Đồ án đánh giá tiềm năng từ mô hình xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm ủ biogas quy mô hộ gia đình ở tỉnh an giang - Pdf 38

ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Văn

CH Ư Ơ N G M Ở ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chăn nuôi là ngành cung cấp lượng protein động vật chủ yếu trong bữa ăn
hàng ngày của mỗi gia đình. Đó là hình thức đang được phát triển rộng rãi nhất là
ở nông thôn, khi mà người dân có thể tận dụng diện tích đất trống quanh nhà cũng
như nguồn thức ăn tự nhiên phong phú để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Hiện
nay, hình thức chăn nuôi truyền thống như chuồng trại nằm bên cạnh nhà ở, thậm
chí ở một số nơi người ta nuôi súc vật trong nhà, hay thải chất bẩn trực tiếp ra sông
không những gây mùi hôi khó chịu, làm mất vẻ mỹ quan môi trường, làm ô nhiễm
những dòng sông, kênh rạch. Phân và nước thải từ các hộ chăn nuôi thải ra chưa
qua xử lý trở thành mối nguy trực tiếp tới sức khoẻ con người và cả vật nuôi, cũng
là môi trường lý tưởng cho ruồi nhặng phát triển. Mật độ ruồi nhặng cao chẳng
những gây ra những bất tiện trong sinh hoạt, chúng còn là những ký chủ trung gian
truyền nhiều bệnh truyền nhiễm hết sức nguy hiểm cho con người và vật nuôi. Bên
cạnh đó, mùi hôi thối của phân gia cầm, gia súc cũng là mối phiền toái đáng kể
không những cho chính hộ chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến các hộ dân sống gần
khu vực chăn nuôi. Nhiều nhả khoa học cho biết, mùi hôi thối của phân có thể làm
ảnh hưởng sức khoẻ, tâm trạng hay căng thẳng, giận dữ, suy nhược, mệt mỏi,
nhầm lẫn và có liên quan tới nhiều triệu chứng bệnh ở người như chảy nước mắt,
đau xoang mũi, ngạt mũi, đau họng, khó thở, viêm da, ngứa, đau khớp...
Trước thực trạng đó, để ngành chăn nuôi phát triển hiệu quả và bền vững, đòi
hỏi phải có các biện pháp xử lý hữu hiệu. Thực tế, có rất nhiều dự án nghiên cứu
của nhiều tổ chức, cá nhân về việc giải quyết chất thải từ hoạt động chăn nuôi để
giảm nguy cơ ô nhiễm cũng như tận dụng lại chất thải chăn nuôi làm nguồn
nguyên liệu phục vụ cho hoạt động nông nghiệp khác. Trong đó, việc tận dụng
chất thải chăn nuôi để tạo ra biogas là một giải pháp hiệu quả nhất không những
giảm được nguy cơ ô nhiễm, giải quyết được bài toán năng lượng phục cho sinh

- Thu thập số liệu về số lượng chất thải chăn nuôi và các hình thức sử dụng chất
thải chăn nuôi của các hộ gia đình hiện nay.
- Thu thập số liệu về các loại năng lượng đang được các hộ gia đình sử dụng.
- Khảo sát tình hình sử dụng các công trình biogas hiện có.
- Đề xuất các giải pháp xây dựng mô hình hầm ủ biogas cũng như cải tiến thực
trạng sử dụng hầm ủ hiện có tại tỉnh An Giang.
5. GIỚI HẠN CỦA ĐÈ TÀI
Quá trình thực hiện đề tài có một số giới hạn sau:

SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 2


ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Văn

- Địa bàn khảo sát: Tập trung khảo sát 1 thành phố và 2 huyện trên tổng số
1 thành phố, 2 thị xã: Châu Đốc, Tân Châu và 8 huyện: Thoại Sơn, Chợ Mới, Châu
Thành, Châu Phú, An Phú, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn của tỉnh An Giang.
- Thời gian nghiên cứu từ 01 tháng 04 đến 01 tháng 07 năm 2011.
6. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI
6.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Thu thập tài liệu tổng quan về chất thải chăn nuôi, về điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội tinh An Giang.
6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Lập phiếu điều tra, khảo sát thực tế nhằm thu thập số liệu về tình hình chăn
nuôi, các hình thức tái sử dụng chất thải chăn nuôi ở các hộ gia đình. Tham khảo ý

của vật nuôi, vật liệu lót chuồng và các chất thải khác, độ ẩm từ 50% - 83% và
tỷ lệ NPK cao.
Chất thải lỏng ( nước thải) có độ ẩm cao hơn, trung bình khoảng 93%98% gồm phần lớn là nước thải của vật nuôi, nước rửa chuồng và phần phân
lỏng hòa tan.
Chất thải khí là các loại khí sinh ra trong quá trình chăn nuôi, quá trình
phân hủy của các chất hữu cơ- ở dạng rắn và lỏng.
1.1.3 Phân loại chất thải chăn nuôi
1.1.3.1 Chất thải rắn
Phân và nước tiểu gia súc
Lượng phân và nước tiểu gia súc thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào
giống, loài, tuổi, khẩu phần thức ăn, trọng lượng gia súc. Theo Nguyễn Thị Hoa
Lý ( 1994), lượng phân và nước tiểu gia súc thải ra trong ngày đêm trung bình
như sau:

SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 4


ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Văn

Bảng 1.1: Số lượng chất thải của một sổ loài gia súc gia cầm

Loài gia súc, gia cầm

Lượng



Gia cầm

0,08

Nguồn: Nguyễn Thị Hoa Lý (1994) ĐHNL TPHCM, trích Phạm Trung Thủy
(2002) .

Phân heo nói chung được xếp vào loại phân lỏng hoặc hơi lỏng, thành phần
phân heo chủ yếu gồm nước (56- 83%) và các chất hữu cơ, ngoài ra còn có tỉ lệ
NPK dưới dạng các hợp chất vô cơ.
Theo Trương Thanh Cảnh và CTV (1997- 1998) thì thành phần của phân
heo từ 70- 100 kg như sau:
Bảng 1.2: Thành phần của phân heo từ 70 -100 kg
Đặc tính

Đon vị tính

Giá trị

Vật chất khô

gram/kg

213 - 342

NH4 - N (Ammonia- Nitơ)

gram/kg


3,83 - 4,47
6,47 - 6,95

pH

Nguồn: Trương Thanh Cảnh và CTV (1997- 1998), trích Phạm Trung Thủy
(

SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

2002).

Trang 5


ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Văn

Thành phần hóa học của phân phụ thuộc nhiều vào dinh dưỡng, tình trạng
sức khỏe, cách nuôi dưỡng, chuồng ừại, loại gia súc, gia cầm, biện pháp kỹ
thuật chế biến khác nhau.
Bảng 1.3: Thành phần nguyền tố đa lượng trong phân gia súc, gia cầm
Loại gia súc

h 2o

(%)



82

0,6

0,6

0,2



50

1,6

0,2

0,2

Nguồn: Giáo trình phân bón hữu cơ, Khoa Nông Học- Trường ĐHNL TPHCM,
trích Nguyễn Chí Minh (2002).
Thảnh phần nguyên tố vi lượng này thay đổi phụ thuộc vào lượng thức ăn
và loại thức ăn Bo = 5-7 ppm, Mn= 30 -75 ppm, Co= 0,2 -0,5 ppm, Cu= 48ppm, Zn =20-45ppm, Mo= 0,8 -1 ppm.
Thành phần (% ) của phân gia súc gia cầm đựơc trình bày theo bảng sau:
Bảng 1.4: Thành phần các loại phân gia súc, gia cầm
Loại

Nước

Nitơ


1,00

0,35

0,13

Ngựa

75,7

0,44

0,35

0,35

0,15

0,12



56,0

1,63

0,54

0,85


ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Văn

Thành phần dinh dưỡng của phân heo được trình bày trong bảng 1.5
Bảng 1.5: Thành phần hóa học của phân heo
Chỉ số

Hàm lượng

N itơ tổng số (%)

4

p20 5

1,76

k 20

1,37

Ca2 + (mldl/lOOg)

8,47

Mg2+ (mldl/lOOg)

84,9


Trang 7


ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Văn

Bảng 1.6: Thành phần hóa học của nước tiểu heo từ 70 - lOOkg
Đặc tính

Đon vị tính

Giá trị

Vật chất khô

gram/kg

30,9 - 35,9

n h 4- n

gram/kg

0,13 - 0,40

Nt

gram/kg

hại cho sức khỏe con người và vật nuôi. Theo quan trắc và kiểm soát ô nhiễm
môi trường nước của Tiến sĩ Lê Trình đã thống kê các loại vi trùng gây bệnh
trong phân gia súc gia cầm.
Bảng 1.7: Các loại vỉ khuẩn có trong phân
Điều kiện bị bệnh
Tên ký sinh vật

Lượng ký

Khả năng

sinh trùng

gây bệnh

T° (°C)

T. gian
(phút)

Salmonella typhi

-

Thương hàn

55

30


Escherichia coli

Tả

55

60

Viêm dạ

55

60

-

105/ 100ml

dày, ruột
Hepatite A

-

Viêm gan

55

3 -5

Taenia saginata


60

Mycobacterium

-

Lao

60

20

Tubecudsis

-

Bạch hầu

55

45

Diptheriac

-

Sỏi

45


30

Streptococcus

102/ 100ml

Ascaris
lumbricoides

m

Nguồn: Lê Trình. Trích Phạm Trung Thủy (2002)
'ỉ*Xác súc vật chết
Xác súc vật chết do bệnh là nguồn ô nhiễm chính cần phải xử lý triệt để
nhằm tránh lây lan cho người và vật nuôi.
***Thức ăn dư thừa, vật liệu lót chuồng và các chất thải
Loại chất thải này có thành phần đa dạng gồm: cám, bột ngũ cốc, bột tôm,
bột cá, bột thịt, các khoáng chất bổ sung, các loại kháng sinh, rau xanh, rơm
rạ,.. .Vì vậy nếu không được xử lý tốt hoặc xử lý không đúng phương pháp thì
nó sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng
xung quanh và tác hại trực tiếp đến cơ sở chăn nuôi.
SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 9


ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP


SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 10


ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Văn

Khí NH3 và H2S được hình thành chủ yếu trong quá trình thối rửa của phân
do các vi sinh vật gây thối, ngoài ra NH3 còn được hình thành từ sự phân giải
urê của nước tiểu.
Theo Tô Minh Châu thì cơ chất của quá trình thối rửa là protein trong phân,
để phân giải được protein thì các vi sinh vật phải tiết ra men protease ngoại bào,
phân giải được protein thành các polypeptide, olygopeptid. Các chất này tiếp tục
được phân giải thành các acid amin, một phần acid amin được vi sinh vật sử
dụng trong quá trình sinh tổng hợp protein của chúng, một phần khác được tiếp
tục phân giải theo những con đường khác nhau. Thường là khử amin, khử
carboxyl hoặc khử amin và carboxyl.
Qua quá trình này ngoài NH3 và H2S còn có một số khí trung gian được hình
thành cũng góp phần vào việc tạo mùi hôi cho chuồng nuôi.
* Qua quá trình khử Amỉn: Nhóm - NH2 của acid amin được tách ra để hình
thành NH3 ( kể từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 21 thì lượng khí này được sản sinh ra
rất nhiều)
Alanine

—>

acid lactic + NH3


GVHD: Th.s Trần Thị Tường Văn

• Giai đoạn 1: Các chất hữu cơ phân hủy thành các axit hữu cơ, C 02, H2 và các
sản phẩm khoáng hóa khác dưới tác dụng của enzym cellulosase:
CxHyOz —> các axit hữu cơ, C 02, H2
• Giai đoạn 2: Các axit hữu cơ, C 02, H2 tiếp tục bị tác động bởi các vi khuẩn
metan:
C 02 + 4H2 -► CH4 + 2H20
CO + 3H2 -► CH4 + H20
4CO + 2H2 -► CH4 + 3C02
4HCOOH

-► CH4 + 3C02 + 3H20

4CH3OH

-> 3CH4 + 2H20 + C 02

CH3COOH -► CH4 + H20
1.1.4 Khả năng gây ô nhiễm của chất thải chăn nuôi
1.1.4.1. Ô nhiễm không khỉ
Trong chất thải chăn nuôi luôn tồn tại một lượng lớn vi sinh vật hoại
sinh. Nguồn gốc thức ăn của chúng là các chất hữu cơ. Vi sinh vật hiếu khí sử
dụng oxy hòa tan phân hủy các chất hữu cơ tạo ra những sản phẩm vô cơ: N 0 2,
N 0 3, SO3, C 02 quá trình này xảy ra nhanh không tạo mùi thối. Nếu lượng chất
hữu cơ có quá nhiều vi sinh vật hiếu khí sẽ sử dụng hết lượng oxy hòa tan trong
nước làm khả năng hoạt động phân hủy của chúng kém, gia tăng quá trình phân
hủy yếm khí tạo ra các sản phẩm CH4, H2S, NH3, H2, Indol, Scortol... tạo mùi
hôi nước có màu đen có váng, là nguyên nhân làm gia tăng bệnh đường hô hấp,


Hàm lượng bụi (mg/m3)

Heo

3 -2 2

Bò sữa

0,6

Gà đẻ (nuôi chuồng)

1- 51

Gà thịt (nuôi chuồng)

6,2

Nguồn: Hồ Thị Kim Hoa (2003)
*Ammonia (NH3)
Sinh ra từ sự khử amine của protein trong chất thải, là chất không màu, mùi
khai, dễ tan trong nước và gây kích ứng, NH3 nhẹ hơn không khí (d = 0,59). Nếu
chuồng trại thông thoáng tốt thì ảnh hưởng của nó không đáng kể. NH3 tiếp xúc
với niêm mạc mắt, mũi, đường hô hấp sẽ gây tiết dịch, co thắt khí quản và ho.
Trường hợp NH3 trong không khí cao kéo dài có thể gây viêm phổi, gây hoại tử
đường hô hấp. NH3 từ phổi vào máu đi lên não gây nhức đầu và có thể dẫn đến hôn
mê. Trong máu NH3 bị oxy hóa tạo thành N 0 2 gây nên hiện tượng Met - Hb.
Nồng độ NH3 trong không khí chuồng nuôi không nên vượt quá 25 - 35 ppm.
Trên heo NH3 có thể làm chậm sự dậy thì và động hớn trên heo nái dự bị. NH3


Tác hại

Nồng độ > 10 ppm

Gia tăng tỷ lệ gia súc bị ho

5 0 -1 0 0 ppm

Giảm tăng trọng/ngày: 12 - 13%

61 ppm

Giảm 5% lượng thức ăn

> 30 ppm

Giảm sản lượng trứng và thịt

30 ppm

Gây hội chứng bệnh viêm phổi


Nguồn: Hồ Thị Kim Hoa (2003)
* Hydrogen Sulphide (H2S)
H2S là một loại khí rất độc được sinh ra từ sự phân hủy phân gia súc, là sản
phẩm hợp chất chứa lưu huỳnh, nặng hơn không khí (d = 1,19) dễ hòa tan trong
nước, chỉ một lượng nhỏ cũng có thể gây tử vong. Nồng độ H2S trong chuồng nuôi
không nên vượt quá 8 - 1 0 ppm. H2S có thể thấm vào niêm mạc tạo thành Na2S dễ

Ho

67%

Đàm

56%

Đau họng

54%

Chảy mũi

45%

Đau mắt (xốn mắt, chảy nước mắt)

39%

Nhức đầu

37%

Tức ngực

36%

Thở ngắn


Mùi rất khó chịu

0,00005

Ammonia

Mùi khai

0,037

Benzyl mercaptan

Mùi khó chịu

0,00019

Crotyl

Mùi chồn hôi

0,000029

Ethyl

Mùi bắp cải thối

0,00019

Ethyl Sulphide


Mùi cay hăng

0,009

Thiocrezol

Mùi khét, mùi chồn hôi

0,0001

Nguồn: Sullỉval (1969). Trích dẫn Nguyễn Chỉ Minh (2002).

SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 16


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Vân

Bảng 1.12: Nồng độ NH3 và H2S cho phép
Chỉ tiêu

H2S

nh3

Khu dân cư

Bên cạnh đó việc sử dụng quá nhiều kháng sinh, chất diệt trùng, chất
kích thích sinh trưởng sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống của người và gia súc.

SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 17


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Vân

1.1.4.3. Ô nhiễm nguồn nước
Khi lượng chất thải chăn nuôi không được xử lý đúng cách thải vào môi
trường quá lớn làm gia tăng hàm lượng chất hữu cơ, vô cơ trong nước, làm
giảm quá mức lượng oxy hòa tan, làm giảm chất lượng nước mặt ảnh hưởng
đến hệ vi sinh vật nước, là nguyên nhân tạo nên dòng nước chết (nước đen, hôi
thối, sinh vật không thể tồn tại) ảnh hưởng đến sức khỏe con người, động vật
và môi trường sinh thái. Hai chất dinh dưỡng trong nước thải dễ gây nên vấn đề
ô nhiễm nguồn nước đó là nitơ (nhất là ở dạng niừat) và photpho.
Trong nước thải chăn nuôi chứa một lượng lớn vi sinh vật gây bệnh và
trứng ký sinh trùng. Thời gian tồn tại của chúng trong nước thải khá lâu. Theo
các số liệu nghiên cứu cho thấy: Erysipelothrise insidiosa 92 - 157 ngày,
Brucella 105 - 171 ngày, Mycobacterium 475 ngày, virus lở mồm long móng
190 ngày, Leptospira 21 ngày, trứng ký sinh trùng đường ruột 1 2 - 1 5 tháng
đây là nguồn truyền bệnh dịch rất nguy hiểm.
So với nước bề mặt, nước ngầm ít bị ô nhiễm hơn. Tuy nhiên với quy
mô chăn nuôi ngày càng tập trung, lượng chất thải ngày một nhiều, phạm vi
bảo vệ không đảm bảo thì lượng chất thải chăn nuôi thấm nhập qua đất đi vào

Việc thu gom vận chuyển chất thải có thể dùng nước bơm xịt trôi theo
đường cống thoát. Hay dùng thùng chứa (phân lỏng) hoặc có thể dùng sọt, bao,
thùng xe để vận chuyển phân rắn.
Nơi lưu trữ phân phải là hố chứa, bể lắng, thùng đựng được đậy kín hay
bao kín để xử lý chuyên biệt, nơi lưu trữ phân phải cách biệt với chuồng trại
chăn nuôi để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe gia súc.
Việc xử lý chất thải chăn nuôi chấp nhận được trong điều kiện chăn nuôi
tự phát như hiện nay do khoảng không gian giữa khu chăn nuôi và khu dân cư
càng bị thu hẹp thì một hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi phải được thiết kế
đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và phải có thiết bị sử dụng phế thải dạng rắn và lỏng ở
công đoạn cuối cùng sau khi được thải vào môi trường tùy theo điều kiện kinh
tế của từng cơ sở và các hộ chăn nuôi mà đưa vào áp dụng cụ thể như:
1.1.5.1 Sản xuất phân bón hữu cơ từ phân gia súc
Phương pháp sản xuất phân bón hữu cơ từ phân gia súc đã có từ rất lâu
đó là phương pháp ủ phân hiếu khí (composting). Phương pháp này được dựa
trên quá trình phân hủy các chất hữu cơ có từ trong phân dưới tác dụng của vi
sinh vật có trong thành phần của phân, tính chất và giá trị của phân bón phụ
thuộc vào quá trình ủ phân, phương pháp ủ và kiểu ủ.
*ủ phân hiếu khí (Composting)
Nhằm xử lý nguồn chất thải rắn trong chăn nuôi, có thể áp dụng trong
chăn nuôi công nghiệp với số lượng chất thải lớn. Trong khi ủ phân có rất
SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 19


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Vân

MSSV: 107108060

Trang 20


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Vân

Trong quá trình ủ phân không nên dùng tro bếp trộn với phân chuồng vì
có thể tạo ra các chất kiềm mạnh.
CaO, K20 + H20 -> Ca(OH)2, KOH
Nếu sử dụng phân này không đứng đối tượng sẽ làm ảnh hưởng đến sức
sinh trưởng và sức sản xuất của cây trồng và làm biến đổi tính chất của đất theo
chiều hướng xấu.
Theo Nguyễn Quý Mùi (1997) phương pháp ủ hiếu khí có đặc điểm như
sau:
- Nguồn phân có ẩm độ vừa phải 56 - 83%
- Nguồn cung cấp carbon làm tăng tỷ lệ C/N khoảng 25/1. Điều này thúc
đẩy quá trình phân hủy và tránh thất thoát nguồn đạm do làm giảm các hợp
chất khí chứa Nitơ.
- Dụng cụ chứa phân ủ phải đảm bảo sự hiếu khí cho toàn bộ khối phân.
- Chất mới: Thông thường sự phân hủy hoàn toàn xảy ra khoảng 40 - 60
ngày, để tăng hiệu quả ủ phân và rút ngắn thời gian người ta có thể bổ sung các
chất hữu cơ để tăng hoạt động của các vi sinh vật hoặc bổ sung trực tiếp các vi
sinh vật khi ủ phân, thời gian ủ phân có thể rút ngắn còn 20 - 40 ngày.
ủ phân kích thích các vi sinh vật hoạt động làm nhiệt độ tăng đáng kể
khoảng 45 - 70°c sau 4 - 5 ngày đầu vào lúc này pH acid khoảng 4 - 4,5. Với
nhiệt độ và pH này các vi sinh vật gây bệnh hầu hết kém chịu nhiệt dễ dàng bị
tiêu diệt, ngoài ra trứng ký sinh trùng, hạt cỏ dại cũng bị phá hủy, quá trình ủ

con.
Yêu cầu vận hành: Định kỳ lấy bùn lắng trong các bể (2 - 3 lần/tháng)
sử dụng làm phân bón.
1.1.5.3 Hồ sinh học
Từ những năm 50, ở các nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan,
Philippine, Mỹ đã nghiên cứu và ứng dụng hồ sinh học trong việc xử lý nước
thải sinh hoạt và cả nước thải công nghiệp. Ở Việt Nam nhiều nông hộ đã áp
dụng mô hình kinh tế VACB (vườn, ao, chuồng, khí sinh học) sản phẩm thu
được làm thức ăn cho người và gia súc.
Các quá trình diễn ra ừong hồ sinh học tương tự như quá trình tự rửa
sạch ở sông hồ nhưng tốc độ nhanh hơn và hiệu quả hơn. Trong hồ có nhiều
loại thực vật nước, tảo, vi sinh vật, phiêu sinh vật, nấm... sinh sống và phát
triển hấp thụ các chất ô nhiễm quần thể động thực vật này đóng vai trò quan
trọng trong quá trình vô cơ hoá các họp chất hữu cơ của nước thải. Trước tiên
vi sinh vật công phá các chất hữu cơ phức tạp thành các chất hữu cơ đơn giản
và vô cơ. Tảo, thực vật sử dụng các chất vô cơ làm nguồn dinh dưỡng, đồng
thời quá trình quang họp chúng lại giải phóng ra oxy cung cấp cho các phiêu
SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 22


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Vân

sinh vật và vi sinh vật, tảo oxy hoà tan cung cấp cho vi khuẩn hoại sinh tăng
phân hủy vật chất hữu cơ, tảo, phiêu sinh làm thức ăn cho cá, cá bơi lội khuấy
trộn nước có tác dụng tăng sự tiếp xúc của oxy như một tác nhân xúc tác thúc


Tên sản phẩm

1

Deodorase

2

Desarsaponi 30 Chất trích từ cây Giảm khả năng sinh Hoa Kỳ

phẩm

Tác dụng

Xuất xứ

Chất trích từ cây Giảm khả năng sinh Thái
Yucca

SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

nh3

Đức

Trang 23

Lan,

Tăng hấp thu thức ăn,

5

Kemzym

Enzym tiêu hoá

giảm bài tiết dưỡng
chất

6

7

8

Pyrogreen

Yeasac

Lavedoe

Hoá sinh tự nhiên

Tế

bào

men


Thái

Hoá chất
management

chất thải giảm thiểu Việt Nam
mùi hôi, ruồi nhặng

Nguồn: Bùi Xuân An và CTV (2000).
1.1.5.6 X ử lý bằng hệ thống Biogas
Nhằm xử lý tốt nguồn nước thải trong chăn nuôi, cung cấp nước tưới
sạch và phân bón tốt cho hồng trọt bên cạnh đó tận dụng nguồn khí metan làm
khí đốt cho gia đình, góp phần nâng cao kinh tế cho nhà nông.
1.1.6. ứng dụng của chất thải chăn nuôi hiện nay
1.1.6.1 Sản xuất phân bón hữu cơ từ phân gia súc

SVTH: Trần Thị Hồng Nhung
MSSV: 107108060

Trang 24


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

GVHD: Th.s Trần Thị Tường Vân

Phân của các loại vật nuôi là chất hữu cơ, nếu bón trực tiếp cho cây thì cây rất
khó hấp thụ, bên cạnh đó phân còn mang nhiều loại mầm bệnh truyền nhiễm. .
Nếu phân được ủ thì các chất hữu cơ sẽ chuyển sang dạng vô cơ khi đó phân sẽ

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status