đồng giao sau) là hợp đồng giữa hai
.
bên, người mua và người bán, để mua bán tài sản vào một ngày trong tương lai với
giá đã thoả thuận ngày hôm nay mà không phụ thuộc vào giá ở thời điểm thực hiện
hợp đồng. Hợp đồng giao sau tiến triển từ hợp đồng kỳ hạn nên có những điểm
giống với hợp đồng kỳ hạn. Về bản chất, chúng giống tính thanh khoản của hợp
Hợp đồng giao sau rất giống với một danh mục các hợp đồng kỳ hạn. Tuy
nhiên, hợp đồng giao sau và một danh mục các hợp đồng kỳ hạn chỉ giống nhau khi
lãi suất là có thể xác định trước, tức là biết được một cách chắc chắn. Vào lúc đóng
cửa mỗi ngày, các hợp đồng giao sau mang tính kỳ hạn đang tồn tại sẽ được thanh
toán cũng như 1 hợp đồng mới được ký kết. Tính chất thanh toán hàng ngày kết hợp
với yêu cầu ký quỹ cho phép hợp đồng giao sau giảm thiểu đáng kể rủi ro tín dụng
vốn có của hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng quyền chọn (Option)
Là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó cho người mua
quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào ngày
trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Người mua quyền chọn trả cho
người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn. Người bán quyền chọn sẵn sàng bán
hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo điều khoản của hợp đồng nếu người mua muốn
thế. Một quyền chọn để mua tài sản gọi là quyền chọn mua (call), một quỳên chọn
bán một tài sản gọi là quyền chọn bán (put). Mặc dù các quyền chọn được giao dịch
trong một thị trường có tổ chức nhưng phần lớn các giao dịch quyền chọn được
quản lý riêng rẽ giữa hai bên. Những người này tự tìm đến với nhau, loại thị trường
này gọi là thị trường OTC, đây chính là loại thị trường quyền chọn xuất hiện đầu
tiên. Hầu hết các quyền chọn chúng ta quan tâm là mua bán các loại tài sản tài chính
chẳng hạn như cổ phiếu, trái phiếu… Mặc dù vậy, chúng ta cũng thấy xuất hiện loại
thoả thuận tài chính khác như hạn mức tín dụng, đảm bảo khoản vay, và bảo hiểm
cũng là một hình thức khác của quyền chọn. Ngoài ra, bản thân cổ phiếu cũng là
quyền chọn trên tài sản công ty. Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp
đồng kỳ hạn nhưng quyền chọn không bắt buộc phải thực hiện giao dịch còn người
sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc phải thực hiện giao dịch. Hai bên trong hợp đồng
kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có
thể quyết định mua hoặc bán tài sản với giá cố định nếu giá tri của nó thay đổi.
19
20
khoán với giá thấp hơn để trả cho công ty chứng khoán. Khoản chênh lệch là lợi
nhuận của nhà đầu tư, song nếu chứng khoán tăng thì họ sẽ bị lỗ.
- Repo chứng khoán
Repo chứng khoán được hiểu là một giao dịch trong đó các chứng khoán
được mua ở tỉ lệ giao ngay và được mua lại ở tỉ lệ kì hạn. Về bản chất thì nghiệp vụ
repo giống như một khoản vay có bảo đảm bằng các chứng khoán và các tài sản bảo
đảm khác. Về hình thức biểu hiện thì repo chứng khoán sử dụng một hợp đồng mua
lại trong đó quy định các điều khoản mà mỗi bên tham gia phải tôn trọng.
Một hợp đồng repo sẽ quy định rõ các điều khoản về:
• Tư cách của các bên tham gia giao dịch
• Quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên
• Tài sản đảm bảo
• Tài sản dùng để repo: trái phiếu, cổ phiếu hay các chứng khoán khác.
• Cách tính lãi suất repo, thời hạn của hợp đồng, phương pháp định giá lại
chứng khoán cơ sở, biên độ dao động, khoản giảm trừ.
• Các điều khoản xử lý các vấn đề phát sinh trong thời gian thực hiện repo.
Việc thực hiện nghiệp vụ repo góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị
trường, tăng hiệu quả đồng vốn kinh doanh cho nhà đầu tư và đem lại cho nhà đầu
tư một số lợi Ých như: vẫn có quyền sở hữu cổ phiếu khi mua lại cổ phiếu đã bán
sau kỳ hạn nhất định, vẫn được hưởng cổ tức trong thời hạn chuyển nhượng...
1.1.4. Ứng dung của chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh chủ yếu đảm bảo sự ổn định cho thị trường chứng
khoán với chức năng tăng tính thanh khoản và thúc đẩy thị trường chứng khoán cơ
sở phát triển hiệu quả, phòng ngừa rủi ro và tăng khả năng sinh lời cho nhà đầu tư
chứng khoán. Tuy nhiên, việc sử dụng các chứng khoán phái sinh này cũng tạo ra
sức ép từ phía các nhà đầu cơ.
- Nâng cao khả năng thanh khoản và thúc đẩy TTCK cơ sở phát triển hiệu
với bản thân mình. Và cũng vì thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị
trường tài chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả
năng huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn. Bên cạnh đó, thị trường các sản
phẩm phái sinh cũng là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ. Bởi ngưòi
muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lập hoàn
22
toàn với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ
bởi các nhà đầu cơ. Tại sao các giao dịch này lại có thể được thực hiện, khi mà thực
tế rõ ràng là khi một bên có lợi thì tất yếu bên còn lại sẽ không thể tránh khỏi những
thiệt hại? Bởi mỗi nhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau, khả năng chấp
nhận rủi ro cũng khác nhau. Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các khoản
đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Và thế là họ gặp nhau và
tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác.
Mỗi loại chứng khoán phái sinh có cách phòng ngừa rủi ro riêng cho các
trường hợp xảy ra rủi ro gây tổn thất cho nhà đầu tư, bảo vệ tài sản ( giá trị chứng
khoán) và cả phần lợi nhuận của nhà đầu tư. Chẳng hạn, chứng quyền đảm bảo
quyền lợi cho những cổ đông thường hiện hữu của công ty phát hành khi công ty
phát hành thêm cổ phiếu thường mới, điều đó xuất phát từ vấn đề nảy sinh là khi
phát hành thêm cổ phiếu thường mới làm pha loãng quyền sở hữu của cổ đông hiện
hữu và đồng thời chứng khoán này trên thị trường cũng thường bị giảm giá. Ngoài
ra chứng khoán phái sinh cũng đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư mua cổ phiếu ưu đãi
hay mua trái phiếu có độ rủi ro cao. Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn
giúp cho các nhà đầu tư tự bảo vệ lợi ích của mình rước những rủi ro giảm giá
chứng khoán họ nắm giữ trên thị trường …Với chức năng đó, chứng khoán phái
sinh có vai trò to lớn giúp ổn định thị trường chứng khoán.
- Chứng khoán phái sinh được nhà đầu tư sử dụng để đầu cơ .
Hoạt động đầu cơ là hoạt động giao dịch mua bán hợp đồng của nhà đầu tư
sinh là một biện pháp để đối phó với rủi ro. Qua kinh nghiệm thị trường phái sinh
các nước trên thế giới cho thấy, thì thị trường chứng khoán cơ sở phát triển đến một
mức độ định thì TTCK phái sinh mới được hình thành và đi vào hoạt động. Cũng
giống như thị trường chứng khoán cơ sở, TTCK phái sinh cũng có thể được chia
làm 2 loại là thị trường phái sinh tập trung là thị trường mà các công cụ phái sinh
được giao dịch qua Sở giao dịch và TTCKPS không giao dịch qua sàn (thị trường
OTC)
Các đối tượng tham gia thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh bao gồm:
các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà tạo lập thị trường, tổ
chức trung gian tài chính...
24
1.2. Điều kiện để xây dựng thị trường chứng khoán phái sinh
1.2.1. Điều kiện về quy mô của TTCK cơ sơ
Thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường giao dịch của các công cụ tài
chính phức tạp, vì vậy đề hình thành và phát triển được thị trường này thì TTCK cơ
sơ phải phát triển đến một quy mô nhất định, cụ thể như sau
+ Số lượng công ty niêm yết nhiều và có nhiều công ty cổ phần đại chúng
lớn.
+ Chất lượng dịch vụ của các công ty chứng khoán cao, cung cấp nhiều dịch
vụ tiện ích cho khách hàng.
+ Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán nhiều.
+ Tính thanh khoản trên TTCK cao.
+ Mức vốn hóa thị trường lớn.
Qua thời gian phát triển của TTCK các NĐT cũng sẽ trải qua nhiều rủi ro
trước những biến động khó lường của TTCK. Khi đó các NĐT sẽ phát sinh nhu cầu
bảo hiểm rủi ro và nhu cầu sử dụng chứng khoán phái sinh để giảm thiểu rủi ro
trong kinh doanh là tất yếu. Hơn nữa khi TTCK đã phát triển thì nhu cầu về chứng