câu hỏi vấn đáp cuối kì môn mác lê nin ( có đáp án) - Pdf 38

Câu 1: Nguyên nhân ra đời của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin.
Câu 2: Khái niệm nhà nước:
Câu 3: Các dấu hiệu ( đặc điểm) cơ bản của nhà nước.
Câu 4: Bản chất của nhà nước.
Câu 5: Tính xã hội của nhà nước:
Câu 6: Tính giai cấp của nhà nước: ( xét kỹ câu 4)
Câu 7: Khái niệm cơ quan nhà nước:
Câu 8: Phân biệt nhà nước với các tổ chức chính trị khác.
Câu 9: Khái niệm chức năng của nhà nước. Các hình thức và phương pháp thực hiện chức năng của nhà nước.
Câu 10: Hình thức của nhà nước.
Câu 11: Hình thức chính thế của nhà nước ( như câu 10)
Câu 12: Hình thức cấu trúc của nhà nước.
Câu 13: Khái niệm pháp luật.
Câu 14: Bản chất pháp luật.
Câu 16: Quan hệ giữa pháp luật với chính trị
Câu 17: Quan hệ giữa pháp luật với nhà nước.

Câu 18 +19: So sánh pháp luật với phong tục tập quán, đạo đức và phân tích mối quan hệ giữa
chúng.
Câu 20: Hình thức pháp luật.
Câu 22: Ưu điểm và hạn chế của từng hình thức pháp luật.
Câu 23: Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật( định nghĩa, đặc điểm)
Câu 24: Bản chất nhà nước tư sản: chia ra làm 3 giai đoạn, nhớ đọc rồi chém gió.
Câu 25: Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước tư sản.
Câu 26: Hình thức của nhà nước tư sản:
Câu 28: So sánh chính thể cộng hòa tổng thống với chính thể cộng hòa đại nghị. ( tự so sánh
được )
Câu 29: Những điểm tiến bộ cơ bản của pháp luật tư sản so với pháp luật phong kiến:
Câu 30: Bản chất và đặc điểm của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
1

2


Câu 55: Khái niệm thực hiện pháp luật. Các hình thức thực hiện pháp luật.
Câu 56: Các hình thức thực hiện pháp luật
Câu 57: Khái niệm áp dụng pháp luật ( định nghĩa, đặc điểm)
Câu 58: Các trường hợp cần áp dụng pháp luật.
Câu 59: Các bước của quá trình áp dụng pháp luật.
Câu 60: Nguyên tắc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng trong quá trình áp dụng pháp luật.
Câu 61: Các hình thức và phương pháp giải thích pháp luật
Câu 62: Khái niệm văn bản áp dụng pháp luật. ( định nghĩa, đặc điểm)
Câu 63: So sánh văn bản quy phạm pháp luật với văn bản áp dụng pháp luật.
Câu 64: Tại sao phải áp dụng pháp luật tương tự? Các hình thức áp dụng pháp luật tương tự.
Câu 65: Khái niệm vi phạm pháp luật. ( định nghĩa, đặc điểm)
Câu 66: Các loại vi phạm pháp luật.
Câu 67: Mặt khách quan của vi phạm pháp luật.
Câu 68: Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật.
Câu 69: Chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật.
Câu 70: Khái niệm trách nhiệm pháp lý ( định nghĩa, đặc điểm).
Câu 71: Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể vi phạm pháp luật.
Câu 72: Khái niệm ý thức pháp luật ( định nghĩa, đặc điểm).
Câu 73: Vai trò của ý thức pháp luật đối với việc xây dựng pháp luật.
Câu 74: Vai trò của ý thức pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật.
Câu 75: Giáo dục pháp luật (định nghĩa, đặc điểm)

3


Câu 1: Nguyên nhân ra đời của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin.
Định nghĩa nhà nước: Nhà nước là tổ chức quyền lực công của quốc gia, nhờ có pháp luật và những

Nhà nước là tổ chức quyền lực công của quốc gia bởi vì quyền lực của nó tồn tại một cách công
khai, mọi tổ chức và cá nhân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đều biết, và đều phải phục tùng. Quyền
lực của nhà nước cũng là quyền lực công cộng, chung cho cả cộng đồng vì quyền lực đó thường
được tạo nên và được thực hiện bởi một cộng đồng người nhất định, thường đại diện và bảo vệ lợi
ích của một giai cấp, một liên minh giai cấp, một cộng đồng dân cư trong một địa phương hoặc toàn
quốc gia, toàn dân tộc.
4


-

-

-

-

Quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức nhà nước từ trung ương tới địa phương,
cơ sở, trong đó các cơ quan bạo lực trấn áp như quân đội, cảnh sát, tòa án, viện công tố… Các cơ
quan, tổ chức đó bao gồm một lớp người tựa hồ như tách ra khỏi xã hội để chuyên thực thi quyền lực
nhà nước, chuyên làm nhiệm vụ quản lý, cưỡng chế hoặc cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Nhờ
vậy, nhà nước có thể tổ chưc, quản lý, điều hành xã hội, có thể thiết lập, củng cố và giữ gìn trật tự xã
hội.
Nhà nước tổ chức và quản lý dân cư sống trong lãnh thổ của nó theo địa bàn cư trú của ho hay theo
các đơn vị hành chính- lãnh thổ mà không tập hợp và quản lý dân cư theo mục đích, chính kiến,
nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính… như các tổ chức khác. Do đó, nhà nước là tổ chức có cơ sở xã
hội và phạm vi tác động rộng lớn nhất trong xã hội.
Nhà nước đại diện chính thức cho toàn quốc gia, dân tộc thực hiện chủ quyền quốc gia.
Mặc dù chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân, nhưng do nhân dân ủy quyền cho nhà nước thực hiện
nên nhà nước là đại diện chính thức cho toàn quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội và đối

Nhà nước là hình thức tổ chức của xã hội có sự phân hóa giai cấp bởi vì sau khi trrong xã hội đã có
sự phân hóa và mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt thì hình thức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp,
mà phải tổ chức thành nhà nước với bộ máy quản lý và cưỡng chế của nhà nước mới đủ khả năng
điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập, củng cố, duy trì trật tự và sự ổn định của xã hội, để xã
hội có thể tồn tại và phát triển.
Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại và phát triền trong xã hội có giai cấp nên nó có tình giai cấp sâu sắc.
Tính giai cấp của nhà nước được thẻ hiện ở chỗ: nhà nước là bộ máy chuyên chính giai cấp, tức là
5


-

công cụ để thực hiện, củng cố và bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị thống trị của giai cấp thống trị hay
của lực lượng cầm quyền trong xã hội. Sự thống trị xã hội còn được thể hiện trong các lĩnh vực Kinh
tế, Chính trị và Tư tưởng.
Tóm lại, dưới góc độ tính giai cấp, nhà nước là công cụ, là bộ máy đặc biệt nằm trong tay lực lượng
cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế, để thực hiện sự thống trị về chính trị và thực hiện sự tác động
về tư tưởng của lực lượng này đối với toàn xã hội.
Tuy nhiên, nhà nước không chỉ có tính giai cấp, mà còn có tính xã hội. Tính xã hội của nhà nước
được thể hiện ở chỗ, nó là bộ máy để tổ chức, điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập, củng cố
và giữ gìn trật tự và sự ổn định của xã hội, để bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát
triển chung của xã hội.
Với tư cách là một tổ chức quyền lực công, là đại diện chính thức cho toàn quốc gia dân tộc trong tất
cả các mối quan hệ đối nội và đối ngoại, nhà nước phải giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh trong xã hội
vì lợi ích chung và sự phát triền của toàn xã hội.
Nhà nước có nhiều hoạt động vì lợi ích chung của cả cộng đồng như: xây dựng và phát triển giáo
dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội: đường xá, cầu cống, trường học,
bệnh viện…; tổ chức, điều hành và quản lý các dịch vụ công.
Nhà nước ban hành và tổ chức các chính sách kinh tế để điều tiết nền kinh tế, đầu tư và khuyến
khích phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tạo lập sự ổn định và thúc đầy sự tăng trưởng của nền



Nhà nước là công cụ để giữ gìn và phát triển những tài sản văn hóa tinh thần chung của xã hội,
những giá trị đạo đức, những truyền thống và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc.
Tóm lại, tính giai cấp và tính xã hội là thuộc tính chung của tất cả các nhà nước, song mức độ thể
hiện của hai tính chất này và mối tương quan giữa các tính chất đó trong quá trình hoạt động của nhà
nước sẽ khác nhau ở các nhà nước khác nhau.
Câu 6: Tính giai cấp của nhà nước: ( xét kỹ câu 4)
-

-

Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp, tức là xã hội đã phát triển đến một trình độ và 1 giai
đoạn nhất định, giai đoạn có sự phân chia con người thành các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội có
khả năng kinh tế và địa vị khác biệt nhau, mâu thuẫn và đấu tranh với nhau.
Nhà nước là hình thức tổ chức của xã hội có sự phân hóa giai cấp bởi vì sau khi trrong xã hội đã có
sự phân hóa và mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt thì hình thức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp,
mà phải tổ chức thành nhà nước với bộ máy quản lý và cưỡng chế của nhà nước mới đủ khả năng
điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập, củng cố, duy trì trật tự và sự ổn định của xã hội, để xã
hội có thể tồn tại và phát triển.
Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại và phát triền trong xã hội có giai cấp nên nó có tình giai cấp sâu sắc.
Tính giai cấp của nhà nước được thẻ hiện ở chỗ: nhà nước là bộ máy chuyên chính giai cấp, tức là
công cụ để thực hiện, củng cố và bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị thống trị của giai cấp thống trị hay
của lực lượng cầm quyền trong xã hội. Sự thống trị xã hội còn được thể hiện trong các lĩnh vực Kinh
tế, Chính trị và Tư tưởng.
Tóm lại, dưới góc độ tính giai cấp, nhà nước là công cụ, là bộ máy đặc biệt nằm trong tay lực lượng
cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế, để thực hiện sự thống trị về chính trị và thực hiện sự tác động
về tư tưởng của lực lượng này đối với toàn xã hội.

Câu 7: Khái niệm cơ quan nhà nước:

Nhà nước có pháp luật, công cụ quản lý xã hội có hiệu quả nhất.
Nhà nước có các bộ máy cưỡng chế đặc biệt.
Nhà nước có tiềm lực kinh tế lớn nhất.
Nhà nước có chủ quyền quốc gia, do đó có thể thiết lập các mối quan hệ với các nhà nước khác, với
các tổ chức quốc tế. Nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các nhà nước và các
tổ chức quốc tế.

Câu 9: Khái niệm chức năng của nhà nước. Các hình thức và phương pháp thực hiện chức năng của nhà
nước.
Chức năng là hoạt động, vai trò, tác dụng của một người, một tổ chức hoặc một cái gì đó, và có thể hiểu
Chức năng của nhà nước là những mặt hoạt động của nhà nước thể hiện bản chất, vai trò của nó và nhằm thực
hiện những nhiệm vụ cơ bản của nhà nước.
Khi nhắc đến chức năng của nhà nước thì phải phân biệt với nhiệm vụ của nhà nước. Nói đến nhiệm vụ của nhà
nước là nói đến những công việc mà nhà nước phải làm vì một mục đích trong một thời gian nhất định. Tùy
theo tính chất của chúng mà nhiệm vụ của nhà nước được chia làm 2 loại: nhiệm vụ cơ bản, chiến lược hay lâu
dài và nhiệm vụ cụ thể, cấp bách hay trước mắt. Nhiệm vụ cơ bản có vai trò quyết định đối với việc xác định và
thực hiện chức năng, còn nhiệm vụ cụ thể lại được xác định và thực hiện nhằm thực hiện chức năng.
-

-

Hình thức thực hiện chức năng của nhà nước: nhà nước có nhiều hình thức hoạt động để thực hiện
chức năng của mình trong đó có 3 hình thức cơ bản hay hình thức mang tính pháp lý được thể hiện
trong tất cả các nhà nước là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật.
Ngoài ra, còn có các hình thức ít hoặc không mang tính pháp lý: như những biện pháp tổ chức- xã
hội trực tiếp ( tổ chức các cuộc hội thảo, mít tinh, biểu tình của quần chúng, các phong trào thi
đua…), những hoạt động tác nghiệp vật chất- kỹ thuật: đánh máy, văn thư, lưu trữ…; những hoạt
động mang tính quyền lực pháp lý như hoạt động thi hành các biện pháp cưỡng chế của nhà nước:
bắt buộc chữa bệnh, giải phóng mặt bằng…
Phương pháp hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước. Gồm 2 phương pháp chính là

Chính thể Quân chủ bao gồm nhiều dạng, căn cứ vào phạm vi quyền lực của nhà vua có thể chia thành
hai dạng cơ bản là quân chủ chuyên chế và quân chủ hạn chế.
-

Cộng hòa là hình thức mà quyền lực cao nhất của nhà nước thuộc về một hoặc một số cơ quan được
thành lập theo nguyên tắc bầu cử. Trong chính thể này, quyền lực cao nhất của nhà nước được trao
cho một số cơ quan chủ yếu bằng con đường bầu cử.

Tùy theo đối tượng được hưởng quyền tham gia vào việc thành lập cơ quan tối cao của quyền lực nhà
nước mà chính thể cộng hòa cũng có các dạng khác nhau là cộng hòa quý tộc và cộng hòa dân chủ.
Cộng hòa quý tộc là hình thức mà quyền bầu cử và được bầu vào cơ quan tối cao của quyền lực nhà
nước chỉ thuộc về tầng lớp quý tộc. Cộng hòa dân chủ là chính thể về mặt pháp lý, quyền bầu cử và ứng
cử vào các cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước thuộc về mọi công dân khi có đủ những điều kiện
luật định. Còn chính thể cộng hòa dân chủ lại có nhiều dạng tùy theo từng nhà nước như cộng hòa chủ
nô, cộng hòa phong kiến, cộng hòa tư sản và cộng hòa xã hội chủ nghĩa…
Câu 11: Hình thức chính thế của nhà nước ( như câu 10)
Câu 12: Hình thức cấu trúc của nhà nước.
-

-

Định nghĩa: Hình thức cấu trúc nhà nước là cách cấu tạo nhà nước thành các cơ quan theo đơn vị
hành chính – lãnh thổ, xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan đó với nhau và với các cơ quan cao
nhất của quyền lực nhà nước.
Các dạng: Hình thức cấu trúc nhà nước bao gồm hai dạng cơ bản là nhà nước đơn nhất và nhà nước
liên bang.
Nhà nước đơn nhất là một nhà nước duy nhất và có chủ quyền hoàn toàn trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia. Thông thường, ở nhà nước đơn nhất chỉ có một nhà nước có và thực hiện toàn bộ quyền
lực nhà nước trên toàn lãnh thổ. Nhà nước đơn nhất có các đặc trưng sau đây:
o Nó có 1 hệ thống cơ quan nhà nước và một hệ thống pháp luật duy nhất từ trung ương tới địa

giữa nhà nước liên bang với các nhà nước thành viên được thể hiện rất rõ trong cả 3 lĩnh vực: lập
pháp, hành pháp và tư pháp.

Ngoài ra còn có nhà nước liên minh, ví dụ như Liên minh Châu Âu EU.
Câu 13: Khái niệm pháp luật.
Định nghĩa: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm
Mác- Lenin)
Các đặc điểm của pháp luật:
-

-

-

-

-

Pháp luật có tình quyền lực nhà nước: bởi vì pháp luật được hình thành bằng con đường nhà nước,
các quy định của pháp luật có thể do nhà nước đặt ra, song cũng có thể do nhà nước thừa nhận các
quy tắc xử sự khác trong xã hội như phong tục tập quán, các quy tắc đạo đức,… Pháp luật được nhà
nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, từ tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục, thuyết phục, động viên, khen thưởng, tổ chức thực hiện cho đến các biện pháp cưỡng
chế nhà nước. Đây là đặc điểm riêng của pháp luật hay là đặc trưng của nó.
Pháp luật có tính quy phạm phổ biến: Các quy định của pháp luật là những khuôn mẫu, chuẩn mực
để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do
pháp luật dự liệu thì đều xử sự theo những cách thức mà nó đề ra. Tính quy phạm là dấu hiệu chung
của tất cả các loại quy phạm xã hội, riêng pháp luật thì có tình quy phạm phổ biến, vì nó có giá trị
bắt buộc tôn trọng và thực hiện đối với mọi tổ chức cá nhân trong xã hội.


Câu 15: Quan hệ giữa pháp luật với kinh tế:
Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước
ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo
Quan điểm Mác- Lenin)
Định nghĩa kinh tế: khái niệm kinh tế có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ nên cũng có nhiều quan
niệm khác nhau về nó. Kinh tế là toàn bộ hoạt động của xã hội loài người trong lao động sản xuất, trao đổi,
phân phối và sử dụng các của cải vật chất làm ra.
-

Tác động của kinh tế tới pháp luật:
Kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật, cụ thể:
o Kinh tế quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của pháp luật.
o Kinh tế quyết định nội dung của pháp luật, các quy định của pháp luật là sự phản ánh các
điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế, được xây dựng trên nền tảng kinh tế của xã
hội và phải có sự đảm bảo của điều kiện kinh tế thì mới có tính khả thi.
o Tính chất của các quan hệ kinh tế quyết định tính chất của các quan hệ pháp luật.
o Cơ chế kinh tế quyết định phương pháp điều chỉnh của pháp luật, trong cơ chế kế hoạch hóa
tập trung thì phương pháp điều chỉnh của pháp luật là mệnh lệnh- phục tùng, còn trong cơ
chế thị trường thì phương pháp điều chỉnh của pháp luật là bình đẳng và thỏa thuận.
Do đó mọi sự biến động trong nền kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến những sự thay đổi
tương ứng trong pháp luật.

-

Tác động của pháp luật tới kinh tế.
o Pháp luật phụ thuộc vào kinh tế, là sự phản ánh trình độ phát triển của kinh tế, nội dung các
quy định của nó không được cao hơn hay thấp hơn trình độ của nền kinh tế đã sinh ra nó.
Tuy nhiên, với tính độc lập tương đối của mình, pháp luật có thể tác động trở lại tới sự phát
triển của kinh tế theo 2 chiều hướng: thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế.

cầm quyền. Pháp luật là công cụ đắc lực để bảo vệ quyền lực chính trị trong xã hội. Pháp luật góp
phần thực hiện mục tiêu, đường lối chính trị của lực lượng cầm quyền, cũng như góp phần loại trừ
các quan điểm, mục tiêu và tổ chức chính trị của các lực lượng đối lập.

Câu 17: Quan hệ giữa pháp luật với nhà nước.
Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm
Mác- Lenin)
Định nghĩa nhà nước: Nhà nước là tổ chức quyền lực công của quốc gia, nhờ có pháp luật và những phương
tiện cưỡng chế hợp pháp nên có khả năng tổ chức và quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm
thực hiện mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền và nhằm thiết lập, giữ gìn
trật tự xã hội; nhà nước là đại diện chính thức cho quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội, đối ngoại và là
chủ thể độc lập trong các quan hệ quốc tế.(theo Quan điểm Mác-Lenin)
Tác động qua lại giữa pháp luật với chính trị.
-

-

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội cùng ra đời, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai
cấp, cùng là những công cụ để thực hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Và còn là những
công cụ để điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, cho nên nhà nước và
pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau tới mức không thể thiếu nhau.
Nhà nước tồn tại không thể thiếu pháp luật vì nhà nước cần pháp luật để tổ chức bộ máy của mình,
để thể hiện ý chí và quản lý xã hội. Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước, là phương tiện để cụ thể hóa nhằm thực hiện các đường lối, chính sách, mục tiêu
của nhà nước trong thực tế, giúp cho nhà nước điều hành và quản lý xã hội. Pháp luật còn là phương
tiện để giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước. Tuy do nhà nước ban hành ra song khi có hiệu lực
12



quy định mới nhằm loại bỏ chúng ra khỏi xã hội.
Pháp luật cũng có tác động lớn đến các loại quy phạm xã hội khác. Pháp luật có thể góp phần củng
cố, phát huy vai trò, tác dụng thực tế của các quan niệm, quy tắc đạo đức, phong tục tập quán khi
chúng phù hợp với ý chí của nhà nước và được thừa nhận trong pháp luật. Và ngược lại phong tục
tập quán nào trái với ý chí của nhà nước thì thông qua các quy định thay thế hoặc cấm thực hiện các
quy phạm đó trong xã hội.

Câu 20: Hình thức pháp luật.
Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể ( theo Quan điểm
Mác- Lenin)
Hình thức pháp luật có thể xem xét dưới hai góc độ: hình thức bên trong và hình thức bên ngoài.
Hình thức bên trong của pháp luật bao gồm các nguyên tắc chung của pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành
luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật.
Hình thức bên ngoài của pháp luật là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước, hay là cách thức mà nhà nước sử
dụng để chuyển ý chí của mình thành pháp luật. Hình thức bên ngoài của pháp luật cơ bản gồm có tập quan
pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật.
13


Trong chương trình học thì khi đề cập đến hình thức pháp luật thì chủ yếu là đề cấp đến hình thức bên ngoài.
Câu 22: Ưu điểm và hạn chế của từng hình thức pháp luật.
Hình thức bên ngoài của hình thức bên ngoài gồm có 3 loại
-

Tập quán pháp: Tập quán hay là các quy tắc xử sự đã tồn tại trong xã hội dưới dạng phong tục tập
quán, đạo đức hay tin điều tôn giáo nhưng phù hợp với ý chí của nhà nước và được nhà nước thừa
nhận thành pháp luật, tức là những quy tắc xử sự chung được nhà nước đảm bảo thực hiện.

Ưu điểm: Tập quán pháp xuất phát từ những thói quen, những quy tắc xử sự lâu đời nên đã ngấm sâu

Ưu điểm: văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng và ban hành 1 cách khá công phu, theo trình tự và
thủ tục chặt chẽ và trong nhiều trường hợp là sự thể hiện trí tuệ của một tập thể nên tính khoa học tương
đối cao. Các quy định được thể hiện bằng văn nên rõ ràng, cụ thể. Văn bản quy phạm pháp luật có thể
đáp ứng kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống.
Hạn chế: các quan hệ xã hội xảy ra trong cuộc sống thường rất đa dạng, phức tạp mà các quy định trong
các văn bản pháp luật thường mang tính khái quát nên khó dự kiến được hết tất cả những tình huống,
trường hợp xảy ra trong thực tế, vì thế, nếu chỉ sử dụng văn bản quy phạm pháp luật thì có thể dẫn đến
tình trạng thiếu pháp luật. Những quy định trong các văn bản thường có tính ổn định cao nên có thể kém
14


linh hoạt đối với xã hội biến đổi nhanh chóng như hiện nay, quy trình tạo ra quy phạm pháp luật cũng
lâu dài và tốn kém hơn án lệ hay tập quán pháp. Vì thế,mặc dù là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan
trọng nhất của nhiều nước hiện nay nhưng văn bản quy phạm pháp luật vẫn ko thể là hình thức duy nhất
của pháp luật mà cần sử dụng kết hợp thêm án lệ và tập quán pháp.
Câu 23: Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật( định nghĩa, đặc điểm)
-

Định nghĩa: Văn bản quy phạm pháp luật: văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành ra theo trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy
định trong đó các quy tắc xử sự chung được nhà nước bảm đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ
xã hội theo mục đích của nhà nước.

Đặc điểm:
-

-

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành ra theo
trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định.

Anh, Thụy Điển, Nhật…

Hình thức Cộng hòa: gồm 3 dạng là Cộng hòa Tổng thống, cộng hòa Đại Nghị, cộng hòa Lưỡng Tính.
15


Cộng hòa Đại nghị: vừa có Tổng thống, vừa có thủ tướng, cả 2 đều có quyền hành pháp. Tuy nhiên
Tổng thống không có thực quyền, Thủ tướng mới có thực quyền và Nghị viện có quyền lực tối cao
Cộng hòa Lưỡng tính: Khác với cộng hòa Đại nghị, tổng thống trong CH lưỡng tính điều hành chính
phủ, và tổng thống có quyền hành rất lớn.

Câu 28: So sánh chính thể cộng hòa tổng thống với chính thể cộng hòa đại nghị. ( tự so sánh được )
Câu 29: Những điểm tiến bộ cơ bản của pháp luật tư sản so với pháp luật phong kiến:
-

-

Pháp luật tư sản được xây dựng dựa trên cơ sở các nguyên tắc bình đẳng, tự do và dân chủ.
Nội dung những quy định của pháp luật tư sản hiện nay thể hiện tính nhân đạo cao hơn nhiều so với
pháp luật phong kiến và pháp luật đã dần dần thoát ra khỏi sự chi phối có tính chất quyết định của
tôn giáo.
Phạm vi điều chỉnh của pháp luật tư sản ngày càng được mở rộng.
Về hình thức pháp luật cao hơn nhiều so với pháp luật phong kiến.

Câu 30: Bản chất và đặc điểm của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Bản chất của nhà nước ta được Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức.
Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc

b. Nội dung của chức năng:
-

-

Xác định các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu.
Xác định các chính sách tài chính, thuế, tiền tệ, giả cả, đầu tư, thu nhập.
Xác định cơ chế kinh tế, các phương pháp quản lý kinh tế… để vừa thúc đẩy kinh tế tăng trưởng,
phát triển không ngừng, vừa bảo đảm sự cân đối, ổn định của nền kinh tế.
c. Thực tế thực hiện chức năng ở VN.
Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, đó là sự ổn định về chính trị; kết cấu hạ tầng
hiện đại; hệ thống pháp luật hoàn thiện; sự giao lưu, hợp tác quốc tế dễ dàng, thuận lợi.
Hướng dẫn các hoạt động kinh tế, định hướng kinh tế phát triền toàn diện.
Điều tiết các hoạt động kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, vững chắc, đảm bảo công
bằng và an sinh xã hội.
Kiểm soát các hoạt động kinh tế, phát huy mặt tích cực, ngăn ngừa và khống chế những biểu hiện
tiêu cực, khắc phục những hạn chế.

Câu 32: Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia của nhân dâ vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Lý do nguyên tắc:
-

-

Trong xã hội, nhân dân là chủ của đất nước, của xã hội. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông
qua nhiều tổ chức, song sự làm chủ cao nhất, tập trung nhất và có hiệu quả nhất là làm chủ bằng nhà
nước và thông qua nhà nước.
Để bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì phải tổ chức cho nhân dân có thể tham
gia đông đảo và rộng rãi vào tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.

 Các cơ quan nhà nước ở TW có quyền quyết định các vấn đề cơ bản, quan trọng của
ctri, kinh tế,… trên cả nước.
 Các cơ quan nhà nước ở địa phương quyết định những vấn đề thuộc phạm vi của địa
phương mình.
 Cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cơ quan quản lý phục tùng cơ quan quyền lực cùng
cấp.
 Khi quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, các cơ quan TW phải nghe
và cân nhắc các ý kiến và điều kiện của cấp dưới và địa phương.
 TW có quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan địa phương…
Thực tế thực hiện nguyên tắc:
o Để thực hiện tốt thì phải phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan, phải thực hiện chế độ thông tin,
báo cáo kịp thời… các vấn đề nảy sinh trong các cơ quan.
o Phải kết hợp hài hòa, đúng mức giữa tập trung với dân chủ.


-

Câu 34: Nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam.
Pháp chế có thể được hiểu là yêu cầu, đòi hỏi phải có sự tôn trọng và thực hiện pháp luật hiện hành một cách
nghiêm chỉnh của mọi chủ thể trong xã hội.
-

-

Lý do có nguyên tắc: bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả thì phải dựa trên nguyên tắc này.
Cơ sở pháp lý của nguyên tắc: ghi rõ tại điều 12 Hiến pháp 1992.
Nội dung của nguyên tắc:
o Đòi hỏi tất cả các cơ quan nhà nước phải theo trình tự thành lập, cơ cấu tổ chức mà pháp luật
đã quy định, việc chia tách, sát nhập cơ quan nhà nước cũng vậy

chủ nghĩa chi phối tất cả các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Nó cho phép thành lập cũng như
làm mất đi một thành tố nào đó trong hệ thống chính trị. Nó có thể điều hòa được quan hệ giữa các
lực lượng chính trị trong xã hội, nó là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực nhân dân và công cụ
thực hiện quyền lực nhân dân.

Câu 36: Quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội khác.
a. Quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với Đảng cộng sản.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa và Đảng cộng sản là hai thành tố quan trọng nhất trong hệ thống chính trị

xã hội chủ nghĩa. Giữa chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ. Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước,
đồng thời nhà nước có sự tác động rất lớn đối với đảng. Sự lãnh đảo của Đảng cộng sản đối với nhà
nước là 1 điều tất yếu, khách quan, phù hợp với quy luật phát triển. Đảng thể hiện sự lãnh đạo của
mình đối với nhà nước bằng những hình thức phương pháp nhất định.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa có tác động tích cực đối với Đảng cộng sản, thể hiện qua những điểm sau
đây:
-

Nhà nước tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tồn tại, hoạt động và lãnh đạo của Đảng thông qua
việc nhận sự lãnh đạo của Đảng trong pháp luật.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức bảo đảm cho đường lối, chính sách của đảng có thể được triển
khai và thực hiện trong toàn xã hội,
Thông qua hoạt động thực tiễn, nhà nước kiểm nghiệm tính đúng đắn trong đường lối của của Đảng,
từ đó có cơ sở đóng góp cho Đảng hoạch định đường lối phù hợp.
Nhà nước bảo vệ đường lối cũng như tổ chức của Đảng để tạo điều kiện về cơ sở vật chất và các
điều kiện khác cho đảng hoạt động.
Nhà nước quản lý xã hội, quản lý các đảng viên và các tổ chức đảng bằng pháp luật, vì vậy, mọi tổ
chức của đảng cũng như mọi đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Câu 37:Quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với các tổ chức chính trị- xã hội khác.
Tổ chức chính trị - xã hội là một nhóm người có liên kết với nhau một cách chặt chẽ, được thành

thế bởi một văn bản khác (có thể là một văn bản cùng loại nhưng cũng có thể là một văn bản có giá trị pháp lý
cao hơn) do chính cơ quan đó ban hành.Thứ ba, văn bản có thể bị tuyên bố bãi bỏ hoặc huỷ bỏ hoặc tuyên bố
hết hiệu lực bởi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Câu 40: Hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
* Hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị tác động của văn bản lên các quan hệ xã hội
phát sinh trong phạm vi kể từ khi nó bắt đầu (thời điểm phát sinh) đến khi chấm dứt (thời điểm chấm dứt) hiệu
lực.
Thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản có thể được xác định theo nhiều hướng khác nhau: có thể ghi rõ hoặc
không ghi rõ trong văn bản, tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh và điều kiện.Cụ thể, với các văn bản do cơ quan có
thẩm quyền ban hành thì thời điểm phát sinh hiệu lực được ghi trong chính văn bản.Tuy nhiên, theo Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 thì thời điểm này không được
sớm hơn 45 ngày kể từ ngày văn bản đó được công bố hoặc kí ban hành, trừ những trường hợp văn bản ban
hành đòi hỏi thực hiện trong tình trạng khẩn cấp như phòng chống thiên tai, dịch bệnh,… thì có thể có hiệu lực
ngay từ thời điểm được công bố hoặc kí ban hành nhưng phải được quy định trong chính văn bản và được công
bố ngay sau hai ngày làm việc.Còn với các văn bản của chính quyền địa phương thì văn bản của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày Hội đồng nhân dân thông qua và
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân kí ban hành; đối với cấp huyện và cấp xã thì lần lượt sau 7 ngày, 5 ngày.
Thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được xác định trong các trường hợp sau.Thứ nhất
là trường hợp hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản.Thứ hai, văn bản hết hiệu lực do bị thay
thế bởi một văn bản khác (có thể là một văn bản cùng loại nhưng cũng có thể là một văn bản có giá trị pháp lý
cao hơn) do chính cơ quan đó ban hành.Thứ ba, văn bản có thể bị tuyên bố bãi bỏ hoặc huỷ bỏ hoặc tuyên bố
hết hiệu lực bởi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trường hợp ngưng hiệu lực: văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực có thể bị tạm đình chỉ để xem xét
20


tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lý.Kể từ thời điểm nó bị tạm thi hành cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan
có thẩm quyền là khoảng thời gian văn bản bị tạm ngưng hiệu lực.Văn bản đó có thể tiếp tục có hiệu lực hay bị
huỷ bỏ là do quyết định của cơ quan xử lý có thẩm quyền.

do sự hạn chế của văn bản có hiệu lực cao hơn, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hiệu lực của mỗi văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện trên
ba mặt: theo thời gian, theo không gian và theo đối tượng tác động.Việc nắm bắt hiệu lực của những văn bản
quy phạm pháp luật sẽ giúp cho sự vân dụng chúng được thuận tiện, chính xác.

Câu 42: Khái niệm quy phạm pháp luật.

21


Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều
chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
-

Đặc điểm:
o Quy phạm pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã
hội, để bất kỳ ai khi ở vâò điều kiện, hoàn cảnh do nó dự liệu thì đều phải xử sự theo những cách
thức mà nó đã nêu ra. Căn cứ vào quy phạm pháp luật, các chủ thể sẽ biết mình được làm gì,
không được làm gì, phải làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất
định.
o Quy phạm pháp luật là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người. Căn
cứ vào quy phạm pháp luật có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là trái
pháp luật, hoạt động nào mang tính pháp lí và hoạt động nào không mang tính pháp lí.
o Quy phạm pháp luật được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ thể hay một tổ chức, cá nhân cụ
thể đã xác định được mà là cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia vào quan hệ xã hội do nó
điều chỉnh.
o Quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống cho đến khi nó bị sửa đổi,
bãi bỏ hoặc hủy bỏ vì nó được ban hành ra không phải để điều chỉnh mối quan hệ xã hội cụ thể,
một trường hợp cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, tức là mọi trường hợp, khi
điều kiện hoặc hoàn cảnh do nó dự kiến xảy ra.

22


Định nghĩa: Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích
của pháp luật có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định
pháp luật, được thể hiện trong các hình thức pháp luật.
Các bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật gồm có: Ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật.
-

Chế định pháp luật: là một nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có đặc điểm
chung. Ví dụ Chế định chế độ chính trị…
Ngành luật: tông thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một hoặc một số loại quan hệ có tính chất giống
nhau phát sinh trong một lĩnh vực hoạt động. Ví dụ ngành luật Dân sự.

Câu 46: Hình thức cấu trúc của hệ thống pháp luật.
Định nghĩa: Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích
của pháp luật có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định
pháp luật, được thể hiện trong các hình thức pháp luật.
Xét về mặt hình thức cấu trúc: Hệ thống pháp luật thể thống nhất các ngành luật trong đó mỗi ngành luật được
coi là một hệ thống nhỏ hơn bao gồm các chế định pháp luật và mỗi chế định lại bao gồm nhiều quy phạm pháp
luật.

Câu 47: Khái niệm và các giai đoạn của quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Định nghĩa xây dựng pháp luật: Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của có quan, tổ chức hoặc cá nhân
có thầm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm ban hành ra các quy phạm pháp luật để
điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
Các giai đoạn xây dựng pháp luật:
-

Nêu sáng kiến xây dựng pháp luật.

theo đối tượng điều chỉnh hay the chủ đề; loại bỏ những mâu thuẫn, chồng chéo, nhưng quy định lỗi
thời, lạc hậu; sửa đổi những quy định chưa phù hợp; xây dựng, bổ sung them những quy định mới, từ đó
ban hành ra một bộ luật mới hoặc một bộ pháp điển trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy phạm pháp
luật cũ để làm cho pháp luật thống nhất, hợp lý và phát triển hơn.
Tập hợp hóa pháp luật

Pháp điển hóa

+ Tập hợp hóa pháp luật không làm thay đổi
nội dung và hình thức của quy phạm pháp
luật vì phải sao chép nguyên văn.
+ Việc tập hợp hóa pháp luật có thể tiến hành
theo nhiều tiêu chí khác nhau như: theo thời
gian ban hành văn bản, theo đối tượng điều
chỉnh của văn bản…

+ Việc pháp điển hóa có thể làm thay đổi nội
dung của các quy phạm pháp luật, các chế
định pháp luật…
+ Việc pháp điển hóa chỉ được tiến hành theo
đối tượng điều chỉnh của các quy phạm pháp
luật, các chế định pháp luật và các văn bản
quy phạm pháp luật hoặc theo chủ đề nhất
định.
+ Các quy phạm pháp luật và các văn bản
quy phạm pháp luật được đưa vào tập hợp
các quy định của pháp luật phải còn hiệu lực
pháp lý.
+ Kết quả cuối cùng là làm hình thành nên
một bộ luật mới hoặc một bộ pháp điển mới


Tập hợp hóa pháp luật

Pháp điển hóa

+ Tập hợp hóa pháp luật không làm thay đổi
nội dung và hình thức của quy phạm pháp
luật vì phải sao chép nguyên văn.
+ Việc tập hợp hóa pháp luật có thể tiến hành
theo nhiều tiêu chí khác nhau như: theo thời
gian ban hành văn bản, theo đối tượng điều
chỉnh của văn bản…

+ Việc pháp điển hóa có thể làm thay đổi nội
dung của các quy phạm pháp luật, các chế
định pháp luật…
+ Việc pháp điển hóa chỉ được tiến hành theo
đối tượng điều chỉnh của các quy phạm pháp
luật, các chế định pháp luật và các văn bản
quy phạm pháp luật hoặc theo chủ đề nhất
định.
+ Các quy phạm pháp luật và các văn bản
quy phạm pháp luật được đưa vào tập hợp
các quy định của pháp luật phải còn hiệu lực
pháp lý.
+ Kết quả cuối cùng là làm hình thành nên
một bộ luật mới hoặc một bộ pháp điển mới
trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy phạm
pháp luật nên chủ thể của việc này chỉ là các
cơ quan có thẩm quyền.

phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó sẽ được nhà nước đảm
bảo thực hiện.
_Quan hệ pháp luật có tính giai cấp vì quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật được
nhà nước quy định hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện theo chiều hướng phù hợp với mục đích của nhà nước
mà trước tiên là của giai cấp thống trị.
Câu 52: Chủ thể của quan hệ pháp luật.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status