PHÒNG GD VÀ ĐT HUYỆN ĐIỆN BIÊN
TRƯỜNG THCS NÀ TẤU
************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM :
Một số giải pháp nâng cao tính tích cực của học sinh
trong dạy học vật lí 7
TÁC GIẢ : NGUYỄN SƠN HÀ
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC : TRƯỜNG THCS NÀ TẤU
Điện Biên, tháng 9 năm 2015
CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
Kí hiệu
NXB
SGK
SGV
PPDH
8
9
10
11
12
13
A. MỤC ĐÍCH VÀ SỰ CẦN THIẾT
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
B. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
C. NỘI DUNG
I. Thực trạng vấn đề
1. Thuận lợi:
2. Khó khăn:
3. Số liệu thống kê:
II. Nội dung, biện pháp
1. Nội dung
2. Biện pháp đổi mới.
III. Khả năng áp dụng
14
15
IV. Hiệu quả thực hiện
16
VI. Kiến nghị và đề xuất
hiện mục tiêu đào tạo của trường THCS. Nó có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ qua lại với
các môn học khác. Người giáo viên phải là người tổ chức ra những tình huống học tập có
tác dụng kích thích óc tò mò và tư duy của học sinh. Hình thành và phát triển ở các em
những kỹ năng giải quyết vấn đề, xúc tiến tự học để lĩnh hội tri thức thông qua thí nghiệm
và tư duy .
Đối với người giáo viên phải vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy và học như
thế nào để học sinh tiếp thu tri thức đó là một vấn đề đòi hỏi tính năng động và sáng tạo
của người giáo viên trong khâu chuẩn bị và tổ chức lớp , đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng
thực hành và tư duy nhiều hơn nữa để có thể tiếp thu được tri thức mới .
2. Mục đích nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao tính tích cực của học sinh trong dạy học vật lí 7
B. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do khuôn khổ của đề tài và thời gian nghiên cứu có hạn do đó ở đây tôi chỉ xin đề ra
một số giải pháp nâng cao tính tích cực nhằm vào đối tượng là học sinh lớp 7 trường
THCS Nà Tấu.
C . NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
I. Thực trạng vấn đề
Trong quá trình thực hiện đề tài tại trường THCS Nà Tấu tôi đã gặp những thuận lợi
và khó khăn sau:
1. Thuận lợi:
+ Nhà trường tạo điều kiện tham dự các lớp bồi dưỡng nâng cao, các chuyên đề của
trường và ngành tổ chức
+ Bản thân đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc dạy học Vật lí
+ Được sự hổ trợ của các đồng nghiệp, và đa số học sinh yêu thích môn học.
2. Khó khăn:
+ Đa số là học sinh dân tộc nên vốn tiếng Việt còn hạn chế, điều kiện học tập khó
khăn
+ Một số đồ dùng dạy học chất lượng chưa cao hoặc hỏng
Về mặt hoạt động nhận thức thì các phương pháp thực hành là “tích cực “ hơn các
phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan thì “ tích cực “ hơn các phương pháp
dùng lời. Người giáo viên trước hết phải xác định mục tiêu là học, hướng dẫn các hoạt
động của học sinh, huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm sống của học sinh để xây dựng
bài. Đối với học sinh thì phải tự hoạt động nghiên cứu vấn đề rồi tự đưa ra kết luận
2.2/ Những phương pháp và biện pháp cần thực hiện
a/ Vấn đáp xây dựng kiến thức :
Vấn đáp là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời,
hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội đựơc nội
dung bài học. Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng dẫn học sinh
từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu,
kích thích sự ham muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến kể cả tranh luận
giữa thầy với cả lớp và giữa trò với trò. Giáo viên là người tổ chức sự tìm tòi của học sinh
còn học sinh là người tự phát hiện kiến thức mới, như vậy học sinh mới có được niềm vui
của sự khám phá.
Không phải nội dung nào giáo viên cũng sử dụng phương pháp vấn đáp tìm tòi mà
căn cứ vào hoạt động nhận thức để sử dụng phương pháp vấn đáp cho phù hợp. Ví dụ khi
cần đặt mối liên hệ với kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc củng cố kiến thức vừa
học, giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời
dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Có những đề tài nào đó muốn làm sáng tỏ, giáo viên
nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ.
Phương pháp này không thể thiếu đối với tất cả các bài học.
Ví dụ 1 : Bài 3 : Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng
Sau khi học sinh tiến hành thí nghiệm 1 và thí nghiệm 2 để giải thích các hiện tượng
Nhật thực, Nguyệt thực, giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi:
Giáo viên
Học sinh
? Hãy trình bày sự chuyển động của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất Trái
nghe từ khoảng cách âm phát ra ít nhất
khoảng 1/15 giây
HS thảo luận và trả lời C3 , giáo viên hỏi
thêm:
? Tại sao khi nói chuyện rất to trong Trong phòng lớn âm dội lại từ tường đến
phòng lớn thì nghe được tiếng vang. tai ta có thể đến sau âm phát ra nên tai ta
Nhưng nói to như vậy trong phòng nhỏ lại nghe thấy tiếng vang. Trong phòng nhỏ
không nghe được tiếng vang?
âm dội lại từ tường đến tai gần như cùng
một lúc với âm phát ra nên không nghe
được tiếng vang.
Từ C7 , giáo viên phân tích trên H.14.4
? Nếu âm phát ra gặp đàn cá thì có phản Âm phát ra gặp đàn cá thì phản xạ trở lại
xạ lại không ?
Để biết được các vật dưới nước và biết
? Vậy ngoài việc sử dụng phản xạ âm để được chỗ nào có cá để thả lưới.
xác định độ sâu của biển, tàu đi biển còn
sử dụng tiếng vang với mục đích gì ?
Ví dụ 3 :Bài 19: Dòng điện _ Nguồn điện
Từ H.19.1, học sinh thảo luận và điền đầy đủ nhận xét để hình thành khái niệm dòng điện,
nguồn điện. Giáo viên cần đặt thêm những câu hỏi:
Giáo viên
Học sinh
? Hãy nêu dấu hiệu nhận biết có dòng Đèn bút thử điện sáng, quạt điện quay...
- Giải quyết vấn đề là đề xuất cách giải quyết, lập kế hoạch giải quyết, thực hiện kế
hoạch giải quyết
- Kết luận là thảo luận kết quả đánh giá ; khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
phát biểu kết luận ; đề xuất vấn đề mới.
- Trong dạy - học đặt và giải quyết vấn đề có thể phân biệt bốn mức:
Mức 1 : Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải
quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên . Giáo viên đánh giá kết quả làm vịêc của học
sinh.
Mức 2 : Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề. Học sinh
thực hiện với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.
Mức 3 : Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát hiện vấn đề
và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. Học sinh
thực hiện . Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.
Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh, lựa chọn vấn đề giải quyết. Sau đó tự
giải quyết, tự đánh giá có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc .
Đối với trường của chúng tôi là vùng sâu vùng xa, và hầu hết học sinh là con em dân
tộc nên chỉ có thể áp dụng mức 1 và 2 riêng mức 3 và 4 có thể áp dụng cho những học sinh
khá giỏi.
Để bắt đầu một bài học mới hoặc một vấn đề mới nhất định phải có đặt vấn đề để tạo
tình huống có vấn đề nhằm thu hút sự chú ý của học sinh.
Ví dụ 1 :Bài 5 : Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng.
Gv có thể đặt vấn đề như SGK: Tại sao bóng của cái tháp lại lộn ngược xuống nước?
Để giải quyết vấn đề trên, GV hướng dẫn học sinh nghiên cứu tính chất của ảnh tạo
bởi gương phẳng. Có 3 tính chất sau :
+ Ảnh ảo.
+ Ảnh lớn bằng vật.
+ Khoảng cách từ một điểm của vật đến gương phẳng bằng khoảng cách từ ảnh của
điểm đó đến gương.
bài học và giải quyết vấn đề đặt ra:
Vào những ngày thời tiết khô ráo, khi cởi áo khoác ngoài bằng len, dạ hay sợi tổng
hợp ta thường nghe thấy những tiếng lách tách nhỏ vì ở bề mặt ngoài của các sợi len,dạ
hay sợi tổng hợp có mang các hạt điện tích do bị cọ xát, các hạt điện tích này phóng điện
nên xuất hiện các tia chớp nhỏ lúc này không khí bị giản nở đột ngột nên gây ra những
tiếng nổ lách tách nhỏ
c/ Khai thác hết hoạt động của các thành viên trong nhóm:
Lớp học được chia thành 6 nhóm , mỗi nhóm có 5_6 học sinh . Nhóm tự bầu lấy
nhóm trưởng. Trong nhóm phân công mỗi người một phần việc:
Nhóm truởng là những em năng nổ, nhiệt tình học lực khá có nhiệm vụ nhận và
kiểm tra đồ dùng dạy học, sau mỗi tiết học hướng dẫn các thành viên còn lại trong nhóm
rửa dụng cụ (nếu cần ) và cất dụng cụ vào vị trí . Ngoài ra nhóm trưởng cón có nhiệm vụ
hướng dẫn các thành viên khác trong nhóm thảo luận trên giấy bút.
Các thành viên khác, mỗi người đều phải làm việc tích cực, không ỷ lại vào một
vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu
vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác trong lớp.
Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp .
Ví dụ: Khi tiến hành thí nghiệm thì trong nhóm phân công cụ thể:
+ 2 bạn bố trí và tiến hành thí nghiệm.
+1 bạn thư ký để ghi lại kết quả. Các bạn còn lại cùng quan sát thí nghiệm, thảo luận
và trao đổi đưa ra ý kiến chung nhất.
+Đại diện nhóm lên trình bày kết quả
d/ Tạo không khí sôi nổi trong lớp học:
Bầu không khí lớp học là yếu tố rất quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức của học
sinh và tâm lí dạy học của giáo viên. Do đó, người giáo viên cần phải có tính sáng tạo
trong khâu tổ chức sao cho lớp học sôi nổi, sinh động, nhịp nhàng giữa thầy và trò, học
sinh thu thập và xử lí thông tin trong không khí vui nhộn. Cụ thể : một số bài tập định
lượng hoặc một số thí nghiệm giáo viên có thể tổ chức dưới dạng trò chơi.
khoẻ và sự nghỉ ngơi của các nhà bên cạnh bằng cách vặn nhỏ đài và không nên nói
chuyện cười đùa lớn.
Phần 2: Biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn: Giáo viên cần liên hệ thực tế và giáo dục
học sinh phải biết trồng và bảo vệ cây xanh để làm sạch môi trường và làm giảm ô nhiễm
tiếng ồn, đồng thời vận động mọi người cùng tham gia trồng và bảo vệ cây xanh. Để
phương pháp dạy và học tích cực đạt hiệu quả, người giáo viên cần phải phối hợp linh hoạt
các phương pháp trong quá trình giảng dạy.
f/ Hướng dẫn về nhà:
Sau mỗi bài học giáo viên cần phải yêu cầu học sinh về nhà làm bài tập trong sách
bài tập để học sinh rèn luyện thêm và củng cố kiến thức, cần hướng dẫn học sinh đọc trước
bài học trong sách giáo khoa để có thể tìm hiểu trước những vấn đề mà bài học đưa ra, học
sinh có thể hiểu trước một bước dù là chưa chính xác. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên ở
trên lớp học sinh có thể hiểu sâu vấn đề hơn và khắc sâu kiến thức hơn
Đồng thời giáo viên nên chuẩn bị một bài tâp nâng cao cho học sinh khá giỏi về nhà
khám phá.
V í d ụ 1: Bài 1: Nhận biết ánh sáng _ nguồn sáng và vật sáng
Khi nhìn lên bảng học trong lớp, đôi lúc em thấy bảng bị chói và không đọc được
chữ. Em hãy tìm hiểu nguyên nhân từ đó đưa ra các phương pháp khắc phục.
V í d ụ 2: Bài 13: Môi trường truyền âm
Sau khi nhìn thấy tia chớp thì 5 giây sau mới nghe tiếng sấm. Nơi xảy ra sấm sét
cách nơi đứng bao xa. Xem ánh sang truyền đi tức thời.
Ví dụ 3: Bài 24: Cường độ dòng điện
Tại sao dưới kim đo của ampe kế, người ta đặt thêm một gương phẳng?
Trả lời:
Ví dụ 1: Đó là do bề mặt của bảng đã được sơn nhẵn bóng nên ánh sáng khi chiếu
đến bảng, hầu như hoàn toàn phản chiếu lại khiến mắt nhìn lên bảng bị chói. Để hạn chế
hiện tượng này, người ta dùng sơn hấp thụ ánh sáng, tức là nếu có ánh sáng chiếu vào mặt
bảng sẽ hấp thụ ánh sáng nhiều và phản xạ lại rất ít.
2./ Kiểm tra bài cũ
? Khi nào có tiếng vang? Lấy một vài ví dụ về vật phản xạ âm tốt và vật phản xạ
âm kém?
3./ Bài mới .
Trợ giúp của giáo viên
Hoạt động của HS
Hoạt động 1 :
Tổ chức tình huống học tập
- GV : Khi thầy nói trên bảng , các em có thể
- Môi trường không khí
nghe thấy tiếng nói của thầy , vậy âm đã truyền
đến tai các em qua môi trường nào ?
- Để phát hiện tiếng vó ngựa , hoặc kiểm tra xe
- Để nghe rõ hơn
lửa đến gần chưa thì người ta lại áp tai xuống đất
hoặc áp tai vào đường ray để nghe , tại sao người
ta lại làm như thế (tại sao không đứng?)
- ĐVĐ : Vậy âm truyền trong những môi trường
nào , khi truyền trong những môi trường khác
nhau thì có gì khác nhau?
Hoạt động 2 :
Sự truyền âm trong chất khí , rắn , lỏng
- Gọi HS đọc thí nghiệm 1
- HS nghiên cứu thí nghiệm 1 trong
- GV hướng dẫn HS cách bố trí và thực hiện thí SGK
nghiệm (chú ý không đặt hai trống quá xa mà
cũng không quá gần – chạm vào nhau)
- HS bố trí và thực hiện thí nghiệm
C4: Âm có thể truyền đến tai qua
những môi trường rắn, lỏng , khí
Hoạt động 3 :
Âm có thể truyền được trong chân không hay không ?
- Gọi 2 HS đọc thí nghiệm 4 trong SGK
HS đọc và nghiên cứu thí nghiệm
- (Nếu có điều kiện thì làm thí nghiệm cho HS 4 trong SGK
thấy)
HS trả lời C5
- Yêu cầu HS trả lời câu C5
- C5 : Âm không truyền qua chân
- GV có thể giải thích đơn giản cơ chế truyền không
âm như phần có thể em chưa biết .
- Từ 4 thí nghiệm vừa qua , các em hãy hoàn - Rắn , lỏng , khí – chân không
thành câu kết luận trong SGK
xa – nhỏ
Hoạt động 4 :
Bảng vận tốc truyền âm trong một số chất
- Trong các môi trường khác nhau thì âm truyền - HS đọc bảng vận tốc truyền âm
đi với các vận tốc khác nhau .
của một số chất ở 200C
- Vận tốc truyên âm phụ thuộc vào nhiều yếu tố - C6 :Vận tốc truyền âm trong
- Người ta đã đo vận tốc truyền âm của một số
nước nhỏ hơn trong thép và lớn
0
chất ở nhiệt độ 20 C
hơn trong không khí
s
khác trong nhà trường
Sau khi dạy học theo phương pháp này tôi đã rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Để phương pháp dạy và học tích cực có hiệu quả, trong quá trình giảng dạy cần chú
ý những điểm sau:
- Giáo viên phải hướng dẫn và yêu cầu học sinh không những học và làm bài cũ mà
còn nghiên cứu kỹ bài mới trước khi đến lớp. Học sinh phải nắm được mục đích của thí
nghiệm trước khi làm thi nghiệm và rút ra kết luận.
+ Trong hoạt động nhóm giáo viên cần nhắc nhở học sinh:
+ Chỉ có nhóm trưởng mới được phép lấy và cất đồ dùng day học để hạn chế tình
trạng hư hỏng dụng cụ và mất trật tự trong lớp học.
+ Thành viên khá giỏi trong nhóm phải có nhiệm vụ hướng dẫn các học sinh yếu
tham gia thảo luận.
+ Khi báo cáo kết quả, các thành viên trong nhóm lần lượt thay phiên nhau báo cáo
để tránh tình trạng học sinh nhúc nhát hoặc yếu kém tránh né.
+ Không nên lạm dụng các hoạt động nhóm nhiều, mỗi tiết học chỉ nên tổ chức
hoạt động nhóm đối với các thí nghiệm hoặc những câu hỏi khó và phức tạp. Vì tổ chức
học tập theo nhóm tại lớp học bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, ngoài ra còn
bị hạn chế thời gian của tiết học nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý mới có kết quả tốt.
+ Tạo không khí trong lớp học là một yếu tố rất quan trọng, nó đã góp phần không
nhỏ trong việc thực hiện giảng dạy.
IV. HIỆU QUẢ VÀ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC :
Qua khảo sát, kết quả giảng dạy của 100 HS cũng đã đạt kết quả cao hơn, cụ thể tôi
đã thu được kết quả sau khi áp dụng các phương pháp trên như sau
Trên trung bình: 74 hs đạt 74%
Dưới trung bình 26 hs đạt 26%
Khi vận dụng phương pháp tích cực vào giảng dạy, người học được cuốn hút vào
hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những
điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO
TÓM TẮT NỘI DUNG, BẢN CHẤT, HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến : Một số giải pháp nâng cao tính tích cực của học sinh trong dạy học
môn Vật lí 7
- Tên cá nhân thực hiện : Nguyễn Sơn Hà
- Thời gian đã được triển khai thực hiện : Từ ngày 10/9/2014 đến ngày 30/4/2015
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến :
1.1.Sự cần thiết :
Phát huy tính tích cực của học sinh đã là một trong các phương hướng cải cách của
ngành giáo dục nhằm đào tạo những con người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước. Tuy
nhiên, để để HS có tính tích cực trong học tập thì vẫn còn nhiều hạn chế cần có những giải
pháp để đề cao.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích để tìm ra một số giải pháp nâng cao tính tích cực của học sinh trong dạy
học vật lí 7 ở trường THCS Nà Tấu.
2. Phạm vi triển khai thực hiện
Khảo sát tính tích cực học tập trên 100 HS lớp 7 ở trường THCS Nà Tấu trước và
sau khi áp dụng các giải pháp
3. Mô tả sáng kiến
- Nâng cao tính tích cực trong vấn đáp xây dựng kiến thức :
- Nâng cao tính tích cực trong đặt và giải quyết vấn đề
- Nâng cao tính tích cực trong khai thác hết hoạt động của các thành viên trong
nhóm
- Bằng cách tạo không khí sôi nổi trong lớp học:
- Thường xuyên liên hệ thực tế đồng thời giáo dục học sinh: