Về Việc Nghiên Cứu Sóng Thần, Các Đặc điểm Hoạt Động Động Đất Có Khả Năng Gây Sóng Thần Và Một Số Giải Pháp Xây Dựng Hệ Thống Cảnh Báo Sóng Thần Ở Việt Nam potx - Pdf 12

Về Việc Nghiên Cứu Sóng Thần, Các Đặc điểm Hoạt Động Động
Đất Có Khả Năng Gây Sóng Thần Và Một Số Giải Pháp Xây
Dựng Hệ Thống Cảnh Báo Sóng Thần Ở Việt Nam
Ngô Thị Lư
Viện Vật lý địa cầu,Viện KH&CN VN,
Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Tóm tắt: Những thiệt hại và hậu quả vô cùng thảm khốc do trận động đất kèm
sóng thần Andaman - Sumatra ngày 26/12/2004 gây ra đã đặt chúng ta trước
những trăn trở: liệu có khả năng xảy ra sóng thần đối với vùng bờ biển Việt
Nam không? Chúng ta cần phải làm gì để có thể giảm thiểu nguy cơ này (nếu
có)? Để giải đáp một phần những vấn đề đặt ra, bài báo này trình bày tóm tắt
việc nghiên cứu sóng thần trong nước và quốc tế, các đặc điểm hoạt động động
đất có khả năng gây sóng thần và một số giải pháp xây dựng hệ thống cảnh báo
sóng thần ở Việt Nam.
MỞ ĐẦU
Ngày 26/2/2004, vào lúc 0g. 58p. 50,76gi. (giờ GMT) đã xảy ra một trận động
đất phá hủy với chấn cấp M = 8,9 tại toạ độ ϕ = 3,30
o
B; λ = 95,78
o
Đ thuộc khu vực đảo
Andaman-Nicobar và Sumatra ở Nam và Đông Nam Á [1]. Đây là một trong những trận
động đất gây ra sóng thần rất mạnh, có sức phá huỷ lớn nhất trong lịch sử. Nó đã gây ra
các thiệt hại khủng khiếp về người và của không chỉ riêng đối với các nước trong khu
vực Nam và Đông Nam Á mà còn đối với nhiều nước khác trên thế giới. Do ảnh hưởng
của trận động đất và sóng thần mà tính đến ngày 26/1/2005 gần 300 ngàn người tại Thái
Lan, Malaysia, SriLanca, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh và du khách của nhiều nước
trên thế giới (Thụy Điển, Hà Lan, Na Uy ) đã bị thiệt mạng, hàng trăm ngàn người bị
thương và rất nhiều vùng ven biển với toàn bộ nhà cửa, các công trình dân sinh, quốc
phòng và các khu du lịch quốc tế của một loạt các nước Nam và Đông Nam Á đã bị phá
huỷ một cách tàn khốc. Ngoài ra, do đây là trận động đất rất mạnh gây sóng thần, lại

Sumatra. Hiện nay trên thế giới có 2 trung tâm cảnh báo sóng thần:
- Trung tâm cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương (Pacific Tsunami Warning
Center), thành lập năm 1948.
- Trung tâm cảnh báo sóng thần Alaska – dải ven bờ phía tây (West Coast -
Alaska Tsunami Warning Center), thành lập năm 1967.
Nhiệm vụ của cả hai trung tâm này là xem xét tình hình và diễn biến động đất có
khả năng gây sóng thần cho toàn bộ khu vực Thái Bình Dương. Khi động đất mạnh xảy
ra, các trung tâm này có nhiệm vụ xác định ngay các tham số động học (thời gian ở chấn
tiêu, tọa độ chấn tâm, độ sâu chấn tiêu) và các tham số động lực (năng lượng, chấn cấp,
momen địa chấn và cơ cấu chấn tiêu, bao gồm cả kích thước vùng chấn tiêu …). Nếu tất
cả các tham số trên đủ điều kiện cho một trận động đất có khả năng gây ra sóng thần thì
ngay tức khắc thông tin được truyền theo kênh vệ tinh đến các trạm giám sát thuỷ triều.
Thông tin về hoạt động của sóng từ các trạm giám sát thuỷ triều gần chấn tâm nhất sẽ
được gửi cho trung tâm cảnh báo. Nếu thực sự có khả năng xảy ra sóng thần thì trung
tâm này sẽ thông báo cấp tốc đến tất cả các vùng có khả năng chịu tác động của sóng
thần để có các biện pháp sơ tán dân cư, tài sản, các tài liệu quý giá và các phương tiện
máy móc quan trọng nhất. Các trung tâm này đã hoạt động một cách có hiệu quả, vì vậy
đã giảm thiểu được rất nhiều tác hại cũng như các ảnh hưởng của các vụ sóng thần do
động đất gây nên tại khu vực Thái Bình Dương. Đáng tiếc là tại khu vực Nam và Đông
Nam Á đã không có một hệ thống cảnh báo sóng thần tương tự, nên các thiệt hại do ảnh
hưởng của trận động đất gây sóng thần Andaman-Sumatra là vô cùng thảm khốc.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về chế độ động đất ở biển Đông và các
điều kiện hình thành sóng thần, các khả năng dự báo nhằm giảm nhẹ những thiệt hại do
chúng có thể gây ra đã bắt đầu xuất hiện trong khoảng 10 năm trở lại đây [8-13].
Theo rất nhiều tài liệu nghiên cứu của các nhà địa chấn và các nhà hải dương
học trong nước và quốc tế thì sóng thần ít xảy ra và không quá nguy hiểm ở vùng biển
Việt Nam… Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, tại phía tây Philippines (tức rìa phía
đông biển Đông) đã xảy ra động đất mạnh với đầy đủ các điều kiện để gây ra sóng thần:
năng lượng đủ lớn (M > 8), độ sâu chấn tiêu nhỏ (h < 30 km) và có cơ chế trượt thuận
[8-13]. Đồng thời tại đây thực tế cũng đã xảy ra sóng thần. Mặt khác, các số liệu GPS

(nếu có) đối với vùng bờ biển Việt Nam có thể bị hạn chế bởi bức tường chắn Thái Lan,
Malaysia, Singapore. Vì thế, vùng động đất hoạt động mạnh, có khả năng gây sóng thần
ảnh hưởng đến bờ biển Việt Nam chủ yếu từ phía biển Đông thuộc khu vực bờ tây
Philippines, bờ tây Indonesia và bắc, tây-bắc Malaysia. Mặc dù số lượng động đất đã
xảy ra ở khu vực này ít hơn hẳn so với khu vực phía tây, tây-nam và toàn khu vực Đông
Nam Á (454/6315), nhưng đã có động đất mạnh với chấn cấp M= 7,6 xảy ra từ phía
này. Mặt khác, do khu vực nghiên cứu giới hạn bởi kinh độ λ = 90-120
o
Đ, nên còn khá
nhiều các trận động đất mạnh khác nằm trong khoảng kinh độ 120-145
o
Đ chưa được
xem xét.
Ta biết rằng, sóng thần rất nguy hiểm khi vào vùng nước nông và địa hình đáy
biển dốc thoai thoải. Nếu toàn bộ năng lượng sóng bị phản xạ hầu hết trên đường truyền
thì khi vào đến ven biển sẽ không gây ảnh hưởng đáng kể nữa. Vì vậy, cần tiến hành
nghiên cứu dự báo động đất cho vùng biển Đông để cung cấp các kịch bản động đất
phục vụ việc tính toán dự báo sóng thần theo các chương trình tính toán hiện đại đã
được xây dựng theo các phương án khác nhau về toạ độ chấn tâm, độ sâu chấn tiêu và
chấn cấp. Nếu chấn tâm động đất mạnh nằm ở trong vùng ven biển nước ta thì vô cùng
nguy hiểm và không thể không xây dựng một hệ thống cảnh báo sóng thần cho Việt
Nam. Rất may mắn là các nguồn động đất mạnh chủ yếu nằm ở phía tây Philippines
ngoài biển Đông, bờ tây Indonesia và bắc, tây-bắc Malaysia. Do đó, cần xem xét bổ
xung các số liệu về động đất giai đoạn từ 1996 đến nay và mở rộng phạm vi nghiên cứu
đến ϕ = 15- 30
o
B; λ = 90-140
o
Đ.
II. CÁC GIẢI PHÁP NGHIÊN CỨU PHỤC VỤ CẢNH BÁO SÓNG THẦN

giảng cho hiểu các dấu hiệu nhận dạng sóng thần nên em này đã cảnh báo cho mọi
người, vì thế mà cứu được bố mẹ của mình và hàng trăm bà con hàng xóm lân cận.
Thường thì dấu hiệu về sóng thần rất đơn giản: trước khi có những con sóng lớn dạng
sóng thần tràn vào bờ thì nước sẽ rút rất nhanh (nhanh hơn thuỷ triều rất nhiều). Quá
trình này kéo dài từ vài phút đến 10 phút. Khi thấy dấu hiệu bất thường này, dân ven bờ
cần chạy ngay lên những vùng đất cao để tránh nguy hiểm. Trong vụ động đất gây sóng
thần vừa rồi, rất nhiều người đã chết do không biết những kinh nghiệm như vậy. Họ
thậm chí còn chạy ra biển ngắm biển và bắt cá.
2. Nhiệm vụ lâu dài
Sau trận động đất Andaman-Sumatra, các dư chấn mạnh vẫn tiếp tục xảy ra, toàn
khu vực Nam và Đông Nam Á vẫn đang đứng trước nguy cơ về sóng thần có thể xảy ra
bất kì lúc nào. Các nhà quản lý, các nhà khoa học quốc tế và các nước trong khu vực
đang chuẩn bị tích cực cho việc thiết lập hệ thống cảnh báo sớm sóng thần trong khu
vực. Tham gia vào công việc đó là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết đối với Việt Nam.
Ngoài ra, cần có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, đơn vị có chức năng tương tự để giải
quyết nhiệm vụ này đồng thời với nhiều nhiệm vụ khác nhằm tiết kiệm tối đa các chi
phí.
Các nhà địa chấn, các nhà hải dương học và các nhà địa chất cần phối hợp để
giải quyết các nhiệm vụ sau:
1) Dự báo động đất sẽ xảy ra: Đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và khó
khăn không chỉ đối với Việt Nam mà nan giải đối với toàn thế giới. Tuy nhiên, chúng ta
nhất định phải nghiên cứu, giải quyết nhiệm vụ này.
2) Thiết lập chương trình tính toán sóng thần theo các kịch bản động đất khác
nhau:
a) Việc này đến nay cũng không còn xa lạ với chúng ta. Đã có rất nhiều nước
làm công việc này như Nga, Mỹ, Nhật Bản. Đồng thời, có rất nhiều phương án tính toán
khác nhau từ đơn giản đến phức tạp. Trên thế giới, người ta đã xây dựng các phần mềm
tính toán với đầu vào là các kịch bản về động đất với các phương án khác nhau về các
tham số động học và động lực của nó (ví dụ: động đất xảy ra ở đâu? Với chấn cấp bao
nhiêu (M = ?), độ sâu chấn tiêu thế nào ; đầu ra là dự báo về sóng và ngập nước cho

Ví dụ, về trận động đất Andaman-Sumatra có 9 trạm địa chấn Việt Nam ghi
được và ngay sau khi động đất xảy ra, các băng ghi đã được truyền về Hà Nội. Một số
kết quả nghiên cứu bước đầu về trận động đất này và loạt dư chấn chính của nó đã được
trình bày trong [6].
Hàng ngày chúng ta đều có thể thu thập và tham khảo mọi thông tin và các số
liệu địa chấn qua các trang Web của các Trung tâm số liệu địa chấn quốc tế (ISC,
USGS, NEIC ). Ví dụ, trong công trình [6] các số liệu địa chấn về trận động đất
Andaman-Sumatra và 98 dư chấn đầu tiên của nó (tính đến 11 giờ GMT ngày
02/1/2005) đã được thu thập qua mạng Internet theo các địa chỉ trang Web của USGS
và NEIC.
Ở nước ta, có một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học có kinh nghiệm và tâm
huyết có thể đảm nhiệm các nhiệm vụ cụ thể khác nhau trong quá trình thực hiện các
giải pháp nêu trên.
2. Về hợp tác nghiên cứu
Viện Vật lý địa cầu có quan hệ hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học của
nhiều nước trên thế giới như Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Italia, Pháp, Ba Lan,
Ukraina…, là các nước có truyền thống và kinh nghiệm nghiên cứu về các vấn đề đã
nêu. Ngoài ra, nhiều cơ quan và tổ chức trong nước cũng rất cần một hệ thống bảo vệ an
ninh quốc phòng, cảnh báo xa bờ sự ô nhiễm môi trường (xăng dầu, hoá chất, sinh vật
chết hàng loạt ), đặt các thiết bị đo viễn thám, GPS…Nếu trên cùng một trạm (hay hệ
thống xa bờ) mà chúng ta tiến hành nhiều nhiệm vụ cảnh báo khác nhau thì sẽ giảm
được chi phí phục vụ nghiên cứu đi nhiều lần. Vì vậy, việc xây dựng một chương trình
hợp tác tổng thể trong nước và quốc tế để giải quyết các nhiệm vụ đã nêu là hoàn toàn
khả thi. KẾT LUẬN

145-155. Nxb KHKT, Hà Nội.
9. Phạm Văn Thục, 1998. Độ nguy hiểm động đất và sóng thần vùng quần đảo
Trường Sa. Tuyển tập các công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên vùng quần đảo Trường Sa, tr. 127-143. Nxb KHKT, Hà Nội.
10. Phạm Văn Thục, 2000. Đánh giá độ nguy hiểm của sóng thần ở biển Đông.
Các công trình nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển, 4: 31-46. Nxb KHKT, Hà Nội.
11. Phạm Văn Thục, 2000. Sóng thần ở biển Đông và vấn đề dự báo. Tuyển tập
báo cáo khoa học HNKH biển Đông,
tr. 351-365. Hà Nội.
12. Phạm Văn Thục, 2001. Những đặc điểm của sóng thần khu vực biển Đông.
TC Khoa học và Công nghệ biển, 1/2: 52-64. Hà Nội.
13. Phạm Văn Thục, 2002. Chế độ động đất khu vực biển Đông Việt Nam. TC
Khoa học và Công nghệ biển, 1/4: 40-56. Hà Nội.
14. Phan Trọng Trịnh, 2005. Động đất và sóng thần ngày 26/12/2004 tại Ấn
Độ Dương và kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam. Báo cáo tại Hội thảo khoa học về
động đất và sóng thần, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status